Địa hình Mặt Trăng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Topography of the Moon measured from the Lunar Orbiter Laser Altimeter on the mission Lunar Reconnaissance Orbiter, referenced to a sphere of radius 1737.4 km
Địa hình của Mặt trăng.

Địa hình của Mặt trăng đã được đo bằng các phương pháp đo độ cao bằng tia laser và phân tích hình ảnh âm thanh nổi, bao gồm cả dữ liệu thu được trong nhiệm vụ Clementine. Đặc điểm địa hình dễ thấy nhất là ở lưu vực Nam Cực - Aitken, nơi có độ cao thấp nhất của Mặt trăng. Độ cao cao nhất được tìm thấy ở khu vực phía đông bắc của lưu vực này, và có ý kiến cho rằng khu vực này có thể đại diện cho các mỏ ejecta dày xảy ra trong một sự kiện tác động của lưu vực Nam Cực - Aitken. Các lưu vực tác động lớn khác, chẳng hạn như các biển như Imbrium, Serenitatis, Crisium, Smythii và Orientale, cũng có độ cao thấp trong khu vực và có vành cao.

Một đặc điểm khác biệt của hình dạng Mặt trăng là độ cao trung bình khoảng 1,9 km, cao hơn ở phía xa so với phía gần của mặt trăng. Nếu người ta cho rằng lớp vỏtrạng thái cân bằng đẳng nhiệt và mật độ của lớp vỏ ở mọi nơi như nhau, thì độ cao cao hơn sẽ có mối liên kết với lớp vỏ dày hơn. Sử dụng trọng lực, địa hình và dữ liệu địa chấn, lớp vỏ được cho là dày trung bình khoảng 50 ± 15 km, với lớp vỏ phía xa trung bình dày hơn so với cạnh gần khoảng 15 km.[1]  

[ lỗi thời   nguồn ]

Mặt Trăng - Oceanus Procellarum ("Biển của Bão")
Các thung lũng tách giãn cổ đại - cấu trúc hình hộp (có thể nhìn thấy - địa hình - GRAIL) (ngày 1 tháng 10 năm 2014).
Thung lũng tách giãn cổ đại - bối cảnh.
Thung lũng tách giãn cổ đại - chụp gần (minh họa).
Mô hình STL 3D của Mặt trăng với cường độ cao 10× được hiển thị với dữ liệu từ Máy đo độ cao Laser Lunar Orbiter của Tàu quỹ đạo Trinh sát Mặt trăng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mark Wieczorek, M. A. và đồng nghiệp (2006). “The constitution and structure of the lunar interior”. Reviews in Mineralogy and Geochemistry 60: 221–364. Bibcode:2006RvMG...60..221W. doi:10.2138/rmg.2006.60.3.