Đồ họa raster

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hình khuôn mặt cười phóng to, định dạng RGB

Trong đồ họa máy tính, một ảnh đồ họa raster hay bitmap là một cấu trúc dữ liệu biểu diễn một lưới hình chữ nhật màu của các pixel(pel), có thể xem trực tiếp qua màn hình, giấy, hoặc các thiết bị hiển thị. Ảnh raster được lưu trong các tập tin ảnh bằng nhiều định dạng khác nhau (như gif, bmp, png,...)[1]

Ảnh bitmap, một single-bit raster[2], tương ứng với bit-for-bit với một hình ảnh hiển thị trên một màn hình, nói chung trong cùng một định dạng được sử dụng để lưu trữ trong bộ nhớ video của màn hình, hoặc có thể là một bitmap độc lập với thiết bị. Một hình ảnh raster là kỹ thuật được đặc trưng bởi chiều rộng và chiều cao của hình ảnh theo pixel và bằng số bit trên mỗi điểm ảnh (hoặc chiều sâu màu sắc, mà quyết định số lượng màu sắc nó có thể đại diện).[3]

Các ngành công nghiệp in ấnchế bản gọi đồ họa raster như contones (từ "continuous tones"). Trái ngược với contones là "line work", thường được triển khai như đồ họa vector trong các hệ thống kỹ thuật số.[4]

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Màn hình máy tính[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các máy tính hiện đại có màn hình bitmap, nơi mà mỗi điểm ảnh trên màn hình tương ứng trực tiếp đến một số lượng nhỏ các bit trong bộ nhớ.[5] Các màn hình được làm mới chỉ đơn giản bằng cách quét qua các pixel và tô màu chúng theo từng bộ các bit. Trong trường hợp khác, một đơn vị xử lý đồ họa được sử dụng để thay thế. Màn hình quét ban với đồ họa raster sớm nhất được phát minh vào những năm cuối thập niên 1960 bởi A. Michael Noll tại Bell Labs,[6] nhưng đơn xin cấp bằng sáng chế nộp từ ngày 5/2/1970 đã bị bỏ quên tại Toà án tối cao đến năm 1977.[7]

Lưu trữ hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các hình ảnh máy tính được lưu trữ trong các định dạng đồ họa raster hoặc các biến thể nén, bao gồm GIF, JPEG, và PNG, và phổ biến trên World Wide Web.

Đồ họa raster ba chiều voxel được sử dụng trong các trò chơi video và cũng được sử dụng trong chẩn đoán hình ảnh như máy quét MRI.[8]

Hệ thống thông tin địa lý (GIS)[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình GIS thường được sử dụng rasters mã hoá dữ liệu địa lý trong các giá trị điểm ảnh cũng như các địa điểm pixel.

Độ phân giải[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ họa Raster có độ phân giải phụ thuộc, nghĩa là chúng không thể phóng lên tới một độ phân giải tùy ý mà không làm giảm chất lượng rõ ràng. Thuộc tính này trái ngược với khả năng của đồ họa vector, vốn cho phép thu phóng lên bất kỳ kích cỡ nào. Đồ họa Raster xử lý tốt hơn đồ họa vector với những ảnh chụp và ảnh thực tế, trong khi đồ họa vector thường phục vụ tốt hơn cho sắp chữ hoặc cho thiết kế đồ họa. máy tính màn hình hiện đại thường hiển thị khoảng 72-130 điểm ảnh trên mỗi inch (PPI), và một số máy in của người tiêu dùng hiện đại có thể giải quyết 2.400 dots per inch (DPI) hoặc cao hơn; xác định độ phân giải hình ảnh thích hợp nhất cho một máy in có độ phân giải cố định có thể gây ra những khó khăn, kể từ khi sản lượng in có thể có một mức độ lớn hơn chi tiết hơn so với một người xem có thể thấy rõ trên màn hình. Thông thường, độ phân giải 150 đến 300 PPI hoạt động tốt cho quá trình in 4 màu (CMYK).

Tuy nhiên, với công nghệ in mà thực hiện pha trộn màu sắc thông qua dithering(halftone) hơn là thông qua in đè (hầu như tất cả máy in phun và in laser tại gia đình và văn phòng), máy in DPI và hình ảnh PPI có một ý nghĩa rất khác nhau, và điều này có thể gây hiểu nhầm. Bởi vì, thông qua quá trình phối màu, máy in xây dựng một điểm ảnh duy nhất ra khỏi một số chấm máy in để tăng độ sâu màu, thiết lập DPI của máy in phải được đặt cao hơn so với PPI mong muốn để đảm bảo độ sâu màu đủ mà không bị mất độ phân giải hình ảnh. Vì vậy, ví dụ, in hình ảnh ở mức 250 PPI có thể thực sự đòi hỏi một thiết lập máy in 1200 DPI..[9]

Trình chỉnh sửa ảnh dựa trên Raster[sửa | sửa mã nguồn]

Trình chỉnh sửa ảnh dựa trên Raster, như Painter, Photoshop, Paint.NET, MS Paint, và GIMP, xoay quanh việc chỉnh sủa các pixels, không giống như các trỉnh chỉnh sủa ảnh dựa trên Vector, như Xfig, CorelDRAW, Adobe Illustrator, hay Inkscape, xoay quanh chỉnh sửa đường và hình thể (vectors). Khi một hình ảnh được kết xuất trong một trình biên tập hình ảnh dựa trên raster, các hình ảnh được bao gồm hàng triệu pixel. Tại cốt lõi của nó, một biên tập hình ảnh raster hoạt động bằng cách thao tác với từng điểm ảnh riêng biệt. Hầu hết các điểm ảnh dựa trên các biên tập hình ảnh công việc bằng cách sử dụng mô hình màu RGB, nhưng một số cũng cho phép việc sử dụng các mô hình màu khác như các mô hình màu CMYK.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Raster Graphics - Scratch Wiki”. Wiki.scratch.mit.edu. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2014. 
  2. ^ James D. Foley (1995). Computer Graphics: Principles and Practice. Addison-Wesley Professional. p. 13. ISBN 0-201-84840-6. "The term bitmap, strictly speaking, applies only to 1-bit-per-pixel bilevel systems; for multiple-bit-per-pixel systems, we use the more general term pixmap (short for pixel map)."
  3. ^ “Bitmap Class”. Msdn.microsoft.com. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2014. 
  4. ^ “Patent US6469805 - Post raster-image processing controls for digital color image printing”. Google.nl. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2014. 
  5. ^ “bitmap display from FOLDOC”. Foldoc.org. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2014. 
  6. ^ Noll, A. Michael (tháng 3 năm 1971). “Scanned-Display Computer Graphics”. Communications of the ACM 14 (3): 143–150. doi:10.1145/362566.362567. 
  7. ^ “Patents”. Noll.uscannenberg.org. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2014. 
  8. ^ “CHAPTER-1”. Cis.rit.edu. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2014. 
  9. ^ Fulton, Wayne (10 tháng 4 năm 2010). “Color Printer Resolution”. A few scanning tips. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2011.