Đỗ Huy Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đỗ Huy Kỳ (chữ Hán: 杜輝琪; 1695-1748) là một danh sĩ và nhà khoa bảng Vit Nam. Ông đỗ Đình nguyên Thám hoa khoa Tân Hợi (1731) đời vua Lê Duy Phường, từng làm đến chức Thừa chính sứ Hải Dương, tước Hoa Nhạc bá, sau khi mất được truy tặng chức Lễ bộ Hữu thị lang.

Hành trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Đỗ Huy Kỳ sinh năm 1695, người tổng Thử Cốc, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Thiên, thừa tuyên Thanh Hóa (nay thuộc làng Phong Cốc, xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).

Tương truyền, thời niên thiếu, ông từng thụ giáo thầy Trần Ân Chiêm, tục gọi quan Nghè Bón (vì ở làng Châu Bội hay làng Bón), sống tại xã Vĩnh Tường xin thụ giáo. Đồng môn với ông có Hà Tông HuânTrịnh Đồng Giai, về sau đều là những nhà khoa bảng danh tiếng.[1]

Sự nghiệp khoa cử của ông, trước đỗ khoa Sĩ Vọng, đến năm 37 tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (Thám hoa) khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh khánh 3 (1731) đời vua Lê Duy Phường.[2]. Khoa thi này, trong Tam khôi không có Trạng nguyên, Bảng nhãn. Vì vậy, khoa này ông đứng Thủ khoa Đình nguyên.

Sự nghiệp quan trường của ông không được rõ. Chỉ biết ông từng làm đến chức Tham nghị, rồi Thừa chính sứ Hải Dương, tước Hoa Nhạc bá. Ông từng được triều đình cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Năm Cảnh Hưng Mậu Thìn (1748), sứ bộ của ông lên đường. Tuy nhiên, khi mới đi đến trạm Lã Côi (nay thuộc xã Yên Thường, huyện Gia Lâm) thì lâm bệnh mất. Ông được triều đình thương tiếc, truy tặng chức Lễ bộ Hữu thị lang.

Đỗ Huy Kỳ có tiếng hay chữ, có nhiều học trò đỗ đạt như Phan Huy Cẩn, đỗ Hội nguyên Đồng tiến sĩ xuất thân năm 1754.

Thờ tự[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay ông được thờ tại Đình làng Phong Cốc, Xuân Minh, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Đây là ngôi đình cổ, được dân làng Phong Cốc lập cách đây gần 200 năm. Hiện tại đình Phong Cốc được xem là một trong những ngôi đình cổ hoàn toàn bằng gổ lim, to lớn đẹp nhất ở Thọ Xuân- Thanh Hóa.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hà Tông Huân đỗ Bảng nhãn khoa Giáp Thìn (1724). Trịnh Đồng Giai đỗ Tam giáp Tiến sĩ khoa Tân Sử (1721).
  2. ^ [1], 65- VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA TÂN HỢI NIÊN HIỆU VĨNH KHÁNH NĂM THỨ 3 (1731)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]