Đồng (họ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Họ Đồng (同) là một họ của người Việt Nam.

Biểu tượng của dòng họ Đồng tại Việt Nam

Hiện nhiều dòng họ Đồng (同) ở Việt Nam đều lưu truyền cho đời sau rằng nguồn gốc dòng họ là họ Tư Mã (chữ Hán: 司馬) có nguồn gốc từ Trung Quốc, do biến động lịch sử phải đổi họ, vì thế phải thêm nét sổ và đổi thành họ Đồng (chữ Hán: 同). Có thể nói như vậy dựa trên căn cứ các cuốn gia phả gốc ở các nhánh họ miền Bắc họ Đồng (同) ở Việt Nam nhiều ở các tỉnh Hải Dương (Nam Sách, Chí Linh, Thanh Hà, Kim Thành, Tứ Kỳ, Gia Lộc, Kinh Môn...), Hải Phòng (Kiến Thụy, Thủy Nguyên, An Lão, Dương Kinh, Tiên Lãng), Nam Định, Bắc Giang, Hà Nội (Đông Anh, chùa Hương), Thái Bình, Hưng Yên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh…

Ở Việt Nam, có nhiều dòng họ Đồng không còn gia phả chữ Hán đối chứng, nên mới biết các nhánh họ Đồng Sỹ ở Huế, họ Đồng Lạng Sơn, họ Đồng Bắc Cạn mang họ Đồng (童). Theo nhà nghiên cứu Đồng Thị Hồng Hoàn: Ở Trung quốc và Việt Nam tồn tại hai nhánh họ Đồng có chữ Hán khác nhau, họ Đồng(童) ở Trung Quốc xếp thứ 142 [1]các dòng họ của Trung Quốc, nhưng ở Việt Nam lại khá ít họ Đồng này mà chủ yếu là họ Đồng (同) là một họ đông hơn của người Việt Nam.

Nguồn gốc họ Đồng Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Các triều đại phong kiến ở Việt Nam có dòng họ của nhà vua như họ Lý, họ Trần, họ Hồ, hay các họ khác như họ Vũ, họ Vi...đều truyền lại và lập gia phả từ đời Thượng tổ là có nguồn gốc họ từ Trung Quốc sang Việt Nam, vì vậy họ Đồng có nhánh nào Tiên tổ truyền lại là từ Trung Quốc thì cũng không lấy gì phải e ngại khi biết gia tộc họ Đồng có nguồn gốc dòng tộc từ phương Bắc di chuyến xuống Việt Nam nhiều đời nay. Hiện nay, nguồn gốc họ Đồng tại Việt Nam nói chung và nguồn gốc các nhánh, chi họ Đồng ở Việt Nam nói riêng vẫn là vấn đề mà các dòng họ, các nhà nghiên cứu tìm hiểu mà chưa có sự thống nhất. Về nguồn gốc họ Đồng (同) tại Việt Nam hiện nay có nhiều ý kiến, dữ kiện khác nhau:

Dữ kiện 1[2][sửa | sửa mã nguồn]

Theo sưu tầm của bà Đồng Thị Hồng Hoàn, bản dịch của tác giả Huỳnh Chương Hưng về bài viết Vì tránh họa mà đổi họ của hai tác giả nổi tiếng về nghiên cứu Văn hóa - lịch sử Trung Hoa là Trương Tráng Niên (张壮年) – Trương Dĩnh Chấn (张颖震) trong tạp chí "Sơn Đông hoạ báo xuất bản xã", năm 2005, có đoạn như sau:

Sử học gia nổi tiếng thời Tây HánTư Mã Thiên (司马迁) (145 TCN86 TCN) vì bị liên luỵ trong vụ án Lý Lăng (李陵) nên phải chịu cung hình.

Để bảo toàn gia tộc, phải báo quan là không có con trai nối dõi, vì thế 2 người con trai của ông buộc phải đổi họ. Người con trưởng là Tư Mã Lâm (司马临) từ họ phức là Tư Mã (司马) đã lấy chữ Mã (马) đồng thời thêm 2 chấm bên trái đổi thành họ Phùng (冯). Người con thứ là Tư Mã Quan (司马观) từ họ phức Tư Mã (司马) lấy chữ Tư (司) đồng thời thêm một nét sổ bên trái chữ Tư đổi thành họ Đồng (同), nhưng 2 dòng họ này vẫn nhớ đến dòng họ gốc Tư Mã (chữ Hán: 司马) của mình.

Hiện nay tại thôn Trại Từ Long Môn (寨徐龙门) thuộc Hàn Thành (韩城) Thiểm Tây (陕西) quê hương của Tư Mã Thiên tuy không còn họ Tư Mã, nhưng người họ Phùng (冯), họ Đồng (同) rất đông, họ đều là con cháu đời sau của Tư Mã Thiên. Cả ngàn năm nay, hai họ Phùng và Đồng vì cùng tế chung một ông tổ nên không bao giờ thông hôn, vì họ đều là người một nhà...."

Vụ án Lý Lăng

Vào thời nhà Hán đời vua Hán Vũ Đế (汉武帝) (156 TCN87 TCN) liên tục có xung đột với người Hung Nô ở mạn Bắc. Năm 111 TCN, Hán Vũ Đế quyết định 18 vạn quân Bắc tiến, gây sức ép với Hung Nô. Trong sự kiện Bắc tiến đó, Lý Quảng Lợi dẫn 30 vạn quân lên phía Bắc giao chiến với Hữu hiền vương của Hung NôKỳ Liên Sơn. Một tướng khác tên Lý Lăng đã dẫn 5000 binh mã thiện xạ qua phía Bắc Cư Duyên chừng hơn nghìn dặm. "...Lý Lăng đã dẫn 5000 binh mã tiến sâu vào đất giặc, cự với hàng vạn hùng binh của chúng luôn 10 ngày, giết được vô số. Vua tôi giặc là Vu Thuyền hoảng sợ đã dốc hết kỵ mã cả nước bao vây. Lăng một mình chiến đấu ở ngoài nghìn dặm, cứu binh của Lý Quảng vì đố kỵ không tới, thất bại là hiển nhiên. Lý Lăng dù can trường nhưng đơn thương độc mã tác chiến, vì tên đạn hết, lương thảo kiệt, đường về bị cắt, người chết và người bị thương chất chồng, nhưng họ vẫn nghe lời hô hào của Lý Lăng, phấn chấn, vuốt máu mặt, anh dũng giơ nắm tay không xông vào quyết chiến. Thần cho rằng Lý Lăng rất xứng danh với các dũng tướng thời xưa. Tuy thất bại nhưng ông ta vẫn nuôi chí, mong có dịp báo đền ơn nước..." Hán Vũ Đế cho rằng Tư Mã Thiên, qua việc bảo vệ Lý Lăng đã ngầm chê Lý Quảng Lợi (anh vợ của Vũ Đế), là nhút nhát. Đồng thời Lý phu nhân bênh cho Lý Quảng Lợi, yêu cầu nhà vua trị tội Tư Mã Thiên. Hán Vũ Đế sau đó đã hạ lệnh tống ngục Tư Mã Thiên, khép vào tội khi quân, giao cho Đỗ Chu xét xử và phạt cung hình.

Dữ kiện 2[3][sửa | sửa mã nguồn]

Gia phả họ Đồng, Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội hiện nay là gia phả cổ nhất còn tìm thấy được, được viết bằng chữ Hán năm 1628, bổ sung hoàn thành năm 1678, có ghi 1 đoạn nói về họ Đồng Mã (gốc họ Tư)[4] như sau:

"…同 族 世 譜. 序. 却 說, 家 之 有 譜,猶 国 之 百 史, 史 以 记 政 事 得 失,譜 以 记 世 次 先 後 甚 矣 譜 之 不 可 無 也 我 同 族 一 今 族 也.

相 傳 其 先 中 國 人 同 馬 氏 不 知 何 緣 故 一人 適 本 国 海 陽 鎮, 南 间 社 居 焉 司 字 加 一 畫 為 同 字,至 中 間 二 人 適 乂 安 縝 一 居 石 何 社 一 居 瓊 流 社, 厥 後 一 人適 居 清 化 鎮, 廣 昌 縣 芙 留 礼 名 同 如 鴻 景 興 稹 仕 至 郡 公 …"


Phiên âm:

"...Đồng tộc thế phả. Tựa: Khước thuyết, gia chi hữu phả, do quốc chi bách sử, sử dĩ ký chính sự đắc thất, phả dĩ ký chế thứ tiên hậu thậm hỹ phả chi bất khả vô dã ngã đồng tộc nhất kim tộc dã. Tương truyền kỳ tiên Trung Quốc nhân Đồng Mã thị bất tri hà duyên cố nhất nhập thích bản quốc, Hải Dương trấn, Nam Gián xã, cư yên Tư tự gia nhất họa vị Đồng tự. Chí trung gian nhị nhân thích Nghệ An trấn, nhất cư Thạch Hà xã, nhất cư Quỳnh Lưu xã, quyết hậu nhất nhân thích cư Thanh Hóa trấn, Quảng Xương huyện, phù lưu lễ danh Đồng Như Hồng thời Cảnh Hưng là Chí sỹ quận công..."

Tạm dịch:

"...Nhà có gia phả, còn nước thì có sử. Sử ghi lại các việc lớn của đất nước. Gia phả ghi từng đời theo trước sau. Gia phả không thể không ghi lại một cách rõ ràng cụ thể. Gia phả họ Đồng, tương truyền rằng trước đây Tổ tiên là người Trung Quốc - họ Đồng Mã, nhưng không truyền tại duyên cớ gì sang bản quốc cư trú tại xã Nam Gián[5], trấn Hải Dương; Họ là từ chữ Tư (司) rồi thêm một nét xổ thành chữ Đồng (同).


Thời gian sau, có 2 vị từ Hải Dương đến trấn Nghệ An[6], một người ở xã Thạch Hà, một người đến cư trú tại xã Quỳnh Lưu. Sau đó, một người đến cư trú ở Phù Lưu, huyện Quảng Xương, trấn Thanh Hóa, lấy danh là Đồng Như Hồng- vào triều Cảnh Hưng[7] (TK XVIII) là chí sỹ quận công..."

Như vậy, có thể khẳng định được họ Đồng ở Cổ Loa có nguồn gốc từ họ Tư Mã và Tổ họ Đồng Mã Việt Nam phát tích từ trấn Hải Dương (nay cụ thể là Triền Dương, [[Cổ Thành)], Chí Linh), rồi hậu duệ các cụ đi các tỉnh như Hà Nội (Đông Anh), Thanh Hóa và các tỉnh khác.

Trước khi phát hiện về "Gia phả họ Đồng Cổ Loa, Đông Anh", thì theo nghiên cứu của TS. Đồng Xuân Thành và gia phả Gia tộc Đồng Xuân Phái ở Đông Anh Hà Nội, thì họ Đồng là gốc Tư Mã Lượng, sang Việt Nam từ thời nhà Tấn- lập nghiệp đầu tiên tại đất Tư Nông (Thái Nguyên ngày nay), sau đó di chuyển xuống Đông Anh, Hà Nội, rồi xuống xứ Hải Dương vùng Chí Linh, Nam Sách và Kim Thành sau đó cứ ven biển ra đi lập nghiệp tại các địa phương vùng biển Việt Nam.

Dữ kiện 3[sửa | sửa mã nguồn]

Tác giả Đồng Ngọc Hoa (Nam Định) cho rằng họ 同 sang Việt Nam sau đời Đường ở Trung Quốc. Sau khi có Tấu thư địa lý kiểu tự của Cao Biền báo cáo về với vua Đường là đất Hải Dương ở Việt nam có đến 183 huyệt chính và 483 huyệt bàng (huyệt phát vương, phát quan). Họ sang là để làm ăn sinh sống và phát triển chứ không phải sang vì chạy loạn. Cũng như nhà Trần chọn đất Nam Định (nơi có nhiều huyệt phát vương phát quan chỉ sau Hải Dương) làm quê hương là vậy. Như vậy họ sẽ sang Việt Nam khoảng thời là thời đại Phật giáo phát triển đến đỉnh cao, đất nước hòa bình yên ổn, không có ngoại bang xâm lược. Nhà Trần cũng từ Trung Quốc sang Việt Nam vào thời Lý. Nhưng chắc sau họ 同.

Văn bia Minh dĩ ký sự: Từ đường họ Đồng thôn, Lạc Chính, xã Trực Khang, huyện Trực Ninh, Nam Định do nhà sử học Đồng Ngọc Hoa cung cấp:

"Họ Đồng về Nam Định từ năm 1532, hiện có 18 đời với khoảng trên 800 suất đinh. Từ đường thờ thủy tổ họ Đồng đã được xếp hạng di tích LSVH cấp tỉnh; văn bia có đoạn:
"Cổ chế dã: Diên Bình xã, Lạc Chính thôn, tính Đồng kỳ tiên Hải Dương Kinh Châu, Chí Linh nhân...",
"Phần văn tế: "Tiên tổ tích do đông hải, phái dẫn Nam Giang, mộc bản thủy nguyên..."

Như vậy là Thủy Tổ họ Đồng ở Trực Khang cách đây gần 500 năm cũng đến từ Nam Giang, Chí Linh, Nam Sách, Hải Dương.

Dữ kiện 4[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Đồng ở Hoa Động, Thủy Nguyên, Hải Phòng chép trong gia phả: Tổ là thị vệ Đại tướng quân, Ân quang hầu Đồng Tế Trị, có 13 đời Tổ khảo tự Quang Trung - thụy Lưu Phúc; thụy Phúc Hiền...

Văn bia ký phả tại từ đường họ Đồng thôn Thường Sơn, Thủy Đường, Thủy Nguyên ghi rằng cụ Tiên tổ quê quán và từng giữ chức tri huyện Triền Dương- Nam Gián, Chí Linh, Hải Dương. Vị Tổ họ Đồng ở Phù Liễn, Thủy Sơn, Thủy Nguyên và vị Tổ họ Đồng ở Thường Sơn, Thủy Nguyên là huynh đệ.

Họ Đồng ở Tân Yên, Bắc Giang các cụ có tên đệm Đồng Phúc như: Đồng Phúc Hiền; Đồng Phúc Huy và Đồng Phúc Quang

Họ Đồng ở Ô Mễ Thái Bình có các cụ tổ thái Bình tên là Đồng Phúc Mẫn- Đồng Phúc An... Vậy các cụ ở đây trùng tên với các cụ Tổ Tân Yên, Bắc Giang, hay là một ???... điều này cần rất nhiều các nhà nghiên cứu sưu tầm thêm tài liệu thư tịch cổ, như: gia phả, văn bia, câu đối, sắc phong để chứng minh nguồn gốc, cội nguồn các chi họ...

Ghi chép của các cụ chi họ Đồng ở Đại Hợp, Kiến Thuỵ, Hải Phòng từ trước năm 1945 có cụ Đồng Đức Luận (1893) làm quan triều Nguyễn hàm Tứ phẩm; cụ Đồng Đức Nghĩa (1902) làm quan chức Thất phẩm; Cụ Đồng Đức Lợi (1921) phó chủ tịch UB hành chính kháng chiến xã Đoàn Xá; cụ Đồng Đức Phương (1929) làm phó thống đốc ngân hàng Sài Gòn - chính quyền miền Nam VN; bác Đồng Thiên Thạch (1950) Tổng giám đốc công ty xuất nhập khẩu Nông sản, bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn; Tiến sĩ Đồng Văn Quyền (1975) công tác tại Viện hàn lâm và công nghệ VN; Thạc sĩ Đồng Thị Hậu (1988) - Giảng viên trường Đại học Bách khoa...

Dữ kiện 5[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gia phả và cụ trưởng tộc cho biết cụ Viễn tổ Ô Mễ về Thái Bình năm 1632 từ Thanh Hóa ra, nhưng trong câu đối thì Tổ lại ở núi Hồng Lĩnh, Nghệ An.
  • Gia phả họ Đồng ở Văn Thai, Quỳnh Lưu, Nghệ An có nhắc tới cụ Tổ Đồng Như Hồng của Cổ Loa, Đông Anh như sau:
"Quảng Xương huyện, Quảng Thắng xã, khởi tổ Lê triều Đồng Như Hồng Quận công đại tướng quân linh vị..."

Điều này trùng hợp với gia phả họ Đồng Cổ Loa, Đông Anh. Có thể suy ra họ Đồng ở Ô Mễ Thái Bình, và họ Đồng ở Văn Thai, Quỳnh Lưu Nghệ An có gốc cùng với họ Đồng Cổ Loa Đông Anh, và xa hơn là họ Đồng Hải Dương.

Dữ kiện 6[sửa | sửa mã nguồn]

Một dòng họ Tư Mã khác phải đổi họ là: Tư Mã Lượng (司馬亮) (mất 291) tên chữ Tử Dực (子翼), tước hiệu Nhữ Nam Văn Thành vương (汝南文成王), là con thứ tư của Tư Mã Ý, vào hàng chú Tấn Vũ Đế, ông Tấn Huệ Đế. Tư Mã Lượng từng có một thời gian ngắn làm nhiếp chính dưới triều Tấn Huệ Đế nhà Tấn. Lượng là vị vương đầu tiên trong tám vương tham gia vào loạn bát vương.

Mẹ Lượng là Phục phu nhân. Khi hai người anh trai là Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu nắm quyền lực, ông chỉ giữ một chức quan hạng trung. Khi cháu ông là Tư Mã Viêm lên ngôi Hoàng đế, lập nhà Tây Tấn, kết thúc nhà Tào Ngụy, Tư Mã Lượng được phong làm Phù Phong Vương, chỉ huy quân đội ở Tần Châu (phía đông Cam Túc ngày nay) và Ung Châu (phía bắc và trung Thiểm Tây ngày nay). Trong những năm thời Tấn Vũ Đế, ông được biết đến với đức tính hiếu thảo của mình vì vậy ông được phép theo dõi và can ngăn các vương gia thậm chí hoàng đế lúc cần thiết.

Năm 277, Vũ Đế chuyển Tư Mã Lượng tới chỉ huy quân sự tỉnh Yu Pronvince (豫州, phía đông Hà Nam ngày nay) nhưng không lâu sau hoàng thượng lại đưa ông về kinh đô. Năm 289, Tấn Vũ Đế lâm bệnh nặng, triệu ông vào cung làm nhiếp chính cho Thái tử Tư Mã Trung. Năm 290, Tấn Vũ Đế băng hà, lệnh cho Tư Mã Lượng và Yang Jun (chưa rõ tên Tiếng Việt[1]) phò tá thái tử. Sau đó Tư Mã Lượng ám sát Yang Jun để một mình nắm quyền.

Sau đó năm 291, hoàng hậu Giả Nam Phong vợ Tư Mã Trung chuyên quyền muốn giết ngoại thích Dương Tuấn và gia đình ông này (bao gồm Thái hậu Dương thị) bèn cùng Đông An công Tư Mã Do và Nhữ Nam vương Tư Mã Lượng bàn mưu kết tội Dương Tuấn chuyên quyền.

Năm 292, Do và Lượng làm binh biến bắt giết cả nhà Dương Tuấn. Dương thái hậu là con Tuấn cũng bị kết tội, bị phế. Vợ Dương Tuấn, mẹ Dương thái hậu là Bàng thị cũng bị hành hình, dù Dương thái hậu nhẫn nhục viết thư xưng làm thần dân để mẹ được tha cũng không kết quả. Sau đó chính Dương thái hậu cũng bị kết tội chết.

Huệ đế ngơ ngác ngồi nhìn ông ngoại, bà ngoại và mẹ bị vợ hành hình. Giết được Dương Tuấn, Tư Mã Lượng và Tư Mã Do cầm quyền trong triều. Dần dần hai người sinh mâu thuẫn. Lượng sai người gièm pha Do với Giả hậu, Giả hậu bèn cách chức Do.

Lượng tiến cử Sở vương Tư Mã Vĩ (con thứ năm của Vũ đế, tức là em Huệ đế) cùng lão thần Vệ Quán thay chức của Do. Sau một thời gian, chính Vĩ lại lấn át quyền của Lượng. Lượng tức giận bàn mưu với Vệ Quán trừ Vĩ, nhưng việc bại lộ. Vĩ nói vu với Giả hậu rằng Quán và Lượng mưu phế Giả hậu. Giả hậu tức giận bèn sai Vĩ vây bắt, giết chết cả nhà Vệ Quán và Tư Mã Lượng, vì thế con cháu Tư Mã Lượng phải bỏ chạy và đổi họ tránh nạn.

Những dữ kiện khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam, họ Đồng Mã (同) chỉ xuất hiện ở sử sách Việt vào thế kỉ XIII, khi con cháu họ Đồng Mã Trung Quốc có thể đã chạy nạn khỏi cuộc xâm lược của Mông Cổ lên đất Trung Hoa, Thành Cát Tư Hãn và con cháu ông ta đã cho xâm lược nhà Kim từ 1211 đến 1234, nhà Tống từ 1235 đến 1279[8].

Tổ họ Đồng đã đến Việt Nam cư trú ở đất Nam Gián, Nam Sách – Triền Dương, sau là Cổ Thành - Nam Gián, Chí Linh, Nam Sách thời nhà Trần. Có thể căn cứ theo sách Trúc Lâm Chỉ Nguyên Thanh của Ngô Thì Nhậm, Danh nhân Yên Tử của Trần Chương, Phật giáo với văn hóa Việt Nam của Trần Đăng Duy, Cảm nhận đạo Phật của Đạo Kế Theo sách sử Phật giáo, sau vài người di cư sang xã Phù Vệ sinh ra cụ Đồng Thuần Mậu (cha Đồng Kiên Cương - Tổ Pháp Loa) tại thôn Cửu La, huyện Chí Linh, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang nay là xã Ái Quốc, tỉnh Hải Dương, kết hôn với cụ bà Từ Cửu họ Vũ sinh được 8 người con gái, đến năm 1284 ông bà sinh được con trai Đồng Kiên Cương. Cụ Đồng Kiên Cương thành danh Pháp Loa- tu thiền Phật giáo.

Vào thế kỷ XV-XVI, có cuộc biến động chính trị lớn như Nam Bắc triều (xung đột nhà Mạc- nhà Hậu Lê) (1533-1592), người họ Đồng làm quan thì thường làm cho Hồ triềuMạc triều vì thế sau khi chính quyền nhà Mạc thất thế, bị Nhà Lê trung hưng truy đuổi, tàn sát...Để bảo tồn nòi giống, các vị Tổ tiên Đồng Mã có liên quan tới triều đình đều mai danh ẩn tích, phải dời đi lánh nạn ở Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Bình, cùng các tỉnh lận cận Bắc Giang, Thái Nguyên, Hải Phòng… trong đó có cả Thăng Long, Hà Nội... tư liệu về dòng họ Đồng vì thế cũng thất lạc là điều dễ hiểu.

Thế kỷ XVII, XVIII lại xảy ra các cuộc xung đột Trịnh-Nguyễn chia ra Đàng Trong - Đàng Ngoài, các nhánh họ Đồng lại tiếp tục dời xuống Nam.

Hiện có rất nhiều ý kiến khác nhau rằng họ Đồng Việt Nam là gốc họ Tư Mã Thiên (司马迁) (145 TCN – 86 TCN)? Sang Việt Nam từ thời Tư Mã Lượng (司馬亮) (mất 291)? hay thời nhà Tống Tư Mã Quang (司马光) (1019–1086)???... Tuy nhiên Tư Mã Ý, Tư Mã Lượng hay Tư Mã Quang???... đều là con cháu của Tư Mã Thiên, vấn đề này cần tìm hiểu cho rõ ràng và cụ thể.

Tác giả Lê Trung Hoa trong cuốn “ Họ và tên người Việt Nam”, Hà Nội, Việt Nam: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội 2005 - thì họ Nguyễn (38,41%); Trần (11%); Lê (9,5%); Phạm (7,1%); Huỳnh/Hoàng (5,1%); Phan (4,5%);Vũ/Võ (3,9%); Đặng (2,1%); Bùi (2%); Đỗ (7%); Hồ (1,3%); Ngô (1,3%); Dương (1%); Đồng (0,8%); Lý (0,5%) - Source (nguồn): Lê Trung Hoa (2005 - Social Sciences Publishing House).

Phân bố dòng họ Đồng tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Đồng Hải Phòng mới tập hợp, khảo sát được 19 nhánh họ lớn. Theo thống kê ban đầu, tính đến nay số lượng người người họ Đồng Hải Phòng có trên 17.000, nhưng cũng có thể tới gần 2 vạn nhân khẩu (vì số liệu thống kê chưa nhất quán, đầy đủ và chính xác); phân bố như sau: huyện An Dương có 2 nhánh ; huyện An Lão có 3 nhánh; quận Dương Kinh có 2 nhánh; quận Kiến An có 1 nhánh; huyện Kiến Thụy có 4 nhánh; huyện Tiên Lãng có 1 nhánh; huyện Thủy Nguyên có 7 nhánh họ.

Một số chi họ nhỏ có nguồn gốc từ Hải Dương hoặc Nam Định về Hải Phòng lập nghiệp được mấy đời gần đây như: Chi nhánh 3 họ Đồng ở Tú Sơn, huyện Kiến Thụy; Chi nhánh 2 họ Đồng xã Tân Dân, huyện An Lão; Chi nhánh 2 họ Đồng Bá, xã Lê Lợi và chi nhánh họ Đồng xã Quỳnh Hoàng, huyện An Dương

Hiện nay có gia tộc ở 1 chi họ Đồng thuộc thôn Đại Lộc xã Đại Hợp, Kiến Thụy (gia đình cụ Tư Thiên Tá), do dòng họ có người giỏi chữ Hán (chữ Nho), khi đọc Gia phả của Tổ tiên để lại, thấy mình nguồn gốc họ Tư, vì thế các Cụ đã khuyến cáo cho con cháu đời sau đổi giấy khai sinh sang họ Tư, đến nay chi họ này đã mang họ Tư đã được mấy đời


Các hoạt động hiện nay của họ Đồng Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Viên thông bảo tháp - Ngôi mộ tháp của cụ Đồng Kiên Cương, sinh năm 1284 (tại chùa Thanh Mai, xã Hoàng Hoa Thám,Chí Linh, Hải Dương)
Đại hội tại đền Trình Đục Khê – 04.2019

Vào những năm cuối thập niên 80, họ Đồng tại Hải Phòng và Hải Dương đã có phong trào kết nối do sự khởi xướng của ông Đồng Chí Nam [9], cùng ông Đồng Tố Kim [10].

Đầu thập niên 90, các thành viên sáng lập đã thành lập Ban liên lạc họ Đồng Hải Dương và Hải Phòng (do ông Đồng Chí Nam là Trưởng Ban liên lạc và ông Đồng Tố Kim là Thư ký).

Các cuộc giao hiếu toàn quốc của ông Đồng Xuân Lợi (Cảng Hải Phòng) thuộc nhánh họ Đồng Hoa Động, Thủy Nguyên, Hải Phòng;

Sự nghiên cứu tìm hiểu dòng họ của ông Đồng Văn Đạo [11].

Tích cực tìm tòi nghiên cứu các Nhánh họ của TS. Đồng Xuân Thành [12].

Tìm về nguồn họ của ông Đồng Đạo Tuyết, thuộc nhánh họ Đồng Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội; Nhánh họ Đồng chùa Hương; họ Đồng Nam Định…; đã cùng thúc đẩy nhiều sự giao lưu, kết nối và nghiên cứu về nguồn gốc họ Đồng Việt Nam, trong đó có họ Đồng TP. Hải Phòng.

Ngày 20.04.2014, ông Đồng Xuân Lợi và bà Đồng Thị Hồng, cùng Ban Gia tộc họ Đồng thôn Thạch Lựu, xã An Thái, huyện An Lão đã tổ chức Hội nghị họ Đồng TP. Hải Phòng lần thứ nhất tại Từ đường họ Đồng xã An Thái, huyện An Lão.

Từ đó các hoạt động kết nối của họ Đồng Hải Phòng, Hà Nôi, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hải Dương, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình… dưới sự chắp nối rất tích cực của TS. Đồng Xuân Thụ[13] đã hình thành Ban liên lạc họ Đồng Việt Nam, Ban Gia tộc dòng họ và các tỉnh, thành phố, nhiều Ban liên lạc, Hội nghị đã ra đời, các hoạt động diễn ra sôi nổi, lan tỏa, phát triển rộng khắp cả nước, có cả thành viên là bà con kiều bào nước ngoài.

Nhiều năm qua, cùng với nhiệt huyết của TS. Đồng Xuân Thành đã có nhiều công bố về nguồn gốc họ Đồng Việt Nam. Đặc biệt là mấy năm gần đây cùng với sự tâm huyết của bà Đồng Thị Hồng Hoàn, kết hợp với các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, điền dã, nhiều công bố tập hợp, thống kê, dịch thuật các thư tịch cổ (Văn bia; Phả tộc; Phú ý…) tìm hiểu về nguồn gốc và tư liệu giá trị về các Đồng tộc ở nhiều tỉnh, thành phố, địa phương ở Việt Nam được công bố, sáng tỏ các nhánh họ Đồng có tư liệu có giá trị.

Ngày 14-15.04.2018, Đại hội Đại biểu họ Đồng Hải Phòng lần thứ nhất được tổ chức vào và Lễ cầu Quốc thái dân an, cầu siêu, tưởng niệm 688 năm Thánh tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương) nhập niếp bàn. Đại hội Gặp mặt họ Đồng toàn quốc lần thứ 3 tại Chùa Linh, thôn Tú Đôi, xã Kiến Quốc, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng.

Ngày 06-7.04.2019, Lễ cầu Quốc thái dân an, cầu siêu, tưởng niệm 689 năm Thánh tổ Pháp Loa (Đồng Kiên Cương) nhập niết bàn. Đại hội gặp mặt họ Đồng toàn quốc lần thứ 4 tại Đền Trình Đục Khê, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

Những người họ Đồng Việt Nam nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Theo Tiến sỹ Đồng Xuân Thụ, Tổng thư ký Ban liên lạc họ Đồng Việt Nam thống kê trong cuốn sách Họ Đồng Việt Nam (tập 1) xuất bản năm 2016:
  • Thiền sư Pháp Loa (1284-1330), tên thật là Đồng Kiên Cương, tổ thứ hai của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Ngài là người ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam khoảng năm 1329 và đã để lại nhiều tác phẩm Thiền học và luận thuyết về các kinh Nhập Lăng-già, Diệu pháp liên hoa, Bát-nhã-ba-la-mật-đa...
  • Đồng Thức: Quê Phù Vệ, Chí Linh, Hải Dương (xưa là xã Phù Vệ, Chí Linh, phủ Nam Sách[14])đỗ khoa thi thái học sinh năm Quý Dậu 1393 đời vua Trần Thuận Tông làm quan Ngự sử Trung tán. Sau Đồng Thức, hay Ngụy Thức, là đại thần nhà Hồ.
  • Đồng Mặc, tướng nhà Hậu Trần, Người có công lấy lại Thanh Hóa.
  • Đồng Hãng: Triền Dương (Lý Dương), Nhân Huệ, Chí Linh, Hải Dương, đỗ đồng Hoàng giáp Tiến sĩ niên hiệu Quang Bảo 5, năm Kỷ Mùi- 1559, thời Mạc Tuyên Tông làm tới chức Thượng thư Bộ lại.
  • Đồng Đắc: Triền Dương (Lý Dương), Nhân Huệ, Chí Linh, Hải Dương đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ năm Sùng Khang 3, Mậu Thìn- 1568, đời vua Lê Anh Tông làm quan công khoa Đô cấp Sự trung.
  • Đồng Văn Giáo (1528): Triền Dương (Lý Dương), Nhân Huệ, Chí Linh, Hải Dương đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ năm Đinh Sửu 1577, đời vua Lê Thế Tông làm quan thừa Chánh sứ.
  • Đồng Hưng Tạo: An Xá (Tu Linh), Nhân Huệ, Chí Linh, Hải Dương đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ năm Bính Tuất, niên hiệu Đoan Thái 1- 1586 đời vua Lê Thế Tông làm quan Hiến sát sứ.
  • Đồng Tiến Triều: Xã Đại Hợp, huyện Kiến Thuỵ vào thế kỷ thứ XVI (1527-1592), làm quan tứ trụ Mạc triều, phụ trách bộ Lễ, cụ là Tiên tổ họ Đồng ở Đại Hợp, Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương cũ[15]
  • Đồng Nhân Phái[16]: đỗ Đệ nhị Giáp Tiến sĩ năm Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ 10 (1628- thời Lê Trung hưng) quê xã Thiết Úng, huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Vân Hà huyện Đông Anh Tp. Hà Nội- ông là cụ tổ của một nhánh họ Đồng tại Đông Anh). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Công. Sau khi mất, ông được triều đình phong tặng chức Thượng thư, đời vua Lê Thần Tông.
  • Đồng Tồn Trạch: Đỗ Tiến sĩ năm Bính Tuất 1646, đời vua Lê Chân Tông, làm quan tham tụng, hộ bộ thượng thư, ông lĩnh chức Nghĩa quận công; rồi chức tham tụng (tể tướng), ông rất liêm khết: sách "lịch triều hiến chương loạn chí" chép rằng: ‘‘Ông cầm quyền 9 năm nhà không có của để thừa, ai cũng khen là trong sạch".
Năm 1664, đời vua Lê Huyền Tông, ông được thăng làm Tả thị lang bộ Công.
Năm 1669, ông được chúa Trịnh Tạc thăng làm Đô ngự sử.
Năm 1673, đời Lê Gia Tông, ông làm Hữu thị bộ Hình.
Năm 1683, ông được thăng Thượng thư bộ Hộ, làm Tham tụng trong phủ chúa Trịnh Căn(Là chức quan cao nhất thời Lê Trịnh), tước Nghĩa Trạch hầu.
Ông mất năm 1692, và truy tặng là Thượng thư bộ Lại, Thái bảo, Nghĩa quận công.
Quê tại Triền Dương (Lý Dương), Lôi Dương (nay là Nam Gián - Triền Dương, Cổ Thành), huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Việt Nam, là cháu nội ông Đồng Đắc[17] và có bác là Đồng Hãng.
  • Đồng Bỉnh Do (1647): Triền Dương-Lý Dương, Nhân Huệ, Chí Linh, Hải Dương đỗ Đệ tam đồng Tiến sĩ niên hiệu Chính Hòa, năm Tân Mùi (1691), đời vua Lê Huy Tông làm quan chức Tham chính, ông là cháu Đồng Nguyên, cháu họ Tằng tôn Đồng Đắc, con của Đồng Tồn Trạch.
  • Đồng Đăng Dần, đỗ Tiến sĩ, quê Nghi Sơn, Hà Tĩnh.
  • Đồng Công Viện: Hải Lãng, Ý Yên, Nam Định.Đỗ Tiến sĩ năm Giáp Thìn 1712, đời vua Lê Dụ Tông làm quan giám sát Ngự sử.
  • Đồng Hưu: Liên Hiệp, Hưng Hà, Thái Bình đỗ Tiến sĩ năm Giáp Thìn 1724, đời vua Lê Dụ Tông làm quan Tự khanh.
  • Đồng Doãn Giai: Hùng Sơn, Đại Từ, Thái Nguyên đỗ Tiến sĩ năm Bính Thìn 1736, đời vua Lê Ý Tông làm quan đốc tổng Lạng Sơn.
  • Đồng Như Hồng: Đỗ Tiến sĩ, được phong chức quận công thời Lê Trung Hưng (niên hiệu Cảnh Hưng- 1740 – 1786) (tổ họ Đồng Cổ Loa, Đông Anh)
  • Đồng Quang Riệp: Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ Hình hiến sát Ngự sử cuối thế kỷ XVIII từng phụng mệnh Vua đi đánh quận He ở Đồ Sơn (Hải Phòng) (theo Gia phả họ Đồng Kim Đính, Hải Dương)?!!
  • Đồng Tế Trị: Thị vệ đại tướng quân Ân Quang Hầu, làm quan thời Lê Trung Hưng (Ghi tại Bài vị nhà thờ họ Đồng ở Hoa Động,Thuỷ Nguyên, Hải Phòng (Tiên tổ ông Đồng Xuân Lợi)
  • Đồng Quốc Bình: Kiến Thụy, Hải Phòng (Anh hùng liệt sĩ Hải Quân). Tên ông đã được đặt tên cho 1 Phường (Phường Đồng Quốc Bình) và một con đường của TP.Hải Phòng
  • Đồng Sĩ Bình: Thừa Thiên Huế. Ông là một nhà cách mạng Việt Nam.
  • Đồng Văn Cống: Tân Hào, Giồng Trôm, Bến Tre.Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, kiêm Tư lệnh bộ đội Việt Nam ở khu Đông Bắc Campuchia (C40). Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam. Sau 1975 là Phó Tư lệnh Quân khu 7.Phó Tổng thanh tra quân đội. Ông là đại biểu Quốc hội khóa VI.
  • Đồng Đại Lộc: Ngư Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa, Phó Giáo sư.Tiến sĩ, Trung tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát. Bộ Công an.
  • Đồng Minh Tại: Nghĩa Hoà, Lạng Giang, Bắc Giang. Giáo sư,Tiến sĩ,Trung tướng, NGUT.Nguyên Giám đốc Học viện Hậu cần, Bộ Quốc phòng
  • Đồng Khắc Hưng: Cao Nhuận,Vạn Thiện,Nông Cống Thanh hóa,Thầy thuốc nhân dân,Giáo sư,Tiến sĩ,Thiếu tướng.Phó giám đốc Học viện Quân y Bộ Quốc phòng.
  • Đồng Văn Sơn: Thái Bình.Thiếu tướng Công an.Cục trưởng Cục Kế hoạch- Đầu tư- Bộ công an
  • Đồng Minh Sơn: Duyên Yết,Hồng Thái,Phú Xuyên,Hà Nội. Nguyên Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội.
  • Đồng Văn Thu: (Hòa thượng Thích Gia Quang).Ý Yên,Nam Định.Tiến sỹ.Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
  • Đồng Xuân Thọ.Đức Thọ,Hà Tĩnh. Giáo sư,Tiến sỹ,Đại tá công an. Chủ nhiệm Khoa Trường ĐH Phòng cháy chữa cháy.Bộ công an.
  • Đồng Văn Hệ: Kim Thành,Hải Dương. Phó Giáo sư.Tiến sỹ.Phó Giám Bệnh viện Việt Đức
  • Đồng Thị Thanh Thu: Thừa Thiên Huế.Phó Giáo sư.Trường ĐHKH Tự nhiên TP.HCM
  • Đồng Thị Bích Thủy: Thừa Thiên Huế. Giáo sư, Tiến sỹ. Nguyên ĐBQH, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường ĐHKH Tự nhiên,TPHCM
  • Đồng Thị Anh Đào: Giáo sư, Tiến sỹ, Khoa công nghệ thực phẩm Trường ĐHBK TP.HCM
  • Đồng Văn Quyền: Đại Lộc, Đại Hợp, Kiến Thụy, Hải Phòng. Phó Giáo sư, Tiến sỹ, Phó Viện trưởng Viện công nghệ sinh học, Viện hàn lâm KH Việt Nam
  • Đồng Kim Hạnh: Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội. Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trường ĐH Thủy Lợi.
  • Đồng Xuân Thành: Nghĩa Sơn, Nghĩa Hưng, Nam Định, Tiến sĩ. Trường ĐH Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh
  • Đồng Xuân Thụ: Tân Yên, Bắc Giang. Tiến sĩ Luật sư.Tổng biên tập Tạp chí Điện tử Môi trường và Đô thị Việt Nam.(www.moitruongvadothi.vn)
  • Đồng Tố Thanh: Chí Linh, Hải Dương, Tiến sĩ, Hiệu trưởng Trường cao đẳng cộng đồng Hải Phòng
  • Đồng Xuân Ninh: Thủy Nguyên, Hải Phòng. Tiến sĩ.Nguyên Trưởng khoa Trường ĐH kinh tế Quốc dân.
  • Đồng Văn Hướng: Trực Ninh, Nam Định, Tiến sĩ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học GTVT TP.Hồ Chí Minh
  • Đồng Văn Thưởng: Gia Phú, Bình Dương, Gia Bình, Bắc Ninh, Tiến sỹ, Giảng viên Học viện Hậu cần, Bộ Quốc phòng
  • Đồng Thế Hiển: Khê Khẩu, Văn Đức, Chí Linh, Hải Dương, Tiến sỹ, Vụ An ninh Quốc phòng Bộ GDĐT
  • Đồng Sỹ Sằng: Thừa Thiên Huế, Tiến sỹ Bênh viện Trung ương Huế.
  • Đồng Văn Lâm: Châu Thành,Trà Vinh, Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh.
  • Đồng Văn Thanh: Quê Cần Thơ, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Hậu Giang
  • Đồng Thị Ánh: Giồng Trôm, Bến Tre, Nguyên Phó chánh án TAND TP. HCM, hiện là P. Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Chủ tịch Hội Luật gia TP. HCM
  • Đồng Đức Bốn: Một cố nhà thơ quê ở Hải Phòng, rất nổi tiếng về làm thơ của Việt Nam
  • Đồng Đức Thành: Quê gốc Hà Nội, sinh ở Sài Gòn, Nghệ sĩ xuất sắc Liên đoàn Nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế (FIAP), Phó Chủ tịch thường trực Hội Nhiếp ảnh TPHCM, Ủy viên BCH, Phó Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật, Phó Trưởng ban Lý luận – phê bình Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam.
  • Đồng Tuyết Thanh: Quê Liên Xương, Vụ Bản, Nam Định, Nghệ sĩ Ưu tú
  • Đồng Thu Hà: (Diễn viên Thu Hà), Quê Duyên Yết, Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội, Nhà hát kịch Hà Nội
  • Đồng Lan: Quê Đồng Gia, Kim Thành, Hải Dương, Ca sĩ nổi tiếng The Voice
  • Đồng Thanh Bình: Cát Bà, Hải Phòng. Diễn viên điện ảnh. Được giải Nam diễn viên xuất sắc tại Liên hoan phim lần thứ XV.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo sách Bách gia tính
  2. ^ Dịch từ nguyên tác Trung văn (VỊ TỊ HOẠ NHI XẢO CẢI TÍNH THỊ- 为避祸而巧改姓氏). Trong quyển: TRUNG QUỐC NHÂN DANH ĐÍCH CỐ SỰ(中国人名的故事)
    Tác giả: Trương Tráng Niên (张壮年)- Trương Dĩnh Chấn (张颖震). Sơn Đông hoạ báo xuất bản xã, 2005
    Nguồn: http://www.huynhchuonghung.com/2012/05/dich-thuat-vi-tranh-hoa-ma-oi-ho.html
  3. ^ Gia phả họ Đồng, Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội được sao lại vào năm Giáp Ngọ. Được cung cấp bởi Đồng Đạo Tuyết - GV ĐH Thủy Lợi
  4. ^ Gia phả viết theo lối thảo nên rất khó đọc, tác giả đã chế bản lại mặc dù một số chữ Nôm không có trong từ điển, phải thay chữ tương đương.
  5. ^ Theo sách Chí Linh Phong vật chí có chép đoạn liên quan đến địa danh xã Nam Gián xưa:
    "..."Tiếp cận nơi này, có chùa Sùng Nghiêm dựng ở địa phận xã Nam Gián. Thầy địa lý bảo đó là: "An Nam quý cục" nghĩa là: "thế đất quý báu của nước An Nam". Lấy xã Cổ Bi làm chi giữa, thành Thăng Long làm chi hữu, xã Nam Gián làm chi tả..."
    Chùa Sùng Nghiêm nay thuộc phường Phả Lại, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
  6. ^ Có thể dịch là Ngãi An hoặc Nghệ An, nhưng Ngãi An là nơi nào? Chỉ có trấn Nghệ An có địa danh Quỳnh Lưu và Thạch Hà?
  7. ^ Niên hiệu Cảnh Hưng đời vua Lê Hiển Tông: 1740 – 1786, cụ Đồng Như Hồng là cụ Tổ họ Đồng Thanh HóaCổ Loa, Đông Anh
  8. ^ “Mongol invasion of China”. Truy cập 15 tháng 10 năm 2015. 
  9. ^ Nguyên Giám đốc Sở Xây dựng và Thương mại tỉnh Hải Dương (thuộc chi nhánh họ Đồng Kim Thành, Hải Dương)
  10. ^ nguyên Giám đốc Xí nghiệp Cây quả Côn Sơn, Chí Linh, Hải Dương (thuộc nhánh họ Đồng Phả Lại, Chí Linh, Hải Dương)
  11. ^ .Nguyên Chủ tịch huyện Tân Yên, tỉnh Hà Bắc, thuộc nhánh họ Đồng Làng Châu, xã Cao Xá, Tân Yên, Bắc Giang
  12. ^ .Nguyên Trưởng bộ môn Khoa Cơ Khí , Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM, thuộc nhánh họ Đồng Nghĩa Thái, tỉnh Nam Định
  13. ^ Tổng biên tập Tạp chí Môi trường và Đô thị Việt Nam
  14. ^ Vào thời nhà Trần, Nam Sách là tên gọi của một xứ, bao gồm Chí Linh, Nam Sách, Thanh Hà và Tiên Lãng (Hải Phòng) ngày nay. Đến cuối thời nhà Trần, là tên gọi của một châu (Nam Sách châu) thuộc phủ Lạng Giang.
  15. ^ Theo cụ Đồng Văn Bẩm hậu duệ cụ Đồng Tiến Triều, có cụ Đồng Yên Tông về xã An Thái, An Lão lập ấp, cụ Bẩm kể rằng: hậu duệ chi An Thái, An Lão kể rằng theo tổ tiên về nhà cụ Chánh Thất (tức cụ Đồng Đức Nghĩa(1902) làm quan chức Thất phẩm) khi cúng giỗ; cũng nhánh họ Đồng Đại Hợp có cụ Đồng Pháp Tín về khu Tiểu Trà, Hưng Đạo, Kiến Thụy - nay thuộc quận Dương Kinh lập ra nhánh họ Đồng Dương Kinh; một nhánh họ Đồng Tiểu Trà lại về Mỹ Khê, Quán Trữ, Kiến An - và lập ra Tổ ở đây… vấn đề này cần cần được nghiên cứu và cân nhắc kỹ lưỡng, rất mong các Trưởng tộc họ và các cụ cao niên trong Tộc họ tham khảo, đặc biệt là các nhà chuyên môn, nghiên cứu tham gia, đóng góp và cho ý kiến). Sau khi nhà Mạc thất thủ, các cụ Tổ tiên họ Đồng ở Hải Phòng bị liên luỵ, vì thế các cụ phải mai danh ẩn tích, cho nên Đồng tộc phả ký Hải Phòng bị thất lạc.
  16. ^ Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ 10 (1628)- Bia dựng ngày 16 tháng 11 niên hiệu Thịnh Đức thứ 1 (1653) Hoàng Việt. Ghi danh Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 3 người: Dương Cảo (楊暠) người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn; Đồng Nhân Phái (同仁派) người xã Thiết Ứng huyện Đông Ngàn. Nguyễn Duy Hiếu (阮惟曉) người xã Yên Lãng huyện Yên Lãng. Trích bia: Hoàng Việt muôn vạn năm, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 10, năm Mậu Thìn, mùa xuân thi Hội các sĩ nhân. Các sĩ đại phu được chọn dự tuyển 18 người, chính là khoa thi thứ nhất đời Trung hưng vậy.
  17. ^ Có sách chép là cháu nội cụ Đồng Văn Giáo

Tài liệu dẫn và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1. Nguyễn Huy Đại và Nguyễn Thanh Giản dịch, sách "Chí Linh phong vật chí"- Ty VH Hải Hưng- Thư viện KH tổng hợp- 1976
  • 2. Nguyễn Phước Sơn dịch và chú- "Tam tổ thực lục" -Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, 1995.
  • 3. Nguyễn Lang, "Việt Nam Phật giáo Sử Luận", Nhà Xuất Bản Lá Bối, 1974.
  • 4. Tăng Bá Hoành, Nguyễn Huy Thiêm, Nguyễn Thị Quế, Hà Trí-, sách "Tiến sĩ nho học Hải Dương 1075-1919"- Hội đồng chỉ đạo biên soạn Địa chí tỉnh Hải Dương, 1999.
  • 5. Gia phả họ Đồng Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội; Gia phả họ Đồng Văn Thái, Quỳnh Lưu; Văn bia họ Đồng Thường Sơn, Thủy Nguyên; Văn bia họ Đồng Trực Ninh, Nam Định….
  • 6. Sách Họ Đồng Việt Nam (Tập 1) xuất bản năm 2016. Nhà xuất bản Hồng Đức
  • 7. [phóng sự: Tự hào dòng tộc họ Đồng Việt Nam]