Bước tới nội dung

Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Quân đội nhân dân Việt Nam”

Không có tóm lược sửa đổi
Trong thời kỳ 1961-1975, tài liệu Mỹ thường phân biệt 2 lực lượng: [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] (mà Mỹ gọi là "Việt Cộng") với Quân đội nhân dân Việt Nam (mà Mỹ gọi là "quân Bắc Việt Nam"). Nhưng thực ra, Quân Giải phóng miền Nam được hình thành từ một bộ phận du kích của Quân đội nhân dân Việt Nam<ref>[http://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/y-nghia-ten-goi-quan-doi-nhan-dan-viet-nam-qua-cac-thoi-ky-lich-su-440815 Ý nghĩa tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử], Báo Quân đội nhân dân, 20/12/2014</ref>. Sự phân biệt này của Mỹ xuất phát từ việc Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam về pháp lý có sự độc lập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng vẫn chịu sự lãnh đạo về Đảng của Đảng Lao động Việt Nam (do Hiệp định Genève không cấm), nhằm có vị thế hợp lý trên bàn đàm phán tại Paris. Sau năm 1975, khi đã "công khai" sự lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với Mặt trận Giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời và Quân Giải phóng trong suốt cuộc chiến, thì Quân giải phóng được xem là một phần Quân đội nhân dân Việt Nam như bản chất khi thành lập nó.
 
Cho đến năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đã có 1,24 triệu quân chủ lực và hàng triệu dân quân địa phương, đứng thứ 4 về tổng quân số trên thế giới, chỉ sau [[Liên Xô]], [[Hoa Kỳ]] và [[Trung Quốc]] <ref>https://www.google.com.au/books/edition/The_Vietnam_People_s_Army/ehG6AAAAIAAJ?hl=en&gbpv=0&bsq=Army%20of%20republic%20of%20vietnam%20largest</ref>. Năm 1977, Việt Nam chủ trương giảm số quân chủ lực xuống còn 85 vạn người (60 vạn quân thường trực chiến đấu, 25 vạn quân tham gia sản xuất kinh tế). Tuy nhiên, khi tình hình biên giới Tây Nam phức tạp, Việt Nam buộc phải chuyển các đơn vị kinh tế sang chiến đấu và tăng quân số lên trên 1 triệu người. Đồng thời hơn 5 vạn bộ đội được đưa sang Lào để đảm bảo sự ổn định tại Lào.
 
Ngày 23 tháng 12 năm 1978, Quân đội Việt Nam huy động 25 vạn quân chủ lực mở cuộc phản công trước cuộc tiến công của Quân đội [[Campuchia Dân chủ]] (Khmer Đỏ). Sau đó đã phối hợp với các lực lượng vũ trang Campuchia, đánh tan 21 sư đoàn quân [[Campuchia Dân chủ]], xoá bỏ chế độ diệt chủng.<ref name=":0" /> Ngày 17/2/1979, Trung Quốc đem 60 vạn quân đánh vào biên giới phía Bắc Việt Nam, cuộc chiến tranh chỉ kéo dài trong 30 ngày, nhưng sau đó 2 bên căng thẳng suốt 10 năm. Trong năm 1979-1980, Việt Nam phải duy trì quân số chủ lực đến trên 2 triệu người, đến năm 1983 giảm xuống còn 1,6 triệu người. Năm 1989, sau khi bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và rút quân khỏi Lào và Campuchia, quân đội Việt Nam giảm xuống còn khoảng 60 vạn người.