Đồng Văn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Đồng Văn
Huyện
Vietnam-Dong Van map.PNG
Địa lý
Tọa độ: 23°16′48″B 105°21′49″Đ / 23,28°B 105,36361°Đ / 23.28000; 105.36361Tọa độ: 23°16′48″B 105°21′49″Đ / 23,28°B 105,36361°Đ / 23.28000; 105.36361
Diện tích 446,66 km²
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 64.757 người [1]
 Mật độ 145
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Tỉnh Hà Giang
Huyện lỵ Đồng Văn
Thành lập 1962

Đồng Văn là một huyện của tỉnh Hà Giang, đồng thời cũng là huyện cực Bắc của Việt Nam [2][3].

Huyện Đồng Văn có diện tích 451,7122 km² và dân số 75.500 người (2016), gồm 2 thị trấn và 17 xã. Huyện lỵ trước đây là thị trấn Phó Bảng, nay chuyển về khu phố cổ thuộc xã Đồng Văn, nay là thị trấn Đồng Văn. Đây cũng là một trong những trọng điểm của các cuộc tấn công từ phía Trung Quốc sang Việt Nam năm 1979 và cả trong những năm 1984-1986.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 12 năm 1962, Hội đồng Chính phủ đã ban hành quyết định số 211-QĐCP tách huyện Đồng Văn thành 3 huyện: Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn. Huyện Đồng Văn còn lại thị trấn Phó Bảng và 22 xã: Đồng Văn, Hố Quang Phìn, Lũng Cú, Lũng Phìn, Lũng Táo, Lũng Thầu, Má Lé, Phố Cáo, Phố Là, Phú Lũng, Xả Phìn, Sảng Tủng, Sính Lủng, Sủng Là, Sủng Thài, Sủng Trái, Sủng Tráng, Tả Lủng, Tả Phìn, Thài Phìn Tủng, Thắng Mố, Vần Chải.

Ngày 21 tháng 12 năm 1982, chuyển 4 xã: Phú Lũng, Thắng Mố, Sủng Tráng, Sủng Thài về huyện Yên Minh quản lý. Huyện Đồng Văn có 1 thị trấn Phó Bảng và 18 xã: Đồng Văn, Hố Quáng Phìn, Lũng Cú, Lũng Phìn, Lũng Táo, Lũng Thầu, Má Lé, Phố Cáo, Phố Là, Xả Phìn, Sảng Tủng, Sính Lủng, Sủng Là, Sủng Trái, Tả Lủng, Tả Phìn, Thài Phìn Tủng, Vần Chải.

Ngày 31 tháng 3 năm 2009, chuyển xã Đồng Văn thành thị trấn Đồng Văn - thị trấn huyện lị huyện Đồng Văn.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Văn là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Hà Giang và là điểm cực bắc của Tổ quốc, có tọa độ từ 22 độ 55 đến 23độ 23 bắc; vĩ  độ 105 độ 42 độ kinh đông, có vị trí giáp ranh như sau:

- Phía Bắc và Đông bắc tiếp giáp nước CHND Trung Hoa.

- Phía Đông và Đông Nam tiếp giáp huyện Mèo Vạc.

- Phía Tây và Tây Nam tiếp giáp huyện Yên Minh.

Huyện có đường biên giới tiếp giáp với nước CHND Trung Hoa dài trên 52 km. Trung tâm huyện được đặt tại thị trấn Đồng Văn cách thành phố Hà Giang 150 km về phía bắc.

Phân chia hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Đồng Văn chia thành 2 thị trấn: Đồng Văn (huyện lỵ), Phó Bảng và 17 xã:

  1. Hố Quáng Phìn,
  2. Lũng Cú (địa đầu phía bắc của Việt Nam),
  3. Lũng Phìn,
  4. Lũng Táo,
  5. Lũng Thầu,
  6. Ma Lé,
  7. Phố Cáo,
  8. Phố Là,
  9. Sà Phìn,
  10. Sảng Tủng,
  11. Sính Lủng,
  12. Sủng Là,
  13. Sủng Trái,
  14. Tả Lủng,
  15. Tả Phìn,
  16. Thài Phìn Tủng,
  17. Vần Chải.

Dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Đồng Văn hiện nay có 17 dân tộc sinh sống. Trong đó dân tộc Mông chiếm phần lớn

Các dân tộc đang sinh sống ở Đồng Văn hiện nay:

  1. Mông
  2. Tày
  3. Dao
  4. Kinh
  5. Nùng
  6. Giấy
  7. La chí
  8. Hoa Hán
  9. Pà Thẻn
  10. Cờ Lao
  11. Lô Lô
  12. Bố Y
  13. Pu Péo
  14. Các dân tộc khác

Các nguồn tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

* Tài nguyên nước:

- Nước mặt: Tài nguyên nước mặt của huyện rất khan hiếm, chỉ có các suối nhỏ chảy vào mùa mưa và một số hồ ao khác.

- Nước ngầm: Hiện nay huyện đang có một số giếng khoan nước ngầm ở độ sâu trên 200m với lưu lượng 0,1 đến 0,3 lít/s và 1 số nguồn nước ngầm nhưng không đủ cung cấp cho cho sinh hoạt của nhân dân.

* Tài nguyên rừng:

+ Đất lâm nghiệp: 23.242,6 ha, chiếm 52,0%.

- Huyện Đồng Văn có diện tích đất rừng 23.242,6 ha, chiếm 52,0% diện tích tự nhiên (tính cả diện tích đất đồi núi đá không có rừng cây có khả năng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp). Mặc dù đất lâm nghiệp có tỷ lệ khá trong cơ cấu sử dụng đất, song phần lớn các loại rừng của huyện đều là rừng trồng và rừng tái sinh nên chất lượng rừng và trữ lượng không cao. Việc khai thác và kinh doanh các sản phẩm từ rừng hạn chế, chức năng chính của rừng của huyện là giữ đất và bảo vệ môi trường sinh thái.

* Tài nguyên khoáng sản:

- Kết quả điều tra cho thấy trên địa bàn huyện Đồng Văn có nhiều tài nguyên khoáng sản với trữ lượng lớn; gồm các loại khoáng sản như: mangan, Angtimon, đá vôi,..... Tuy nhiên việc khai thác gặp rất nhiều khó khăn do hạ tầng giao thông còn thấp kém, xa trung tâm tỉnh, khoáng sản nằm xen kẽ với nhiều tầng đá.II. Kinh tế - Xã hội của huyện Đồng Văn.

Đồng Văn là một trong 62 huyện nghèo nhất trong cả nước, trên địa bàn huyện có 17 dân tộc anh em chung sống, trong đó dân tộc H’Mông chiếm đến 88%. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, thiên tai, dịch bệnh có những diễn biến phức tạp: Rét đậm, rét hại, mưa tuyết, mưa lốc, mưa đá, kèm theo hạn hán, thiếu nước sinh hoạt và sản xuất,…, ngoài canh tác một số cây trồng chính (Lúa, ngô, đậu tương,…) kết hợp chăn nuôi các loại gia súc: Bò, dê, lợn, và các loại gia cầm; các nghành nghề khác chưa phát triển đồng bộ mà chủ yếu là do tự phát. Sản lượng lương thực trong năm 2014 đạt 27.942 tấn. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng (tính theo giá trị sản xuất) trong năm 2014 đạt 18,6% (tăng 16,25% so với tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng năm 2013). Cơ cấu ngành trong năm 2014:- Nông lâm nghiệp: 41,6%- Công nghiệp: 20,7%- Dịch vụ: 37,7%Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện 6.857 hộ nghèo/14.941 hộ, chiếm 45,98% tổng số hộ toàn huyện.

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

- Giao Thông: Hệ thống đường giao thông tương đối tốt, Quốc lộ 4C từ trung tâm tỉnh Hà Giang lên đến trung tâm huyện và đoạn đi qua huyện Đồng Văn nối liền với huyện Mèo Vạc. Ngoài ra còn hệ thống đường Tỉnh lộ ra cửa khẩu Phó Bảng và các đường liên xã đều đã được rải nhựa. Bình quân từ trung tâm huyện đến các xã chiều dài 26 km, xã xa nhất 42 km (Xã Sủng Trái), xã gần nhất (Trừ TT Đồng Văn) là 6 km (xã Tả Lủng).

- Thủy lợi: Trên địa bàn huyện có tổng số 49 công trình kiên cố, tổng chiều dài các tuyến công trình là: 89.470 m, phục vụ cho 809 ha, nhưng hầu như các công trình đều không có đập đầu mối, chủ yếu sử dụng các nguồn tự nhiên nước mưa, các khe lạch nhỏ.  

- Cấp nước: Nguồn cấp nước trên địa bàn huyện chủ yếu nhân dân sống nhờ vào nguồn nước mưa và nước lần của khe suối vào mùa mưa.

- Cấp Điện: Nguồn cung cấp điện cho huyện hiện nay do mạng lưới Quốc gia cung cấp thông 100% các xã của huyện có điện lưới Quốc gia và thủy điện Séo Hồ.

Đánh giá chung về điều kiện kinh tế - xã hội.[sửa | sửa mã nguồn]

* Thuận lợi:

- Huyện Đồng Văn có những thuận lợi nhất định so với 4 huyện vùng cao phía bắc của Tỉnh, như:

+ QL 4C từ huyện kết nối với trung tâm Thành phố Hà Giang và các huyện vùng cao nguyên núi đá Đồng Văn. Là huyện có nhiều điểm du lịch, có nhiều tiềm năng khai thác để thúc đẩy kinh tế thương mại - du lịch.

+ Điều kiện khí hậu tốt, nhiều vùng cảnh quan thiên nhiên đẹp, có tính độc đáo riêng, có hệ thống núi rừng hùng vĩ kết hợp với các di tích lịch sử, nền văn hoá đa dạng đặc sắc và thiên nhiên còn giữ được vẻ hoang sơ,... cho thấy tiềm năng phát triển du lịch, dịch vụ, thương mại để chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng phát triển bền vững. Đây là lợi thế để định hướng xây dựng đô thị theo mô hình Du lịch sinh thái.      

+ Giàu tài nguyên rừng, vừa là tiềm năng khai thác du lịch, vừa là nguồn tạo ra vùng nguyên liệu phục vụ nền công nghiệp sản xuất chế biến nông lâm sản. Đặc biệt phát triển các loại cây dưới tán rừng như các loại cây dược liệu Thảo quả, Tam thất,...    

* Hạn chế và thách thức:    

- Cách xa trung tâm văn hoá xã hội, giao thông đi lại khó khăn, chỉ có loại hình duy nhất là đường bộ, khó thu hút vốn đầu tư do nằm cách xa hệ thống cảng biển, sân bay, trục hành lang kinh tế đối ngoại của Quốc gia.

- Có quỹ đất để khai thác, tuy nhiên diện tích không nhiều, phân tán đòi hỏi phải đầu tư lớn, sử dụng đất khoa học hợp lý.

- Địa hình chia cắt dẫn đến chỉ áp dụng được phát triển cụm dân cư, thiếu quỹ đất xây dựng và canh tác, chi phí xây dựng cao hơn các vùng khác, ngoài ra, đây là vùng chiụ ảnh hưởng của thiên tai.     

- Trình độ nhận thức của nhân dân còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc tiếp thu tiến bộ khoa học vào cuộc sống.

Một số Chợ chính[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Chợ huyện Đồng Văn - Họp vào Chủ nhật hàng tuần
  2. Chợ Sà Phìn - họp vào ngày Tỵ và Hợi
  3. Chợ Phó Bảng - họp vào ngày Tý và Ngọ
  4. Chợ Phố Cáo - họp vào ngày Thìn và Tuất
  5. Chợ Sính Lủng - họp vào ngày Mão và Dậu
  6. Chợ Lũng Phìn - họp vào ngày Dần và Thân
  7. Chợ Ma Lé - họp vào Thứ 5 hàng tuần
  8. Chợ Lũng Cú - họp vào Thứ 6 hàng tuần.

Địa điểm du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 2, tr.7.
  2. ^ Bản đồ Hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Bản đồ, 2004.
  3. ^ Bản đồ tỷ lệ 1:50.000 các tờ F-48-19 A B C D. Cục Đo đạc và Bản đồ, 2004.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]