Khác biệt giữa các bản “Cơ học lượng tử”

Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
không có tóm lược sửa đổi
Sau khi thực hiện phép đo, nếu nhận được kết quả <math>\lambda</math>, thì trạng thái lượng tử được cho là [[suy sập hàm sóng|suy sập]] thành <math> \vec\lambda</math> trong trường hợp không suy biến, hoặc thành <math>P_\lambda\psi/\sqrt{\langle \psi,P_\lambda\psi\rangle}</math> trong trường hợp tổng quát. Bản chất [[xác suất]] của cơ học lượng tử do vậy có nguồn gốc từ tác động của phép đo. Đây là một trong những khía cạnh khó hiểu nhất của cơ học lượng tử. Nó là chủ đề trung tâm trong cuộc [[tranh luận Bohr–Einstein]] nổi tiếng, khi hai nhà vật lý học cố gắng hiểu rõ những nguyên lý cơ bản này bằng các [[thí nghiệm tưởng tượng]]. Trong hàng thập kỷ kể từ khi hình thành cơ học lượng tử, câu hỏi về cái gì tạo lên một "phép đo" đã được nghiên cứu rộng rãi. [[Giải thích cơ học lượng tử|Các giải thích mới về cơ học lượng tử]] đã được đưa ra theo cách khác so với quan điểm "suy sập hàm sóng" (ví dụ như cách [[Diễn giải nhiều thế giới|giải thích đa thế giới]]). Ý tưởng cơ bản đó là khi một hệ lượng tử tương tác với một thiết bị đo, hàm sóng tương ứng của nó trở lên [[rối lượng tử|vướng víu]] do đó hệ lượng tử ban đầu mất đi sự tồn tại như là một thực thể độc lập. Về chi tiết, xem bài viết về [[phép đo trong cơ học lượng tử]].<ref name="google215">{{cite book|title=The Quantum Challenge: Modern Research on the Foundations of Quantum Mechanics|edition=2nd|first1=George|last1=Greenstein|first2=Arthur|last2=Zajonc|publisher=Jones and Bartlett Publishers, Inc|year=2006|isbn=978-0-7637-2470-2|page=215|url=https://books.google.com/books?id=5t0tm0FB1CsC&pg=PA215}}, [https://books.google.com/books?id=5t0tm0FB1CsC&pg=PA215 Chapter 8, p. 215]</ref>
 
Sự tiến triển theo thời gian của một hệ lượng tử được miêu bằng [[phương trình Schrödinger]]:
:<math>i\hbar {\frac {d}{dt}} \psi (t) =H \psi (t). </math>
Ở đây <math>H</math> là [[toán tử Hamilton (cơ học lượng tử)|toán tử Hamilton]], đại lượng quan sát được tương ứng với [[năng lượng|tổng năng lượng]] của hệ, và <math>\hbar</math> là [[hằng số Planck]] thu gọn. Hằng số <math>i\hbar</math> được đưa ra sao cho toán tử Hamilton trong cơ học lượng tử trở thành [[cơ học Hamilton|toán tử Hamilton cổ điển]] trong trường hợp hệ lượng tử có thể xấp xỉ bằng một hệ cổ điển; với khả năng có thể thực hiện được những phép xấp xỉ như thế trong một số giới hạn nhất định được gọi là [[nguyên lý tương ứng]].
 
Một hiệu ứng nữa là đệm lượng tử và khóa lượng tử. Để tạo được hiệu ứng này, chúng ta cần một [[Chất bán dẫn|vật liệu bán dẫn]] (hoặc siêu bán dẫn), một ít ni-tơ lỏng (nhiệt độ -196&nbsp;°C trong điều kiện áp suất khí quyển) và.
 
[[Tích vô hướng]] giữa hai vectơ trạng thái là một số phức được gọi là ''[[biên độ xác suất]]''. Trong một phép đo, xác suất mà một hệ suy sập từ một trạng thái ban đầu đã cho vào một trạng thái riêng đặc biệt nào đó bằng bình phương của [[giá trị tuyệt đối]] của biên độ xác suất giữa trạng thái đầu và cuối. Kết quả khả dĩ của phép đo là giá trị riêng của toán tử đều là các số thực (chính vì trị riêng phải là thực mà người ta phải chọn toán tử Hermit). Chúng ta có thể tìm thấy phân bố xác suất của một quan sát trong một trạng thái đã cho bằng việc xác định sự tách phổ của toán tử tương ứng. [[Nguyên lý bất định]] Heisenberg được biểu diễn bằng các toán tử tương ứng với các quan sát nhất định không [[giao hoán]] với nhau.

Bảng chọn điều hướng