Đặng Thanh Liêm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
ĐẶNG THANH LIÊM
Tiểu sử
Sinh Tháng 12 năm 1925 (92 tuổi)
Bình Dương, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân đội VNCH
Năm tại ngũ 1946-1965
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Hiệu kỳ Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.png TTHL Quang Trung[1]
ARVN 5th Division SSI.svg Sư đoàn 5 Bộ binh
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Tổng cục Quân huấn[2]
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Thuộc địa Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến -Chiến tranh Đông Dương
-Chiến tranh Việt Nam

Đặng Thanh Liêm (1925), nguyên là một cựu tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân Viễn Đông được Quân đội Pháp mở ra ở Cao nguyên Trung phần, với mục đích đào tạo các thí sinh thuộc Đông Dương trở thành sĩ quan phục vụ cho Quân đội thuộc địa. Trong thời gian tại ngũ, ông đã giữ từ chức vụ nhỏ nhất là chỉ huy cấp Trung đội và cứ theo thứ tự đi lên, sau cùng ông giữ chức Tư lệnh đơn vị Bộ binh cấp Sư đoàn. Ngoài ra, ông còn được giao nhiệm vụ ở ngành Quân huấn, đào tạo nhân lực cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, ở tuổi 40 ông bị giải ngũ trước thời hạn.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 12 năm 1925 trong một gia đình điền chủ tại Thủ Dầu Một, Bình Dương, miền đông Nam phần Việt Nam. Thiếu thời ông học Tiểu học ở Thủ Dầu Một. Khi học lên trên, ông được gia đình cho về học Trung học theo giáo trình Pháp ở Sài Gòn. Năm 1944, ông tốt nghiệp Trung học Đệ nhất cấp với văn bằng Thành chung.

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa năm 1946, ông nhập ngũ vào Quân đội Thuộc địa Pháp, mang số quân: 45/105.603. Theo học khóa 1 Nguyễn Văn Thinh tại trường Võ bị Liên quân Viễn đông ở Đà Lạt, khai giảng ngày 15 tháng 7 năm 1946. Ngày 1 tháng 7 năm 1947 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy.[3] Ra trường, giữ chức vụ Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn Khinh binh Pháp, đồn trú tại Bắc phần. Đầu tháng 7 năm 1948, ông được thăng cấp Thiếu úy tại nhiệm. Sau đó chuyển sang Tiểu đoàn 17 Việt Nam trong Quân đội Liên hiệp Pháp, đồn trú tại Trà Vinh.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa năm 1950, sau khi chuyển sang phục vụ cho Quân đội Quốc gia mới thành lập, ông được thăng cấp Trung úy và được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 2 của Tiểu đoàn 17. Tháng Giêng năm 1952, ông được lên giữ chức Tiểu đoàn phó của Tiểu đoàn này.

Cuối tháng 7 năm 1954, sau Hiệp định Genève (20 tháng 7), ông được thăng cấp Đại úy và được bổ nhiệm chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 17 Việt Nam.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1957, sau 2 năm phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa,[4] ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại trường Fort Leavenworth thuộc Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ trong thời gian 6 tháng. Đến đầu năm 1960, ông được thăng cấp Trung tá giữ chức Tham mưu phó Quân huấn tại Bộ Tổng tham mưu.

Đầu tháng 11 năm 1963, sau cuộc đảo chính Chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11). Ngày 4 tháng 11 ông được thăng cấp Đại tá, và được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung thay thế Trung tướng Mai Hữu Xuân được cử giữ chức Đô trưởng Sài Gòn.

Đầu tháng 2 năm 1964, sau cuộc "Chỉnh lý nội bộ" do tướng Nguyễn Khánh cầm đầu, mục đích thanh lọc nhóm tướng lĩnh đang cầm quyền, ông được lệnh bàn giao Trung tâm Huấn luyện lại cho Trung tá Phạm Văn Liễu. Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu được cử làm Tham mưu trưởng Liên quân. Ngày 8 tháng 4, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Giữa năm, ông bàn giao Sư đoàn 5 lại cho Đại tá Cao Hảo Hớn, thuyên chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức phụ tá Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn. Tháng 10 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.

Giã từ binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1965, ông được giải ngũ trước niên hạn. Trở về đời sống dân sự, ông cùng gia đình sinh sống tại Sài Gòn.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4. không có tư liệu nào nói về ông, nên không rõ nơi định cư và tình trạng còn sống hay đã mất của ông.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung là hậu thân của Trung tâm Huấn luyện Quán Tre, rồi Trung tâm Huấn luyện số 1.
  2. ^ Tổng cục Quân huấn trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
  3. ^ Tốt nghiệp khóa Nguyễn Văn Thinh trường Võ bị Viễn Đông Đà Lạt, sau này lên tướng còn có:
    -Cấp Đại tướng:
    -Nguyễn Khánh (Sinh năm 1927 tại Trà Vinh. Chức vụ sau cùng: Quốc trưởng kiêm Thủ tướng 1964-1965)
    -Trần Thiện Khiêm (Sinh năm 1925 tại Sài Gòn. Chức vụ sau sùng: Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng 1969-1975)
    -Cấp Trung tướng:
    Dương Văn Đức (Sinh năm 1925 tại Gia Định. Chức vụ sau cùng: Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4 năm 1964)
    -Cao Hảo Hớn (Sinh năm 1926 tại Gia Định. Chức vụ sau cùng: Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng)
    -Lâm Văn Phát (Sinh năm 1920 tại Cần Thơ. Chức vụ sau cùng: Tư lệnh Biệt khu Thủ đô)
    -Trần Ngọc Tám (Sinh năm 1926 tại Mỹ Tho. Chức vụ sau cùng: Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Thái Lan)
    -Cấp Thiếu tướng:
    -Nguyễn Văn Kiểm (Sinh năm 1924 Vĩnh Long. Chức vụ sau cùng: Tham mưu trưởng Biệt bộ Phủ Tổng thống)
    -Dương Ngọc Lắm (Sinh năm 1924. Chức vụ sau cùng: Phụ tá Đặc biệt Thủ tướng)
    -Bùi Hữu Nhơn (Sinh năm 1928. Chức vụ sau cùng: Chủ tịch Ủy ban Điều hành Quốc tế Quân viện).
  4. ^ Năm 1955, sau khi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Ngô Đình Diệm cải danh Quân đội Quốc gia thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, mở đầu cho nền Đệ nhất Cộng hòa.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.