Đặng Mãnh Nữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đặng Mãnh Nữ
鄧猛女
Hán Hoàn Đế hoàng hậu
Hoàng hậu nhà Hán
Tại vị159 - 165
Tiền nhiệmÝ Hiến Lương hoàng hậu
Kế nhiệmHoàn Tư Đậu hoàng hậu
Thông tin chung
Phối ngẫuHán Hoàn Đế
Lưu Chí
Tước hiệu[Thải nữ; 采女]
[Quý nhân; 貴人]
[Hoàng hậu; 皇后]
[Thứ nhân; 庶人]
Thân phụĐặng Hương
Thân mẫuThị Tuyên
Sinh?
Mất165
Lạc Dương
An tángMang sơn (邙山), phía Bắc Lạc Dương

Đặng Mãnh Nữ (chữ Hán: 鄧猛女; ? - 165), còn gọi Đặng Mãnh (鄧猛)[1], là Hoàng hậu thứ hai của Hán Hoàn Đế Lưu Chí trong lịch sử Trung Quốc.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu Đặng Mãnh Nữ người Tân Dã, Nam Dương, xuất thân từ đại gia tộc Nam Dương Đặng thị, hậu duệ của Thái phó Cao Mật hầu Đặng Vũ - khai quốc công thần dời Hán Quang Vũ Đế[2].

Thời Hán An Đế, Hòa Hi Đặng hoàng hậu cùng Đặng Chất xuất thân từ gia tộc này làm ngoại thích, quyền khuynh thiên hạ, song sau đó cả hai lần lượt qua đời, gia tộc họ Đặng bị Hán An Đế nghị tội, bị biếm đi khắp vùng biên cương. Về sau họ Đặng được Hán Thuận Đế tiếc thương ban đặc xá, dòng họ Đặng dần dần quay về Lạc Dương.

Thân phụ là Đặng Hương (鄧香), một quan chức bậc trung trong triều đình, anh em họ với Hoà Hi Đặng hoàng hậu. Mẹ của bà là Tuyên (宣; không rõ họ, chỉ biết tên), sinh ra bà cùng một người anh tên Đặng Diễn (鄧縯). Đặng Hương qua đời sớm, Thị Tuyên tái hôn với Lương Kỷ (梁紀), cậu của bà Tôn Thọ (孫壽) - vợ của Đại tướng quân Thừa Thị hầu Lương Ký đang thao túng triều chính. Vì có cha dượng họ Lương, bà cũng đổi họ thành Lương, gọi là [Lương Mãnh Nữ; 梁猛女].

Đắc sủng lập Hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Trông thấy Mãnh Nữ xinh đẹp, Tôn Thọ đã nhận làm con nuôi và tiến cử cho Hán Hoàn Đế trong những năm Vĩnh Hưng. Ban đầu Mãnh Nữ vào Dịch đình, chỉ là một cung nhân vị hàm Thải nữ (采女), sau dần được Hoàn Đế sủng ái nên được ban ân hơn trước, dần tiến Quý nhân. Sau đó, Hán Hoàn Đế phong cho anh trai Đặng Diễn làm Nam Đốn hầu (南顿侯), ban vị Đặc tiến. Sau khi Diễn chết, con là Đặng Khang (鄧康) tập tước[3].

Năm Diên Hi thứ 2 (159), Hoàng hậu thứ nhất của Hán Hoàn Đế là Lương Nữ Oánh qua đời. Cùng năm đó tháng 8, Hán Hoàn Đế tru sát gia tộc họ Lương, Đại tướng quân Lương Ký bị giết. Đặng Mãnh Nữ được lập làm Hoàng hậu[4]. Hán Hoàn Đế chán ghét cái họ Lương, nên đổi gọi thành họ Bạc, lại phong mẹ của bà làm Trường An quân (長安君)[5].

Năm Diên Hi thứ 6 (163), quan viên thượng tấu Hoàn Đế rằng Hoàng hậu vốn là con gái của Đặng Hương, không nên cải họ. Hán Hoàn Đế lập tức sửa lại Hoàng hậu Mãnh Nữ làm họ Đặng như cũ, lại truy phong Đặng Hương làm Xa Kỵ tướng quân, ban tước An Dương hầu (安暘侯), mẹ Thị Tuyên được tiến thêm một bước phong, cải phong Côn Dương quân (昆暘君); cháu trai Đặng Khang thực ấp huyện lớn, cải thành Tỷ Dương hầu (沘暘侯), ban thưởng rất nhiều tiền tài. Không lâu sau, Thị Tuyên chết, ban cho ngự liễn dùng làm lễ an táng, y theo lễ tang dành cho mẫu thân của Hoàng hậu Đại Hán, em trai Khang là Đặng Thống (鄧統) kế thừa tước Côn Dương hầu (昆暘侯), làm đến Thị trung. Đường huynh của Đặng Thống là Đặng Hội (鄧會) kế thừa tước vị An Dương hầu cũ, đảm nhiệm chức Dũng sĩ Trung lang tướng (虎贲中郎将), lại phong em của Đặng Thống là Đặng Bỉnh (鄧秉) làm Dục Dương hầu (淯暘侯). Đặng thị tông tộc đều đảm nhiệm Giáo, Lang các chức quan cao cấp, dòng họ Đặng lại hưng vượng[6].

Bị phế và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian đầu Hán Hoàn Đế khá sủng ái Đặng hoàng hậu xinh đẹp. Tuy nhiên, Hoàn Đế không dành trọn tình cảm cho bà mà sủng ái nhiều phi tần khác như Điền Quý nhân (田贵人) và Quách Quý nhân (郭贵人). Đặng hậu trở nên kiêu ngạo và ghen tuông, luôn tìm cách hại các phi tần. Bà mâu thuẫn sâu sắc với Quách quý nhân, hai người thường xuyên gièm pha, vu cáo lẫn nhau trước mặt Hán Hoàn Đế[7].

Năm Diên Hi thứ 8 (165), Hán Hoàn Đế ngày càng không hợp với Đặng hậu nên quyết định phế truất và giam bà vào lãnh cung[8]. Đặng Mãnh Nữ qua đời không lâu sau đó, bị đem táng ở phía Bắc núi Mang Sơn. Họ hàng của Đặng hậu vốn được thăng chức khi bà trở thành Hoàng hậu nay lại bị đã được tước bỏ khỏi các vị trí của họ, và hai người chú bác Hà Nam doãn Đặng Vạn Thế (鄧萬世) và Dũng sĩ Trung lang tướng Đặng Hội đều hạ ngục mà chết. Đám người Đặng Thống cũng bị quan nhập bạo thất, bãi miễn quan tước, trục xuất hồi nguyên quán[9].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《后汉书·卷三十四·梁统列传第二十四》:初,掖庭人邓香妻宣生女猛,香卒,宣更适梁纪。
  2. ^ 《后汉书·卷十六·邓寇列传第六》:禹曾孙香之女为桓帝后
  3. ^ 《后汉书·卷十下·皇后纪第十下》:桓帝邓皇后讳猛女,和熹皇后从兄子邓香之女也。母宣,初适香,生后。改嫁梁纪,纪者,大将军梁冀妻孙寿之舅也。后少孤,随母为居,因冒姓梁氏。冀妻见后貌美,永兴中进入掖庭,为采女,绝幸。明年,封兄邓演为南顿侯,位特进。演卒,子康嗣。
  4. ^ 《后汉书·卷七·孝桓帝纪第七》:(七月)丙午,皇后梁氏崩。乙丑,葬懿献皇后于懿陵。大将军梁冀谋为乱。八月丁丑,帝御前殿,诏司隶校尉张彪将兵围冀第,收大将军印绶,冀与妻皆自杀。卫尉梁淑、河南尹梁胤、屯骑校尉梁让、越骑校尉梁忠、长大校尉梁戟等,及中外宗亲数十人,皆伏诛。太尉胡广坐免。司徒韩縯、司空孙朗下狱。壬午,立皇后邓氏,追废懿陵为贵人冢。
  5. ^ 《后汉书·卷十下·皇后纪第十下》:及懿献后崩,梁冀诛,立后为皇后。帝恶梁氏,改姓为薄,封后母宣为长安君。
  6. ^ 《后汉书·卷十下·皇后纪第十下》:四年,有司奏后本郎中邓香之女,不宜改易它姓,于是复为邓氏。追封赠香车骑将军安阳侯印绶,更封宣、康大县,宣为昆阳君,康为沘阳侯,赏赐巨万计。宣卒,赗赠葬礼,皆依后母旧仪。以康弟统袭封昆阳侯,位侍中;统从兄会袭安阳侯,为虎贲中郎将;又封统弟秉为淯阳侯。宗族皆列校、郎将。
  7. ^ 《后汉书·卷十下·皇后纪第十下》:帝多内幸,博采宫女至五六千人,及驱役从使,复兼倍于此。而后恃尊骄忌,与帝所幸郭贵人更相谮诉。
  8. ^ 《后汉书·卷七·孝桓帝纪第七》:癸亥,皇后邓氏废。
  9. ^ 《后汉书·卷十下·皇后纪第十下》:八年,诏废后,送暴室,以忧死。立七年。葬于北邙。从父河南尹万世及会皆下狱死。统筹亦系暴室,免官爵,归本郡,财物没入县官。