Đội Tình báo O.S.S "Con Nai"

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp cùng các thành viên của Đội Con Nai tại Pác Bó, tháng 8 năm 1945. Từ trái qua phải (đang đứng): Phần Đinh Hủy (Hồng Việt), René Defourneaux, Hồ Chí Minh, Allison K. Thomas, Võ Nguyên Giáp, Henry Prunier, Đàm Quang Trung, Nguyễn Quý, và Paul Hoagland. Hàng trước (đang quỳ): Lawrence Vogt, Aaron Squires, Thái Bạch (Thái Bá Chi)

Đội Con Nai (tiếng Anh: Deer Team) là một nhóm đặc nhiệm tình báo thuộc Cơ quan Tình báo Chiến lược Hoa Kỳ (U.S Office of Strategic Services). Đội Con Nai được hình thành vào ngày 16 tháng 5 năm 1945, với nhiệm vụ chủ chốt là tổ chức huấn luyện quân sự, cung cấp hậu cần và y tế cho lực lượng Việt Minh của Hồ Chí Minh, đồng thời hợp tác với Việt Minh trong việc thu thập thông tin tình báo và chống Nhật trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hơn hai tháng sau khi Pháp thất thủ ở châu Âu, sự kiểm soát của Pháp đối với Việt Nam dần bị lung lay. Ngày 22 tháng 6 năm 1940, quân đội Nhật Bản xâm lược miền Bắc Đông Dương dưới danh nghĩa được người Pháp "chuẩn thuận", nhưng trên thực tế là do người Pháp không còn đủ khả năng chống trả. Ngày 29 tháng 7 năm 1941, Pháp và Nhật ký Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương, cho phép quân đội Nhật Bản sử dụng gần như toàn bộ các sân bay và cảng biển quan trọng tại Đông Dương và chính thức công nhận sự hiện diện của người Nhật tại khu vực.[1] Tuy nhiên, mùa hè năm 1944, sau khi Pháp được quân Đồng Minh giải phóng, một số người Pháp theo phe De Gaulle tại các vùng của Việt Nam ở Đông Dương bắt đầu tìm cách cung cấp tin tức tình báo cho tổng hành dinh lực lượng Đồng minh ở Côn Minh.[2]

Côn Minh, một thành phố ở phía tây nam Trung Quốc, là căn cứ của Không đoàn 14 (Không đoàn Hổ Bay), do tướng Claire Chennault chỉ huy, đã bắt đầu thực hiện các phi vụ ném bom quấy rối và đánh phá các tuyến vận chuyển và tiếp tế của quân đội Nhật ở Đông Dương. Thành công của các cuộc tiến công ném bom này phụ thuộc vào các báo cáo thời tiết chính xác từ bên trong Đông Dương, cũng như thông tin tình báo về các hoạt động chuyển quân, căn cứ và kho tàng của Nhật. Ngoài ra, một mạng lưới tình báo ở Đông Dương cũng rất cần thiết để giải cứu các phi công Mỹ khi máy bay bị bắn hạ hoặc rơi, che giấu họ khỏi quân Nhật, và nếu có thể, đưa họ ra khỏi Đông Dương trở về Côn Minh.

O.S.S đã tham gia các hoạt động thu thập thông tin này từ Côn Minh. Một mạng lưới tình báo được thành lập gọi là nhóm GBT, làm việc ở miền nam Trung Quốc gần khu vực biên giới Trung - Việt, và sử dụng mạng lưới trong các cơ sở kinh doanh Pháp của họ ở Đông Dương. Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính lật đổ chính quyền Pháp ở Đông Dương, tuyên bố Việt Nam "độc lập". Do hầu hết người Pháp bị cầm tù nên nguồn thông tin tình báo quý giá từ bên trong Đông Dương đến quân Đồng minh ở Côn Minh đã cạn kiệt. O.S.S nhận thấy cần tìm cách tổ chức thu thập các thông tin tình báo đáng tin cậy từ những người Việt Nam chống Nhật.[2]

Chương trình Việt Minh

Ngày 2 tháng 11 năm 1944, Trung úy William Shaw, một phi công thuộc Phi đội Tiêm kích Chiến thuật 51, Không đoàn 14 Không lực Lục quân Hoa Kỳ, có căn cứ đặt tại vùng Hoa Nam, Trung Quốc, phải nhảy dù xuống Bản Ngần, xã Đề Thám, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, sau khi máy bay gặp trục trặc về động cơ. Shaw được du kích Việt Minh cứu thoát khỏi sự lùng sục gắt gao của quân Nhật và được đưa về Pác Bó. Sau hơn một tháng đi theo những người dẫn đường, chỉ đến khi gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh, William Shaw mới được nói chuyện bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Hồ Chí Minh đã tặng Shaw một bản Chương trình Việt Minh đã được Hồ Chí Minh dịch ra tiếng Anh. Đích thân Hồ Chí Minh đã trèo đèo lội suối, vượt hàng nghìn cây số, đưa Shaw về Côn Minh, trao trả cho Trung tướng Claire Chennault, Tư lệnh Không đoàn 14, đồng thời là người đại diện cao nhất của quân Đồng Minh tại khu vực. Trong dịp này, Hồ Chí Minh đề nghị Tướng Chenault công nhận Mặt trận Việt Minh là một lực lượng của phe Đồng Minh. Chenault hứa sẽ tìm cách đưa các nhóm cố vấn sang giúp huấn luyện quân sự, trang bị vũ khí, điện đài và các trang thiết bị khác cho Việt Minh. Phía Việt Minh sẽ mở rộng lực lượng du kích, và tăng cường hoạt động đánh Nhật và phá hoại các tuyến giao thông đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn của Nhật Bản; đồng thời cung cấp thông tin tình báo và khí tượng cho Không lực Lục quân Mỹ hoạt động trên chiến trường Bắc Đông Dương. Sau buổi bàn bạc với Chenault, Giám đốc Cơ quan Tình báo Chiến lược Hoa Kỳ, Thiếu tướng William J. Donovan, đã "bật đèn xanh" cho các chiến dịch của O.S.S tại Đông Dương. Trung úy Charles Fenn được giao điều phối kế hoạch hợp tác với Việt Minh. Hồ Chí Minh nhanh chóng trở thành một đặc vụ của O.S.S, có mật danh Lucius, và được hợp tác với Thiếu tá Archimedes Patti, phụ trách lực lượng O.S.S tại khu vực Đông Dương.[3] Khi Hồ Chí Minh về nước, O.S.S đã cử sĩ quan tình báo người Mỹ gốc Hoa là Frankie Tan và Mac Shin, chuyên gia về điện đài, đi theo.[4] Tháng 4 năm 1945, Hồ Chí Minh, Mac Shin và Frankie Tan được máy bay quân sự Mỹ đưa từ Côn Minh đến biên giới Trung Quốc - Việt Nam phía bắc Cao Bằng. Từ đó, cùng với các thành viên Việt Minh được chọn để huấn luyện tình báo và một nhóm nhân viên bảo vệ, họ bí mật vượt qua biên giới về Pắc Bó, căn cứ địa cách mạng. Để giữ bí mật, Frankie Tan mang bí danh là Tam Xinh Shan và Mac Shin mang bí danh là Nguyễn Tư Tác. Sau đó, cả nhóm tiếp tục xuyên qua núi rừng Việt Bắc, tránh các đội tuần tra của quân Nhật, bám theo các cơ sở cách mạng, và tháng 5 năm 1945 tới căn cứ địa Tân Trào.

Bộ đội Việt - Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhảy dù xuống Tân Trào[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Tân Trào, Mac Shin đã thiết lập và hằng ngày thực hiện một đến hai phiên liên lạc điện đài với Côn Minh. Ông đã báo cáo các thông tin về thời tiết, các cuộc chuyển quân của Nhật do mạng lưới trinh sát của Việt Minh thu thập được. Ngoài ra, ông cũng hướng dẫn một số cán bộ Việt Minh sử dụng điện đài. Giữa tháng 5 năm 1945, Trung úy Dan Phelan, sỹ quan Trạm Trợ giúp Không lực từ mặt đất, đã nhảy dù xuống căn cứ địa Tân Trào, cùng lực lượng Việt Minh chuẩn bị về mặt hậu cần, trong đó có việc xây dựng một đường băng dã chiến nhỏ để tiếp nhận máy bay Đồng minh hạ cánh khẩn cấp tại Bắc Đông Dương.[2]

Ngày 16 tháng 5 năm 1945, đội SO (Special Operation) số 13, mang bí danh Con Nai, được thành lập với 6 thành viên, dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Allison K. Thomas. Các thành viên khác gồm Binh nhất Henry Prunier, Thượng sĩ nhất William Zielski, và để thử nghiệm xem lực lượng cách mạng Việt Nam có chấp nhận sự giúp đỡ của người Pháp hay không, O.S.S đưa vào một sĩ quan Pháp cùng hai sĩ quan người Pháp gốc Việt. Không thành viên nào trong nhóm được thông báo rõ nhiệm vụ chính của họ, lệnh từ tướng Donovan chỉ đơn giản rằng: "‘Mr. Hoo’ đang ở Tân Trào, và họ có nhiệm vụ phải huấn luyện cho lực lượng của ông ấy”.

O.S.S ban đầu định để cho Đội Con Nai hành quân trên quãng đường bộ dài 300 dặm (gần 483 km) tới Tân Trào, nơi đặt các trại huấn luyện của Việt Minh. Nhưng phía Trung Quốc cảnh báo O.S.S rằng quân Nhật đang chờ sẵn ở biên giới để ngăn chặn mọi lực lượng của phía Đồng minh. Vì vậy, thay vì đi bộ, từng thành viên của Đội được vận chuyển bằng máy bay Piper Cub tới thị trấn Po Sah, cách biên giới Việt Trung khoảng 50 dặm (80 km), nơi đóng vai trò đầu mối liên lạc giữa Côn Minh và Tân Trào. Một buổi sáng ngày 16 tháng 7 năm 1945, sáu thành viên Đội Con Nai lên một chiếc máy bay C-47 Dakota, nhưng khi tới nơi viên phi công không thể nhìn thấy những chiếc khăn trắng làm ám hiệu cho biết mặt đất bên dưới là khu vực an toàn. Cuối cùng, Thomas và những thành viên khác đều đánh liều nhảy xuống. Tới mặt đất, trong khi đang thu xếp dù, họ nhìn thấy vài chục người tiến đến, không rõ là người Trung Quốc hay Việt Nam. Đa số là các thiếu niên, ngoại trừ một người thấp hơn, mặc áo vải lanh màu trắng, đi giày đen, đội mũ phớt màu đen, được mọi người gọi là “Anh Văn”. Sau này các thành viên Nhóm Con Nai mới được rằng biết tên thật của ông là Võ Nguyên Giáp.[5]

Một đội SO thứ 2, mang bí danh Con Mèo, bao gồm ba thành viên: Đại úy Charles M. “Mike” Holland và trung sĩ John Burrowes và điện đài viên John L. Stoyka. Họ nhảy dù xuống khu trại của Việt Minh tại Tân Trào vào ngày 29 tháng 7 sau Đội Con Nai. Do có nhiệm vụ riêng biệt với Đội Con Nai, nên sau cuộc gặp gỡ với Hồ Chí Minh và các cán bộ Việt Minh, họ lập tức di chuyển vào rừng, lập trại riêng và thực hiện nhiệm vụ của mình. Nhóm Con Mèo bị quân Nhật bắt sống vào giữa tháng 8 năm 1945. Stoyka, vốn là một cựu binh từng hoạt động ở sau phòng tuyến quân đội Đức Quốc Xã tại Pháp, đã trốn thoát được. Những người dân làng Việt Nam đã cứu giúp anh và đưa anh về trại của Đội Con Nai. Holland và Burrowes may mắn sống sót qua chiến tranh và được người Nhật thả tự do tại Hà Nội vào ngày 31 tháng 8 năm 1945. Tại đó, họ được Hồ Chí Minh đã chào đón nồng nhiệt với tư cách là những người đại diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam.[6][7]

Huấn luyện bộ đội Việt Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm Con Nai được dẫn tới làng Tân Trào, nơi nhóm được đón tiếp với một biểu ngữ bằng tiếng Anh có nội dung “Chào mừng các bạn Mỹ của chúng tôi”. Biểu ngữ này được làm bởi trung úy Dan Phelan và Frankie Tan. Địa điểm huấn luyện có kích thước không lớn, xung quanh là các lán và nhóm O.S.S sống trong các lán trên núi.

Khi nhóm của Thomas gặp Hồ Chí Minh lần đầu, người mà họ chỉ biết qua cái tên “Hoo” là một người gầy guộc “chỉ toàn da với xương”, bị ốm yếu vì những căn bệnh nhiệt đới như lỵ và sốt rét. Tuy ông nói thông thạo tiếng Pháp, nhưng không chấp nhận nói ngôn ngữ này, thay vào đó chỉ nói chuyện với các thành viên Con Nai bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Do Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp tỏ sự không tin tưởng các sĩ quan người Pháp và người Pháp gốc Việt trong nhóm, nên 3 người đó được điều quay trở về Côn Minh. Ngày 30 tháng 7, đợt thả quân bổ sung thứ 2 được tiến hành, bao gồm Trung úy Rene Defourneux, Trung sĩ Tham mưu Lawrence Vogt, Trung sĩ Aaron Squires, Binh nhất quân y Paul Hoagland. Ngay khi tới nơi, ưu tiên hàng đầu của Hoaglund là điều trị cho Hồ Chí Minh, và Hồ Chí Minh đã nhanh chóng hồi phục.[8]

Sau khi điều chỉnh quân số, Đội Con Nai bao gồm 7 thành viên:

  • Thiếu tá Allison K. Thomas - chỉ huy trưởng
  • Trung úy Rene Defourneux - phó chỉ huy trưởng
  • Thượng sĩ nhất William Zielski - điện đài viên
  • Trung sĩ Tham mưu Lawrence R. Vogt - chuyên viên vũ khí
  • Trung sĩ Aaron Squires - chuyên viên vũ khí, nhiếp ảnh gia
  • Binh nhất Henry Prunier - thông dịch viên
  • Binh nhất Paul Hoagland - quân y

Hồ Chí Minh đã chỉ thị chọn người trong các đơn vị Giải phóng quân để tổ chức một đại đội gọi là Bộ đội Việt - Mỹ. Đơn vị này do Đàm Quang Trung làm Đại đội trưởng, quân số khoảng 200 người. Thiếu tá Thomas được xem là Tham mưu trưởng đại đội. Trong thời gian ở tại chiến khu Tân Trào, các thành viên toán Con Nai tập trung huấn luyện cho đại đội Việt - Mỹ sử dụng vũ khí và chiến thuật du kích. Cũng trong thời gian đó, ba chuyến máy bay vận tải C-47 Dakota đã thả nhiều loại vũ khí, trang thiết bị và đồ y tế cho lực lượng tại Tân Trào. Ước tính người Mỹ đã thả một khẩu đại liên, hai súng cối 60 mm, bốn súng chống tăng M1 Bazooka, tám súng máy Bren, 20 tiểu liên Thompson, 60 súng M1 Garand và 60 súng M1 Carbine, 20 súng ngắn Colt, một số ống nhòm và các tài liệu huấn luyện của Lục quân Hoa Kỳ về chiến tranh du kích.[9] Ngoài ra còn một số vũ khí được đưa vào bằng đường bộ cùng Frankie Tan và Mac Shin trước đó.[10] Tổng thời gian nhóm O.S.S dành để huấn luyện người Việt chỉ kéo dài ít tuần trong tháng 7 và tháng 8. Ngoài Võ Nguyên Giáp, nhóm còn huấn luyện kĩ năng chỉ huy cho ít nhất hai chỉ huy quân sự cấp cao khác, trong đó có Đàm Quang Trung (sau là Thượng tướng, Tư lệnh Quân khu 1). Henry Prunier đã nhận xét “Đây là một nhóm được tinh tuyển từ nhiều nơi khác nhau tại Việt Nam. Họ hoàn toàn không phải là những người nông dân tầm thường.”[11]

Tổng khởi nghĩa tháng Tám[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 14 tháng 8 năm 1945, 5 ngày sau khi Mỹ thả bom nguyên tử xuống Nagasaki, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng vô điều kiện lực lượng Đồng Minh. Một ngày sau, Ủy ban khởi nghĩa ra lệnh cho các đơn vị Quân giải phóng tiến công các căn cứ của địch. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Trung ương Đảng, Tổng bộ Việt Minh và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.

14 giờ ngày 16 tháng 8 năm 1945, Quân giải phóng xuất phát từ Tân Trào tiến đánh quân Nhật tại thị xã Thái Nguyên. Đại đội Việt - Mỹ và toán Con Nai cũng tham gia trận đánh này. Đại đội Việt - Mỹ có nhiệm vụ bao vây tiêu diệt mục tiêu khó khăn nhất là trại lính Nhật tại thị xã. Ngày 19 tháng 8, Việt Minh, gặp một đồn Nhật ở thị xã Thái Nguyên. Háo hức muốn thử nghiệm những gì đã được nhóm O.S.S hướng dẫn, Việt Minh đã lên kế hoạch tấn công đồn. Nhóm Con Nai được Thiếu tá Archimedes Patti ở Côn Minh lệnh qua radio rằng không được tham gia cuộc tấn công này, không được nhận tù binh, và phải án binh bất động. Nhưng Thiếu tá Thomas không nghe theo chỉ đạo và đã tham gia vào trận chiến. Ngày 20 tháng 8 năm 1945, quân Nhật trong đồn vẫn kháng cự, Bộ Chỉ huy Quân giải phóng gửi một tối hậu thư cho viên thiếu tá chỉ huy quân Nhật kêu gọi đầu hàng. Để tăng thêm thanh thế của quân giải phóng Việt Nam cùng Đồng Minh hiệp đồng chiến đấu, đã có một tối hậu thư bằng tiếng Anh do thiếu tá Thomas ký, gửi quân Nhật yêu cầu đầu hàng.[10][12]

Tại Sở Hiến binh Nhật (đóng ở nhà Gauchie), quân Nhật dựa vào tường rào vững chắc, ngoan cố chống cự. Quân ta điều một tổ súng Bazooka do Tiểu đội trưởng Sùng Hải phụ trách đến bắn vỡ một mảng tường nhà. Quân ta xung phong vào, dùng súng ngắn, lựu đạn tiêu diệt địch, đánh chiếm mục tiêu. Các chỉ huy Quân giải phóng gồm Võ Nguyên Giáp, Đàm Quang Trung, có thiếu tá Thomas cùng đi, trực tiếp đến xem xét tại chỗ sự bố phòng trong ngôi nhà của quân Nhật. Sau đó, toán Con nai cùng Chi đội 4 Quân giải phóng mới được thành lập hành quân về Hà Nội.

Sau khi Việt Minh giành chính quyền tại Hà Nội và nhiều nơi khác, Thủ tướng Đế quốc Việt Nam Trần Trọng KimHuế nộp đơn xin từ chức. Lực lượng quân đội Nhật tại Việt Nam không có phản ứng đáng kể trước những hoạt động của Việt Minh vì lúc này Nhật đã tuyên bố đầu hàng phe Đồng minh và đang chờ quân Đồng minh tới giải giáp, mặt khác vua Bảo Đại và Thủ tướng Đế quốc Việt Nam Trần Trọng Kim đã từ chối lời đề nghị của Tư lệnh quân đội Nhật về việc đem quân Nhật chống lại Việt Minh. Trước sức ép của nhân dân, Bảo Đại tuyên bố thoái vị, từ bỏ ngai vàng và trở thành công dân Vĩnh Thụy. Ngày 25 tháng 8, hàng ngàn người tụ tập trước cửa Ngọ Môn xem nhà vua đọc Tuyên ngôn Thoái vị. Vua Bảo Đại mong chính phủ mới đối xử ôn hoà với các đảng phái đối lập để họ có thể góp sức kiến thiết quốc gia và để chứng tỏ chính thể mới xây đắp trên sự đoàn kết quốc dân đồng thời tuyên bố "muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị".

Ngày 22 tháng 8, Phái đoàn Hoa Kỳ với trưởng đoàn là Chuẩn tướng Phillip D. Gallagher, dưới danh nghĩa là cố vấn cho lực lượng quân sự Đồng Minh dẫn đầu bởi đoàn của chính phủ Tưởng Giới Thạch, đã có mặt tại Hà Nội để giúp chuẩn bị cho việc Nhật Bản chính thức đầu hàng. Sau khi Việt Minh đã nắm chắc quyền kiểm soát miền Bắc, các nhóm O.S.S khác nhanh chóng bay đến Hà Nội. Người phụ trách Phái đoàn Hoa Kỳ tại Hà Nội, Thiếu tá Archimedes Patti và người Mỹ được chính phủ, nhân dân Việt Nam chào đón nồng nhiệt. Hà Nội ngập tràn niềm vui cùng những biểu ngữ về độc lập, tự chủ bằng tiếng Anh, tiếng Trung và tiếng Pháp. Patti đã chứng kiến ​​cuộc duyệt binh đầu tiên của quân Việt Minh và buổi lễ “Quốc tế” đầu tiên có sự xuất hiện của lá cờ Việt Nam, được treo cùng với lá cờ của các quốc gia phe Đồng Minh và bài quốc ca mới của Việt Nam được vang lên. Cũng trong thời gian ở Hà Nội, tướng Gallagher đã có nhiều ấn tượng với quân đội Việt Minh về sự quy củ và dày dạn kinh nghiệm, và nhìn thấy được khát vọng độc lập của Hồ Chí Minh cũng như toàn thể người dân Việt Nam. Trong thời gian phái đoàn Đồng Minh ở Hà Nội, mối quan hệ giữa chính phủ Việt Nam và đoàn của người Pháp, Trung Quốc khá căng thẳng. Hồ Chí Minh đã nhiều lần bày tỏ với Gallagher về một nền độc lập của nước Việt Nam, và mong muốn nhận được sự giúp đỡ của các nước Đồng Minh như Mỹ, Anh hoặc Liên Xô để giúp Việt Nam tránh khỏi một cuộc chiến với người Pháp.[13]

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trên Quảng trường Ba Đình tại Hà Nội, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - trùng với ngày Nhật Bản kí văn kiện đầu hàng phe Đồng Minh trên thiết giáp hạm Missouri. Hồ Chí Minh đã trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Buổi lễ có sự góp mặt của Thiếu tá Archimedes Patti, Thiếu tá Allison K. Thomas và toàn bộ Đội Con Nai, và họ đeo băng quốc kỳ Hoa Kỳ, ấn định rằng họ là "những người bạn" của nước Việt Nam mới.[14]

Rút khỏi Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 9 năm 1945, thiếu tá Thomas và các thành viên toán Con Nai chấm dứt nhiệm vụ ở Hà Nội, được lệnh chuẩn bị rút về nước. Theo Tuyên cáo Postdam, Việt Nam bị chia cắt với ranh giới là Vĩ tuyến 17, quân Đồng Minh sẽ vào Việt Nam để giải giáp quân Nhật. Quân Tưởng tiến vào miền Bắc và quân Anh tiến vào miền Nam. Giữa lúc liên quân Anh-Pháp do Trung tướng người Anh Doughlas D. Gracey chỉ huy tiến vào Sài Gòn, một nhóm O.S.S khác do Trung tá Peter Dewey chỉ huy được điều đến hỗ trợ. Nhiệm vụ của Dewey là giải cứu những tù binh Đồng Minh bị giam giữ và tìm kiếm quân nhân bị mất tích. Dewey và nhóm của anh đến Sài Gòn vào tuần đầu tiên của tháng 9, nhưng đến giữa tháng 9, họ đã gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng với người Anh và người Pháp khi các kế hoạch được Gracey tiến hành ngày một thiếu tế nhị và khiến sự thù ghét của người dân Việt Nam tăng dần lên. Khác với Gracey, vốn không có thiện cảm với người dân xứ thuộc địa, Dewey có niềm tin mãnh liệt về quốc gia nhỏ bé này do Dewey đã từng làm việc với phe Việt Minh, và anh cực lực phản đối chính sách của chỉ huy Anh là đuổi cán bộ Việt Minh khỏi các văn phòng chính phủ, đồn cảnh sát và doanh trại quân đội mà họ đã chiếm được từ tay người Nhật và Vichy Pháp. Hầu hết các thành viên người Mỹ đều cảm thấy khó chịu khi người Anh cho phép người Pháp, người mà họ đã hậu thuẫn, tiếp quản Sài Gòn và giáng trả một cách tàn bạo đối với người Việt Nam. Để trả đũa, những người Việt Nam trên toàn miền Nam đã tổng nổi dậy và mở các cuộc chiến tranh du kích khắp thành phố.[6] Dewey liên tục gửi báo cáo về Washington và trỉ trích vị chỉ huy người Anh ngày một dữ dội. Dưới áp lực của người Anh và Pháp, đội O.S.S của Dewey được lệnh rút khỏi Việt Nam.[15] Trong báo cáo cuối cùng của Dewey gửi về Washington, ông nhấn mạnh:

Nam Kỳ đang bốc cháy; người Pháp và Anh sẽ bị kết liễu tại đây, và chúng ta phải chạy khỏi Đông Nam Á.

Sáng ngày 26 tháng 9 năm 1945, Trung tá Dewey bị bắn chết trong một vụ đụng độ khi chiếc xe Jeep của ông bị 3 người Việt Nam chặn lại. Dewey mắng họ bằng tiếng Pháp, khiến 3 người lính tưởng Dewey là sĩ quan Pháp nên nổ súng bắn trả, "làm bay mất phần sau hộp sọ của ông."[16] Thi thể của Dewey được vùi lấp gần một con sông và vẫn chưa được tìm thấy đến tận bây giờ. Khi biết tin về vụ tai nạn, Hồ Chí Minh đã tức tốc đến văn phòng của tướng Philip Gallagher tại Hà Nội để bày tỏ sự thuơng tiếc. Sau đó Hồ Chí Minh đã viết thư chia buồn tới gia đình của Dewey và Tổng thống Truman, và hứa sẽ tìm ra thủ phạm để trừng trị thích đáng.[17] Sau vụ Dewey, theo lệnh của Chính phủ Mỹ, Đội Con Nai phải rời Việt Nam về Côn Minh ngay trong cuối tháng 9 năm 1945 và được giải tán vào tháng 10 năm 1945.

Dù chỉ góp sức cùng lực lượng Việt Minh chưa đầy 2 tháng nhưng nhóm Con Nai đã mở ra hy vọng về quan hệ hợp tác giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính phủ Mỹ trong thời kỳ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dự đoán là sẽ rất khó khăn đối với một nhà nước non trẻ. Từ năm 1945 đến cuối 1946, Hồ Chí Minh đã có 8 thư và điện gửi Tổng thống Harry Truman, 3 thư và điện gửi Bộ trưởng Ngoại giao James Byrnes. Nhiều bức điện trong số đó được gửi qua máy điện đài của điện đài viên nhóm Con Nai là Thượng sĩ nhất William Zielski. Theo Zielski, "Ông Hồ không đòi hỏi tiền hay viện trợ quân sự từ Mỹ, ông ấy muốn tình hữu nghị, muốn tự do và độc lập được Truman hỗ trợ" và "Hồ Chí Minh là một người thuần phác, bình thản, có tác phong lãnh đạo chuyên nghiệp, có thiên hướng dân tộc, yêu nước."[18] Trong thư gửi ông James Byrnes ngày 1 tháng 11 năm 1945, Hồ Chí Minh đề nghị gửi 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ để “xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác” và “tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ là những người mà lập trường cao quý đối với những ý tưởng cao thượng về công lý và nhân bản quốc tế, và những thành tựu kỹ thuật hiện đại của họ đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trí thức Việt Nam.”[19] Tất cả những bức thư trên không bao giờ được Tổng thống Truman phản hồi, thay vào đó, chính phủ của Truman đã ủng hộ người Pháp quay trở lại Đông Dương.

Chính phủ lâm thời của Cộng hòa Pháp muốn khôi phục lãnh thổ Đông Dương với cơ chế tự trị. Ngày 9 tháng 10 năm 1946, Thống chế Pháp Philippe Leclerc đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng viễn chinh gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền Nam Việt Nam và Campuchia. Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Đầu tháng 11 năm 1946, quân Pháp chiếm trụ sở hải quan tại cảng Hải Phòng và chiến tranh lan ra đến miền Bắc Việt Nam. Các cơ quan của chính phủ Việt Nam bí mật chuyển dần về các nơi vùng rừng núi để lập căn cứ bí mật. Ngày 17 tháng 12, quân Pháp với xe tăng yểm trợ tấn công vào Hà Nội. Tối ngày 19 tháng 12 năm 1946, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, đăng trên báo Cứu quốc và các báo Hà Nội, với lời thề quyết tử: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!". Cuộc kháng chiến chống Pháp chính thức bắt đầu.

Kỷ niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nhà sử học cho rằng vì đã từ chối lời đề nghị hợp tác của Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ đã lãng phí cơ hội xây dựng một mối quan hệ tốt đẹp với Việt Nam, điều có thể đã giúp người Mỹ không phải sa vào một cuộc chiến kéo dài hai thập kỷ sau đó. Theo cựu Thiếu tá tình báo O.S.S Archimedes Patti, chính cách nhìn nhận của người Mỹ rằng Hồ Chí Minh là một người thân Cộng Sản đã biến Việt Nam trở thành kẻ thù của họ nhiều năm sau đó.[20]

Do mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ xấu dần sau sự bắt đầu của cuộc chiến tranh ở Đông Dưong, nhiều chiến công và ghi chép hoạt động của Đội Con Nai ở Việt Nam nhanh chóng rơi vào quên lãng. Sau khi từ Đông Dương về, Thượng sĩ nhất William Zielski được tham gia nhóm vài chục người để thảo Điều lệ thành lập Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ. Zielski đã hỏi một viên tướng tại Lầu Năm Góc về những bức điện của Hồ Chí Minh mà ông từng giúp chuyển tiếp cho chính phủ Truman có số phận ra sao. Câu trả lời vang lên: “Anh đâu có hiểu được bức tranh lớn, con trai à." Bất bình với chính sách Đông Dương của chính quyền Mỹ, William Zielsk, cũng như nhiều thành viên O.S.S khác từng hoạt động tại Việt Nam, đã giải ngũ khỏi quân đội và lên tiếng phản đối sự can thiệp của Mỹ tại Đông Dưong, cũng như cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam sau này.

Hai mươi năm sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, ngày 11 tháng 7 năm 1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt mới tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia. Ngày 6 tháng 8 năm 1995, lần đầu tiên sau bốn mươi năm, văn phòng đại diện ngoại giao của Mỹ tại Hà Nội được nâng cấp lên thành đại sứ quán. Trong tháng 8 cùng năm, Dự án Hòa giải Mỹ - Đông Dương, tên của một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập từ cách đấy một thập kỷ, đã cung cấp một cơ hội để những thành viên Đội Con Nai và các nhân viên O.S.S được đến Hà Nội, thăm lại địa điểm huấn luyện ở Tân Trào, và gặp gỡ những người lính họ từng hướng dẫn từ nửa thế kỷ trước.. Ông Henry Prunier mặc lại chiếc áo comple đũi ông may ở Hà Nội trước khi được lệnh về nước mà ông vẫn giữ cẩn thận suốt bao năm. Trong bữa tiệc tổ chức tại Hà Nội để chào đón đoàn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến dự. Khi nhìn thấy và nhận ra ông Henry Prunier, Đại tướng đã cầm lấy một quả cam ở trên đĩa và làm động tác xoay người vung tay như là ném trái lựu đạn để ông Henry Prunier thấy Đại tướng không quên người cố vấn quân sự của mình năm xưa. Trong chuyến thăm lại chiến khu Tân Trào, các thành viên toán Con nai đã trở lại nơi họ đã ở. Khi tới cây đa Tân Trào, thiếu tá Thomas kể lại dự định ban đầu là toán sẽ đi bằng đường bộ nhưng do quân Nhật lùng sục rất gắt gao nên toán phải sử dụng đường hàng không. Do thời tiết xấu, viên phi công không nhận ra được dấu hiệu của bãi nhảy dù ở mặt đất nên toán phải nhắm mắt nhảy xuống và dù của thiếu tá Thomas mắc đúng vào cây đa Tân Trào. Sau đó, toán Con Nai được chiêu đãi một bữa thịt bò, và khi nhớ lại, thiếu tá Thomas cười và khen “thịt bò hôm đó ngon."[21]

Khi tới thăm thị xã Thái Nguyên (nay là Thành phố Thái Nguyên) để nhớ lại trận đánh giải phóng thị xã cùng Đại đội Việt - Mỹ, thiếu tá Thomas cho nhà báo Đào Ngọc Ninh xem bức ảnh một ngôi nhà. Ông cho biết, ngôi nhà này là nơi đặt sở chỉ huy của quân giải phóng trong trận đánh và nói ông muốn tìm thăm lại ngôi nhà này. Một cuộc tìm kiếm nhanh chóng được tổ chức, cuối cùng đã tìm được một thầy giáo rất già người địa phương. Ông giáo nhận ra cái cổng của ngôi nhà trong ảnh và dẫn mọi người đến tận nơi. Đó là cơ quan của Điện lực Thái Nguyên bây giờ nhưng may sao, cái cổng từ thời Pháp vẫn còn. Thiếu tá Thomas cho biết, lúc đó, dù nhận được lệnh qua radio là không tham gia các trận chiến đấu với quân Nhật cùng lực lượng Việt Minh, nhưng ông vẫn quyết định không thực hiện mệnh lệnh này.[10]

Năm 2009, Henry Prunier quyết định hiến tặng một hòm tài liệu quý giá cho cho Bảo tàng Lịch sử Quân đội tại Hà Nội, thông qua sự giúp đỡ của David Thomas, cựu Đại tá Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, từng tham chiến ở Pleiku năm 1968.[22] Hòm tài liệu bao gồm Những trang nhật ký, những bức ảnh đen trắng ông Henry Prunier viết, chụp tại Tuyên Quang; bộ quân phục gắn quân hàm phù hiệu, mề đay ông được quân đội Mỹ cấp năm 1946, sau khi từ Việt Nam trở lại Mỹ; tấm danh thiếp in chữ Việt và chữ Trung Quốc của đại đội trưởng Đại đội Việt - Mỹ Đàm Quang Trung, tặng ông trước khi về Mỹ; và sơ đồ vẽ bằng bút chì trên giấy can khu vực nhóm tình báo Con Nai sống và làm việc ở Tuyên Quang năm 1945. Ngoài ra còn có băng ghi âm về những cuộc phỏng vấn, băng ghi hình ghi cảnh quay về Hồ Chí Minh do ông tập hợp từ băng hình của nhiều đài truyền hình và các hãng thông tấn Mỹ và nước ngoài. Giám đốc bảo tàng, thiếu tướng Lê Mã Lương, một cựu chiến binh chiến dịch Khe Sanh, đã gọi món quà của Prunier là “một trong những món quà lịch sử hiến tặng đáng kể nhất mà bảo tàng từng được nhận”. Năm 2011, Henry Prunier được Quân đội Hoa Kỳ trao tặng Huân chưong Sao Đồng vì những đóng góp của ông vào cuộc chiến tranh chống Phát Xít diễn ra 66 năm trước đó, và đồng thời được nhận bằng khen của Chính Phủ Việt Nam vì những đóng góp cho nền độc lập của Việt Nam.[23]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Zumwalt, James (2011). Chân Trần, Chí Thép. NXB Tổng hợp TP HCM. tr. 210. ISBN 0977788431.
  2. ^ a b c Đào Ngọc Ninh (20 tháng 3 năm 2020). “Cố vấn quân sự ban đầu của lực lượng Việt Minh”. Báo Nhân Dân.
  3. ^ Bartholomew-Feis, Dixee (15 tháng 7 năm 2020). “The OSS in Vietnam, 1945: A War of Missed Opportunities”.
  4. ^ Day, David (15 tháng 10 năm 2013). “What Could Have Been”.
  5. ^ Berube, Claude (24 tháng 5 năm 2011). “Ho, Giap and OSS Agent Henry Prunier”. HistoryNet.
  6. ^ a b “OSS in Action The Pacific and the Far East”. National Park Service. 8 tháng 8 năm 2017.
  7. ^ Bartholomew-Feis, Dixee (2019). The OSS and Ho Chi Minh: Unexpected Allies in the War against Japan (Modern War Studies). University Press of Kansas. tr. 209–215. ISBN 0700616527.
  8. ^ Zumwalt, James (2011). Chân Trần, Chí Thép. Chân Trần, Chí Thép. tr. 210–211. ISBN 0977788431.
  9. ^ Berube, Claude (10 tháng 6 năm 2009). “How American Operatives Saved the Man Who Started the Vietnam War”. HistoryNet.
  10. ^ a b c Đào Ngọc Ninh (20 tháng 3 năm 2020). “Cố vấn quân sự ban đầu của lực lượng Việt Minh”. Báo Nhân Dân.
  11. ^ “Kỷ niệm khó quên của người lính Đội Hươu”. Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. 12 tháng 8 năm 2013.
  12. ^ Berube, Claude (24 tháng 5 năm 2011). “Ho, Giap and OSS Agent Henry Prunier”. History Net.
  13. ^ Worthing, Peter (1997). “Strangers in Hanoi: Chinese, Americans, and the Vietnamese August Revolution of 1945”.
  14. ^ Thu Hằng (30 tháng 8 năm 2018). “Archimedes Patti - nhân chứng lịch sử ngày 2-9-1945”. Hà Nội Mới.
  15. ^ Zumwalt, James (2011). Chân Trần, Chí Thép. NXB Tổng hợp TP HCM. tr. 212–213. ISBN 0977788431.
  16. ^ Karnow, Stanley (1997). Vietnam: A History. Penguin Books. ISBN 978-0140265477.
  17. ^ Zumwalt, James (2011). Chân Trần, Chí Thép. 210–211: 0977788431. ISBN 0977788431.Quản lý CS1: địa điểm (liên kết)
  18. ^ Lê Đỗ Huy (15 tháng 6 năm 2016). “Biệt đội Con Nai và một vận hội bị Mỹ bỏ lỡ”. Báo Quân đội Nhân dân.
  19. ^ “Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Truman”. Vietnamnet. 30 tháng 7 năm 2013.
  20. ^ “Vietnam: A Television History; Roots of a War; Interview with Archimedes L. A. Patti”. OpenVault. 1981.
  21. ^ Đào Ngọc Ninh (20 tháng 3 năm 2020). “Cố vấn quân sự ban đầu của lực lượng Việt Minh”. Báo Nhân dân.
  22. ^ Minh Phương (19 tháng 5 năm 2017). “Những chuyện cảm động về Bác Hồ qua lời kể của thành viên nhóm tình báo Con Nai (Mỹ)”. Báo Quân đội Nhân dân.
  23. ^ Trần Thanh Hằng (19 tháng 3 năm 2009). “Nhân chứng sống và kỷ vật về quan hệ Việt-Mỹ trước 1945”. Báo Tiền Phong.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Zumwalt, James (2011). Chân Trần, Chí Thép. NXB Tổng hợp TP HCM. ISBN 0977788431.
  • Dixee, Bartholomew-Feis (2019). The OSS and Ho Chi Minh: Unexpected Allies in the War against Japan (Modern War Studies).University Press of Kansas. ISBN 0700616527
  • Karnow, Stanley (1997). Vietnam: A History. Penguin Books. ISBN 978-0140265477.