Đỗ Kế Giai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đỗ Kế Giai
Tuong 2.jpg
Cố Thiếu tướng Đỗ Kế Giai
Tiểu sử
Sinh 1929
Bến Tre Việt Nam
Mất 21 tháng 2, 2016 (87 tuổi)
Texas, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1951-1975
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Vietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy dù
ARVN 18 Division SSI.svg Sư đoàn 18 Bộ binh
Cờ Thẳng tiến.png Sư đoàn 25 Bộ binh
Vietnamese Rangers SSI.svg Biệt động quân
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.quốc H.chương đệ III[1]
Đệ Nhị hạng Chương mỹ Bội tinh của tướng Đỗ Kế Giai
Đệ Tam đẳng Bảo quốc Huân chương của tướng Đỗ Kế Giai

Đỗ Kế Giai (1929-2016), nguyên là một tướng lĩnh gốc Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Võ bị Quốc gia Việt Nam trong giai đoạn Quân đội Liên hiệp Pháp. Sau này, ông được chuyển sang lĩnh vực Tham mưu và Chỉ huy các đơn vị Bộ binh. Sau cùng, ông đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Binh chủng Biệt động quân.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 6 năm 1929, trong một gia đình điền chủ tại Bến Tre, miền Tây Nam phần Việt Nam. Năm 1949, ông tốt nghiệp Trung chương trình Pháp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 1951, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 49/118.249. Theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt,[2] khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1951. Ngày 24 tháng 4 năm 1952, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

sau khi ra trường, ông được chọn phục vụ trong Tiểu đoàn 3 Nhảy dù đồn trú tại Hà Nội. Sau đó chuyển biên chế sang Quân đội Quốc gia. Cuối tháng 7 năm 1954, sau Hiệp định Genėve (ngày 20 tháng 7), ông được thăng cấp Trung úy và cùng đơn vị di chuyển vào Nam đồn trú tại Nha Trang.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 10 năm 1955, sau khi chuyển sang phục vụ cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Đại úy và được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Nhảy dù thay thế Đại úy Nguyễn Văn Viên. Tháng 10 năm 1959, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm.

Trung tuần tháng 11 năm 1960, ông chuyển sang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Nhảy dù thay thế Thiếu tá Ngô Xuân Soạn.[3] Tháng giêng năm 1962, ông được cử làm Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 2 Nhảy dù vừa được thành lập.

Đầu năm 1964, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ trong thời gian 6 tháng. Đến đầu năm 1965, ông được thăng cấp Trung tá và bàn giao Chiến đoàn 2 Nhảy Dù lại cho Thiếu tá Ngô Xuân Nghị.[4] Sau đó, ông được chuyển đi làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 25 Bộ binh do Đại tá Nguyễn Thanh Sằng làm Tư lệnh.

Tháng 9 năm 1966, ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 10 Bộ binh[5] thay thế Thiếu tướng Lữ Lan đi làm Chỉ huy trưởng trường Đại học Quân sự tại Đà Lạt. Ngày quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1967, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Ngày 20 tháng 8 năm 1969, ông nhận lệnh bàn giao Sư đoàn 18 lại cho Chuẩn tướng Lâm Quang Thơ.[6] Sau đó, ông được điều động về phục vụ tại Bộ Tổng tham mưu.

Tháng 8 năm 1972, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Binh chủng Biệt động quân.[7] Ngày 1 tháng 4 năm 1974, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Vào những ngày cuối của tháng 4, ông thừa lệnh Tổng thống Trần Văn Hương, được sự ủy nhiệm của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu, đứng ra thành lập các Sư đoàn Biệt động quân gồm Sư đoàn 101 và 106, bước đầu đã hình thành nhưng quá trễ vì lực lượng của đối phương đã tiến vào sát Sài Gòn.

Sau ngày 30 tháng 4, ông bị chính quyền mới bắt đi tù và bị lưu đày suốt 17 năm, mãi cho đến ngày 5 tháng 5 năm 1992 ông mới được trả tự do.[8]

Ngày 26 tháng 10 năm 1993, ông được xuất cảnh theo chương trình "Ra đi có trật tự" diện H.O do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh. Sau đó, ông đoàn tụ cùng gia đình tại Garland, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ

Ngày 21 tháng 2 năm 2016, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 87 tuổi.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

- Chương mỹ Bội tinh đệ nhị hạng.
- Nhiều huy chương Quân sự, Dân sự khác.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng (ân thưởng).
  2. ^ Năm 1959, đổi tên thành trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt
  3. ^ Thiếu tá Ngô Xuân Soạn vì không chịu tham gia cuộc đảo chính ngày 11 tháng 11 năm 1960 do Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu, nên nửa đêm về sáng ngày 11, ông đã bị nhóm đảo chính sát hại trước khi nhóm này tiến hành cuộc đảo chính
  4. ^ Thiếu tá Ngô Xuân Nghị sinh 1932 tại Khánh Hòa, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Chánh Sở Công tác thuộc Nha Kỹ thuật, Phòng 7 Bộ Tổng Tham mưu.
  5. ^ Đầu năm 1967, tướng Giai có sáng kiến đổi tên Sư đoàn 10 thành Sư đoàn 18 Bộ binh và được Bộ Tổng Tham mưu chấp thuận
  6. ^ Tướng Thơ trước đó là Chỉ huy trưởng trường Bộ binh Thủ Đức
  7. ^ Bộ Chỉ huy Biệt động quân Trung ương đặt tại Trại Đào Bá Phước ở đường Tô Hiến Thành, Quận 10, Sài Gòn. Đối diện với Đơn vị 3 Quản trị Trung ương
  8. ^ Những vị tướng được trả tự do sau cùng, một lượt với tướng Giai còn có:
    - Cấp Thiếu tướng:
    - Trần Bá Di (SN 1931, Võ bị Đà Lạt K5, sau cùng: Chỉ huy trưởng TTHL Quang Trung)
    - Lê Minh Đảo (SN 1933, Võ bị Đà Lạt K10, sau cùng: Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh)
    - Cấp Chuẩn tướng:
    - Lê Văn Thân (SN 1932, Võ bị Đà Lạt K7, sau cùng: Tư lệnh phó Lãnh thổ Quân đoàn II và Quân khu 2)
    - Trần Quang Khôi (SN 1930, Võ bị Đà Lạt K6, sau cùng: Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh)
    - Phạm Ngọc Sang (SN 1931, Võ khoa Thủ Đức K1, sau cùng: Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân)
    - Phạm Duy Tất (SN 1934, Võ khoa Thủ Đức K4p, sau cùng: Chỉ huy trưởng Biệt động quân Quân khu 2)
    - Mạch Văn Trường (SN 1836, Võ bị Đà Lạt K12, sau cùng: Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh)
    - Xem bài: Tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.