Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hoa Kỳ
Huy hiệu áo/Huy hiệu liên đoàn
Biệt danh USWNT
Team USA
The Stars and Stripes
The Yanks
Hiệp hội Liên đoàn bóng đá Hoa Kỳ
Liên đoàn châu lục CONCACAF
(Bắc, Trung Mỹ và Caribe)
Liên đoàn khu vực NAFU (Bắc Mỹ)
Huấn luyện viên Jill Ellis
Đội trưởng Carli Lloyd/Becky Sauerbrunn
Thi đấu nhiều nhất Kristine Lilly (352)
Vua phá lưới Abby Wambach (184)
Mã FIFA USA
Trang phục chính
Trang phục phụ
Xếp hạng FIFA
Hiện tại 1 giữ nguyên (24 tháng 6, 2016)
Cao nhất 1 (Tháng 7, 2003–Tháng 9, 2003
Tháng 3, 2005–Tháng 5, 2005
Tháng 3, 2007–Tháng 9, 2007
Tháng 3, 2008–Tháng 11, 2014
Tháng 7, 2015–)
Thấp nhất 2 (Tháng 10, 2003–Tháng 2, 2005
tháng 6, 2005–Tháng 2, 2007
Tháng 10, 2007–Tháng 2, 2008
Tháng 12, 2014–Tháng 6, 2015)
Trận quốc tế đầu tiên
 Ý 1–0 Hoa Kỳ 
(Jesolo, Ý; 18 tháng 8, 1985)
Trận thắng đậm nhất
 Hoa Kỳ 14–0 Cộng hòa Dominica 
(Vancouver, Canada; 20 tháng 1, 2012)
Trận thua đậm nhất
 Brasil 4–0 Hoa Kỳ 
(Hàng Châu, Trung Quốc; 27 tháng 9, 2007)
Giải vô địch bóng đá nữ thế giới
Số lần tham dự 7 (Lần đầu vào năm 1991)
Kết quả tốt nhất Gold medal with cup.svg Vô địch (1991, 1995, 2015)
Cúp Vàng nữ CONCACAF
Số lần tham dự 7 (Lần đầu vào năm 1991)
Kết quả tốt nhất Vô địch (1991, 1993, 1994, 2000, 2002, 2006, 2014)

Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa Kỳ, hay còn được gọi ngắn gọn với tên USWNT, đại diện cho Hoa Kỳ tại các giải đấu quốc tế. Đội do Liên đoàn bóng đá Hoa Kỳ quản lý và thi đấu tại khu vực CONCACAF.

Đội là một trong những đội bóng đá nữ hàng đầu thế giới với 3 chức vô địch thế giới (trong đó có chức vô địch giải đầu tiên năm 1991), 4 huy chương vàng bóng đá nữ Olympic, bảy lần vô địch Cúp vàng nữ CONCACAF và 10 Cúp Algarve.[1]. Cùng với Đức, Hoa Kỳ là đội tuyển duy nhất từng đứng đầu bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA. Đội hiện đang đứng vị trí số một sau khi trở lại vị trí này vào 10 tháng 7, 2015 nhờ chức vô địch World Cup 2015. Đội được bầu là Đội tuyển của năm của Ủy ban Olympic Hoa Kỳ vào năm 1997 và 1999,[2] còn Sports Illustrated bầu chọn cả đội tuyển là các Nữ vận động viên của năm 1999.[3]

Cũng sau chức vô địch thế giới 2015, đội tuyển được tổ chức buổi diễu hành tung hoa giấy ở thành phố New York, buổi diễu hành tung hoa giấy đầu tiên của một đội thể thao nữ, và nhận giải Outstanding Team tại ESPY Awards 2015 và một giải Teen Choice Award cho Nữ vận động viên yêu thích. Đội một lần nữa được vinh danh vào ngày 27 tháng 10, 2015 khi tổng thống Barack Obama tiếp đón họ tại Nhà Trắng.[4]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi lễ diễu hành mừng chiến thắng trên đại lộ Canyon of HeroesHạ Manhattan để mừng chiến thắng tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015

Đội có trận đấu đầu tiên tại giải Mundialito vào ngày 12 tháng 8, 1985, dưới quyền của huấn luyện viên Mike Ryan, trận đấu mà họ thua 1-0 trước Ý.

Một trong những chiến thắng đáng nhớ nhất là tại World Cup 1999 khi họ vượt qua Trung Quốc 5-4 ở loạt luân lưu trong trận chung kết..[5] Trên 90.000 người (con số lớn nhất cho một sự kiện thể thao nữ) đã lấp đầy sân Rose Bowl để theo dõi trận đấu. Trong loạt luân lưu, Brandi Chastain là người sút thành công quả quyết định và pha ăn mừng của cô trở thành hình ảnh đáng nhớ khi cô quỳ gối xuống mặt cỏ, vẫy chiếc áo thi đấu ăn mừng và để lộ chiếc áo ngực thể thao, hình ảnh sau đó xuất hiện trên bìa tạp chí Sports Illustrated và trang nhất của nhiều tờ báo trong và ngoài nước Mỹ.[6] Chiến thắng này giúp đội trở nên nổi tiếng hơn đồng giúp cho bóng đá nữ nhận được nhiều sự chú ý hơn, cũng như tạo động lực cho những cô gái trẻ tham gia vào các môn thể thao.[7]

Vào tháng 3 năm 2004, 2 trong số các cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử của bóng đá nữ Hoa Kỳ nói riêng và bóng đá nữ thế giới nói chung, Mia Hamm (người sẽ giải nghệ trong năm 2004 sau khi kết thúc Thế vận hội Mùa hè 2004) và Michelle Akers (người đã giải nghệ), là 2 cầu thủ nữ cũng như 2 người Mỹ duy nhất có tên trong danh sách FIFA 100 gồm 125 cầu thủ vĩ đại nhất còn sống do Pelé bầu chọn nhân kỷ niệm 100 năm FIFA ra đời.

Tại Thế vận hội Mùa hè 2012, Hoa Kỳ giành huy chương vàng thứ 4 trong 5 lần dự Olympic khi hạ Nhật Bản 2-1 ở trận chung kết trước 80.203 cổ động viên có mặt trên sân Wembley.[8] Trước đó trong trận bán kết gặp Canada, các cầu thủ Mỹ đã 3 lần vươn lên dẫn trước trước khi cú đánh đầu thành bàn của Alex Morgan ở phút thứ 3 thời gian bù giờ hiệp phụ thứ 2 ấn định chiến thắng 4-3. Bàn thắng của Morgan (phút thứ 123) là bàn thắng được ghi muộn nhất trong một trận đấu do FIFA tổ chức.[9]

Vào năm 2013, Hoa Kỳ giữ kỉ lục bất bại với 14 thắng và 2 hòa và là một phần trong chuỗi 43 trận kéo dài trong 2 năm. Chuỗi 43 trận bất bại kết thúc sau thất bại 1-0 trong trận gặp Thụy ĐiểnCúp Algarve 2014. Chuỗi trận bắt đầu bằng trận thắng 4-0 trước chính Thụy Điển tại Cúp Algarve 2012 sau trận thua 1-0 trước Nhật Bản.[10][11] Vào tháng 12 năm 2013, USSF công bố đội hình 11 cầu thủ nữ xuất sắc nhất mọi thời đại của đội tuyển quốc gia USWNT All-Time Best XI.

Ngày 5/7/2015, Hoa Kỳ đánh bại Nhật 5-2 trong trận chung kết Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015, giành chức vô địch World Cup thứ ba của mình. Carli Lloyd ghi 3 bàn trong vòng 16 phút đầu tiên của trận đấu, trong đó có một bàn từ khoảng cách 52 mét, trở thành hat-trick nhanh nhất kể từ lúc bắt đầu trận đấu.

Hình ảnh của đội[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Việc truyền hình trực tiếp tại Mỹ cho 5 kì World Cup nữ từ 1995 tới 2011 được cung cấp bởi ESPN/ABC và Univision,[12][13] trong khi bản quyền của ba kì World Cup nữ từ 2015 tới 2023 được trao cho Fox SportsTelemundo.[14][15] Vào tháng 5 năm 2014 một hợp đồng được ki kết để phân chia bản quyền phủ sóng truyền hình của các trận đấu của đội tuyển nữ Hoa Kỳ giữa ESPN, Fox Sports, và Univision cho tới cuối năm 2022.[16] Các trận của đội tuyển tại Giải vô địch bóng đá nữ CONCACAF 2014Cúp Algarve 2015 được Fox Sports phát sóng.[17][18]

Trận đấu được nhiều người theo dõi nhất của đội là trận chung kết World Cup 1999 với Trung Quốc, với kỉ lục số người tới sân xem cao nhất cho một sự kiện thể thao nữ: 90.185 người có mặt tại Rose Bowl ở California.[19] Trận đấu giữ kỉ lục số người xem cao nhất tại Mỹ cho một trận đấu bóng đá nữ với trung bình 17,975 triệu người xem[20] và ước tính ít nhất 40 triệu lượt người xem,[21] và là trận đấu bóng đá (cả nam và nữ) phát sóng bằng tiếng Anh được nhiều người xem nhất cho tới trận chung kết World Cup 2015 giữa Mỹ và Nhật.[22]

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Màu trang phục của đội tuyển Mỹ kể từ khi thành lập hầu hết là xen kẽ giữa đỏ, trắng, hoặc xanh lam (màu quốc kỳ), với một số ngoại lệ như màu vàng ánh kim vào năm 2007,[23] màu đen vào năm 2011,[24] hay viền đen cùng tất màu xanh neon tại World Cup 2015. Năm 2012 đội bắt đầu mặc cùng màu áo với đội tuyển nam Hoa Kỳ, bắt đầu với bộ trang phục sọc ngang đỏ và trắng.[25] Nike là nhà cung cấp trang phục thi đấu của LĐBĐ Mỹ vào năm 1995, và có thỏa thuận cung cấp trang phục cho tới năm 2022.[26] Đội tuyển nữ Hoa Kỳ bắt đầu mang hai ngôi sao trên huy hiệu kể từ 1999 để tượng trưng cho hai chức vô địch thế giới.[27] Ngôi sao thứ ba được thêm vào tháng 7 năm 2015.[28]

Sân nhà 1986–1996
1986–1996
1991–1994
1991–1994
1991–1998
Sân nhà 1999
Sân khách 1999[29]
1999–2004
2000–2002
2003
2003[29]
2004
2004
Sân nhà 2005–2007
Sân khách 2005–2007
2007–2009[23]
Sân nhà 2007-2009[23]
Sân khách 2007–2008[23]
Sân khách 2008–2009
Sân nhà 2010–2011[30]
Sân khách 2010–2011[31]
Sân nhà 2011–2012[32]
Sân khách 2011–2012[24]
Sân nhà 2012–2013[25]
2012–2013[33]
Sân nhà 2013[34]
Sân nhà 2014–2015[35]
Sân khách 2014–2015[36]
Sân nhà 2015–2016 [37]
Sân khách 2015–2016 [38]
Sân nhà 2016– [39]
Sân khách 2016– [39]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá nữ thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Danh hiệu Trận Thắng Hoà Thua Bàn thắng Bàn thua Huấn luyện viên
Trung Quốc 1991 Vô địch 6 6 0 0 25 5 Anson Dorrance
Thụy Điển 1995 Hạng ba 6 4 1 1 15 5 Tony DiCicco
Hoa Kỳ 1999 Vô địch 6 5 1 0 18 3 Tony DiCicco
Hoa Kỳ 2003 Hạng ba 6 5 0 1 15 5 April Heinrichs
Trung Quốc 2007 Hạng ba 6 4 1 1 12 7 Greg Ryan
Đức 2011 Á quân 6 3 2 1 13 7 Pia Sundhage
Canada 2015 Vô địch 7 6 1 0 14 3 Jill Ellis
Tổng cộng 7/7 43 33 6 4 112 35

Thế vận hội Mùa hè[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Danh hiệu Trận Thắng Hoà Thua Bàn thắng Bàn thua Huấn luyện viên
Hoa Kỳ 1996 Vô địch 5 4 1 0 9 3 Tony DiCicco
Úc 2000 Á quân 6 4 1 1 9 5 April Heinrichs
Hy Lạp 2004 Vô địch 6 5 1 0 12 4 April Heinrichs
Trung Quốc 2008 Vô địch 6 5 0 1 12 5 Pia Sundhage
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 2012 Vô địch 6 6 0 0 16 6 Pia Sundhage
Brasil 2016 - - - - - - -
Tổng cộng 5/5 29 24 3 2 58 23

Cúp vàng CONCACAF[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả Trận Thắng Hoà Thua Bàn thắng Bàn thua Huấn luyện viên
Haiti 1991 Vô địch 5 5 0 0 49 0 Anson Dorrance
Hoa Kỳ 1993 Vô địch 3 3 0 0 13 0 Anson Dorrance
Canada 1994 Vô địch 4 4 0 0 16 1 Tony DiCicco
Canada 1998
Không tham dự1
Hoa Kỳ 2000 Vô địch 5 4 1 0 24 1 April Heinrichs
Hoa KỳCanada 2002 Vô địch 5 5 0 0 24 1 April Heinrichs
Hoa Kỳ 2006 Vô địch 2 2 0 0 4 1 Greg Ryan
México 2010 Hạng ba 5 4 0 1 22 2 Pia Sundhage
Hoa Kỳ 2014 Vô địch 5 5 0 0 21 0 Jill Ellis
Tổng cộng 8/9 34 32 1 1 173 6

1 Vì giải này đóng vai trò vòng loại World Cup còn Hoa Kỳ đặc cách vào thắng VCK World Cup 1999 với tư cách chủ nhà nên không tham gia vòng loại.

Cúp Algarve[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả Trận Thắng Hòa Thua BT BB
1994 Á quân 3 2 0 1 6 1
1995 Hạng 4 4 2 1 1 8 5
1996-1997 Không tham dự
1998 Hạng 3 4 3 0 1 10 6
1999 Á quân 4 2 1 1 8 4
2000 Vô địch 4 4 0 0 11 1
2001 Hạng 6 4 1 0 3 5 9
2002 Hạng 5 4 2 1 1 8 6
2003 Vô địch 4 2 2 0 5 2
2004 Vô địch 4 3 0 1 11 5
2005 Vô địch 4 4 0 0 9 0
2006 Á quân 4 2 2 0 9 1
2007 Vô địch 4 4 0 0 8 3
2008 Vô địch 4 4 0 0 12 1
2009 Á quân 4 3 1 0 5 1
2010 Vô địch 4 4 0 0 9 3
2011 Vô địch 4 4 0 0 12 3
2012 Hạng 3 4 3 0 1 11 2
2013 Vô địch 4 3 1 0 11 1
2014 Hạng 7 4 1 1 2 7 7
2015 Vô địch 4 3 1 0 7 1
Tổng[40] 19/21 79 56 11 12 172 62

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách 18 cầu thủ triệu tập cho Thế vận hội Mùa hè 2016.

Số trận và bàn thắng tính đến 9 tháng 7, 2016.

0#0 VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số lần
khoác áo
Bàn thắng Câu lạc bộ
1 1TM Hope Solo 30 tháng 7, 1981 (35 tuổi) 197 0 Hoa Kỳ Seattle Reign FC
18 1TM Alyssa Naeher 20 tháng 4, 1988 (28 tuổi) 6 0 Hoa Kỳ Chicago Red Stars
4 2HV Becky Sauerbrunn (c) 6 tháng 6, 1985 (31 tuổi) 108 0 Hoa Kỳ FC Kansas City
11 2HV Ali Krieger 28 tháng 7, 1984 (32 tuổi) 90 1 Hoa Kỳ Washington Spirit
5 2HV Kelley O'Hara 4 tháng 8, 1988 (28 tuổi) 81 2 Hoa Kỳ Sky Blue FC
7 2HV Meghan Klingenberg 2 tháng 8, 1988 (28 tuổi) 64 3 Hoa Kỳ Portland Thorns FC
8 2HV Julie Johnston 6 tháng 4, 1992 (24 tuổi) 38 8 Hoa Kỳ Chicago Red Stars
6 2HV Whitney Engen 28 tháng 11, 1987 (28 tuổi) 36 4 Hoa Kỳ Boston Breakers
10 3TV Carli Lloyd (c) 16 tháng 7, 1982 (34 tuổi) 223 87 Hoa Kỳ Houston Dash
17 3TV Tobin Heath 29 tháng 5, 1988 (28 tuổi) 118 15 Hoa Kỳ Portland Thorns FC
15 3TV Megan Rapinoe 5 tháng 7, 1985 (31 tuổi) 113 31 Hoa Kỳ Seattle Reign FC
14 3TV Morgan Brian 26 tháng 2, 1993 (23 tuổi) 53 4 Hoa Kỳ Houston Dash
9 3TV Lindsey Horan 26 tháng 5, 1994 (22 tuổi) 19 3 Hoa Kỳ Portland Thorns FC
3 3TV Allie Long 13 tháng 8, 1987 (29 tuổi) 9 2 Hoa Kỳ Portland Thorns FC
13 4 Alex Morgan 2 tháng 7, 1989 (27 tuổi) 111 67 Hoa Kỳ Orlando Pride
12 4 Christen Press 29 tháng 12, 1988 (27 tuổi) 69 33 Hoa Kỳ Chicago Red Stars
16 4 Crystal Dunn 3 tháng 7, 1992 (24 tuổi) 34 13 Hoa Kỳ Washington Spirit
2 4 Mallory Pugh 29 tháng 4, 1998 (18 tuổi) 13 2 Hoa Kỳ UCLA Bruins

Ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Ban huấn luyện hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí Tên Thời gian nhậm chức
Huấn luyện viên trưởng Anh Hoa Kỳ Jill Ellis Tháng 5, 2014
Trợ lý huấn luyện viên Thụy Điển Tony Gustavsson Tháng 6, 2014
Huấn luyện viên thủ môn Anh Graeme Abel Tháng 3, 2015
Huấn luyện viên thể lực Anh Dawn Scott Tháng 2, 2011

Nguồn:[1]

Các đời huấn luyện viên trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Thời gian Số trận Thắng Hòa Thua
Cộng hòa Ireland Hoa Kỳ Ryan, MikeMike Ryan 1985 4 0 1 3
Hoa Kỳ Dorrance, AnsonAnson Dorrance 1986-1994 93 66 5 22
Hoa Kỳ DiCicco, TonyTony DiCicco 1994-1999 119 103 8 8
Hoa Kỳ Gregg, LaurenLauren Gregg 1997-2000 3 2 1 0
Hoa Kỳ Heinrichs, AprilApril Heinrichs 2000-2004 124 87 20 17
Hoa Kỳ Ryan, GregGreg Ryan 2005-2007 55 45 9 1
Thụy Điển Sundhage, PiaPia Sundhage 2007-2012 107 91 10 6
Scotland Sermanni, TomTom Sermanni 2013-2014 23 17 4 2
AnhHoa Kỳ Ellis, JillJill Ellis 2012, 2014-nay 59 47 9 3
Tổng 573 445 67 61
Số liệu thống kê chính xác tới 10 tháng 4, 2015

Kết quả và lịch thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

2015[sửa | sửa mã nguồn]

2016[sửa | sửa mã nguồn]

Kỉ lục cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển nữ Hoa Kỳ là đội tuyển sở hữu 6 cầu thủ đầu tiên trong lịch sử bóng đá khoác áo đội tuyển quốc gia đủ 200 lần (cả nam và nữ) gồm: Kristine Lilly, Christie Rampone, Mia Hamm, Julie Foudy, Joy Fawcett, Tiffeny Milbrett. Sau này còn có nhiều cầu thủ nữ của các quốc gia khác lặp lại thành tích này gồm Phổ VĩLí Cát của Trung Quốc, Birgit Prinz của Đức, Katrine Pedersen của Đan Mạch, Christine Sinclair của Canada, Therese Sjögran của Thụy Điển cùng Sawa Homare của Nhật Bản, cũng như 4 cầu thủ Mỹ gồm: Kate Markgraf, Abby Wambach, Heather O'Reilly và Carli Lloyd. Kristine Lilly và Christie Rampone là những cầu thủ duy nhất có trên 300 trận quốc tế.

Các cầu thủ vẫn còn thi đấu in đậm. Số liệu tính tới 5/6/2016

Danh sách đội trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian Tên Trận Bàn Thời gian thi đấu
1985 Denise Bender[42] 4 0 1985
1986-1987 Emily Pickering[43] 15 2 1985-1992
1988-1991 Lori Henry 39 3 1985-1991
1991 April Heinrichs[44] 46 35 1986-1991
1993-2000 Carla Overbeck[45] 168 4 1988-2000
2000-2004 Julie Foudy[46] 271 45 1987-2004
2004-2008 Kristine Lilly 352 130 1987-2010
2008-2015 Christie Rampone 311 4 1997-2015
2010-2015 Abby Wambach 255 184 2001-2015
2016- Carli Lloyd 222 87 2005-
2016- Becky Sauerbrunn 107 0 2008-

Danh hiệu khác[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “U.S. SOCCER FEDERATION 2015 WOMEN'S NATIONAL TEAM MEDIA GUIDE (PDF)”. U.S. Soccer. 1 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2015. 
  2. ^ “USOC Olympic Athlete and Team Awards”. U.S. Olympic Committee. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015. 
  3. ^ “U.S Women Finish 1999 on Top of the Sporting World as Sports Illustrated Names Women's World Cup Champs 1999”. U.S. Soccer. 13 tháng 12 năm 1999. 
  4. ^ “Obama welcomes women's US World Cup team to White House”. Channel NewsAsia. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2015. 
  5. ^ “SOCCER; 1999 Women's World Cup: Beautiful Game Takes Flight”. Nytimes.com. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012. 
  6. ^ Author: sigroup (4 tháng 5 năm 2012). “Brandi Chastain « Inside Sports Illustrated”. Insidesportsillustrated.com. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2012. 
  7. ^ Dare to Dream. Ouisie Shapiro. HBO Productions, 19/9/2007. Video
  8. ^ “U.S. tops Japan for soccer gold”. ESPN.com. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  9. ^ “U.S. Women's National Team Squares Off Against Australia on Wednesday in Fan Tribute Tour”. USSoccer.com. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  10. ^ “Streak's snapped, but US must regroup in Algarve”. Equalizer soccer. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. 
  11. ^ “Newspaper reminder of magnitude of Sweden's win”. Equalizer soccer. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. 
  12. ^ Wagman, Robert (2 tháng 11 năm 2005). “ABC/ESPN, Univision pay record $425 million for men's, women's Cups through 2014”. soccertimes.com. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  13. ^ Deitsch, Richard (16 tháng 12 năm 2014). “Fox's Women's World Cup TV schedule includes games on main network”. Sports Illustrated. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  14. ^ Longman, Jere (21 tháng 10 năm 2011). “Fox and Telemundo Win U.S. Rights to World Cups”. NY Times. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  15. ^ Parker, Ryan (13 tháng 2 năm 2013). “2026 World Cup TV rights awarded without bids; ESPN 'surprised'. LA Times. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  16. ^ “U.S. Soccer and MLS Sign Landmark TV Deals”. 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  17. ^ Le Miere, Jason (15 tháng 10 năm 2014). “USA Women's Soccer World Cup Qualifying: Schedule, TV Channel And Preview For Concacaf Championship”. International Business Times. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  18. ^ “WNT Opens its 20th Algarve Cup against Norway”. U.S. Soccer. 3 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  19. ^ “FIFA Women's World Cup - USA 1999 Overview”. FIFA. 
  20. ^ Brown, Maury (23 tháng 6 năm 2014). “U.S.A. Vs. Portugal Highest-Rated Ever World Cup Match for ESPN”. Forbes. 
  21. ^ “WOMEN'S WORLD CUP; And Strong TV Ratings, Too”. NY Times. 12 tháng 7 năm 1999. 
  22. ^ Sandomir, Richard (6 tháng 7 năm 2015). “Women's World Cup Final Was Most-Watched Soccer Game in United States History”. NY Times. 
  23. ^ a ă â b “Women's National Team Unveils New 2007 World Cup Jerseys”. U.S. Soccer. 20 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. 
  24. ^ a ă Chappell, Bill (8 tháng 7 năm 2011). “U.S. Women Likely To Wear 'Black Widow' Uniforms Against Brazil”. National Public Radio. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. 
  25. ^ a ă “U.S. Men's and Women's National Teams Unveil New Nike Home Jersey”. U.S. Soccer. 16 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. 
  26. ^ “Nike and U.S. Soccer Renew Long-Term Partnership that will Extend Relationship into Fourth Decade”. U.S. Soccer. 20 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. 
  27. ^ Boudway, Ira (21 tháng 11 năm 2014). “Nike Doesn't Sell U.S. Women's National Soccer Team Jerseys to Men”. Bloomberg. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. 
  28. ^ “USWNT Official Twitter victory announcement”. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2015. 
  29. ^ a ă Schwarz, Joe (18 tháng 2 năm 2015). “Comparing the new USWNT World Cup Away Jersey to the last four”. soccer.com. 
  30. ^ Black, Michael (1 tháng 4 năm 2010). “Soccer: U.S. women slip 'n' slide past Mexico”. Deseret News. 
  31. ^ “U.S. Defeats Germany 1-0 in Augsburg, Germany”. U.S. Soccer. 29 tháng 10 năm 2009. 
  32. ^ Cohen, Aubrey (28 tháng 6 năm 2011). “Are U.S. women's latest uniforms the ugliest yet?”. seattlepi. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. 
  33. ^ “U.S. Men's National Team Unveils New Nike Away Kit Against Italy”. U.S. Soccer. 29 tháng 2 năm 2012. 
  34. ^ “U.S. Soccer and Nike Unveil New U.S. Men's and Women's Kit Celebrating 100 Years of U.S. Soccer”. U.S. Soccer. 1 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. 
  35. ^ Yomtov, Jesse (3 tháng 3 năm 2014). “U.S. reveals 2014 World Cup jersey, and it looks like a polo shirt”. USA Today. 
  36. ^ “U.S. Soccer Unveils 2014 National Team Away Kit”. U.S. Soccer. 1 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. 
  37. ^ “U.S. Women's National Team Unveils New 2015 Nike Home Kit”. U.S. Soccer. 22 tháng 4 năm 2015. 
  38. ^ “U.S. MNT and WNT 2015 Nike Away Kit Debuts This March”. U.S. Soccer. 16 tháng 2 năm 2015. 
  39. ^ a ă “2016 USA National Team Jerseys Unveiled”. USSoccer. 17 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2016. 
  40. ^ “Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation”. Rsssf.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2015. 
  41. ^ a ă “All-Time Leaders”. U.S. Soccer. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. 
  42. ^ US Soccer (26 tháng 3 năm 2010). “US Women Set To Face Mexico in San Diego”. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010. 
  43. ^ Long Island Junior Soccer (2 tháng 8 năm 2011). “Pat Grecco's Wall of Fame: Emily Pickering”. 
  44. ^ soccertimes. “Head Coach U.S. Women's National Team”. 
  45. ^ “Carla Overbeck”. North Carolina Soccer Hall of Fame. 
  46. ^ “Hamm, Foudy enshrined into Hall of Fame”. ESPN. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013. 
  47. ^ US Cup (Women) rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  48. ^ Four Nations Tournament (Women - Held in China) rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  49. ^ 2006 Peace Queen Cup rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  50. ^ 2008 Peace Queen Cup rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  51. ^ DFB Centenary Tournament 2000 rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  52. ^ Pacific Cup (Women) 2000 rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  53. ^ Brazil Cup 1996 rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  54. ^ North America Cup 1987 rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  55. ^ North America Cup 1990 rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  56. ^ Canada Cup 1990 rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  57. ^ Australia Cup 1999-2004 rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  58. ^ Tournoi International Feminin 1995 rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  59. ^ Chiquita Cup 1994 rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  60. ^ Tri-Nations Tournament 1994 (Trinidad) rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  61. ^ Goodwill Games 1998 rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.
  62. ^ Colombus Cup 1993 rsssf.com. Truy cập 12 tháng 10, 2013.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Vị trí thể thao
Tiền nhiệm:
Vô địch giải đầu tiên
Vô địch thế giới
1991
Kế nhiệm:
 Na Uy
Tiền nhiệm:
 Na Uy
Vô địch thế giới
1999
Kế nhiệm:
 Đức
Tiền nhiệm:
 Nhật Bản
Vô địch thế giới
2015
Kế nhiệm:
-
Tiền nhiệm:
Vô địch giải đầu tiên
Thế vận hội mùa hè
1996
Kế nhiệm:
Na Uy 
Tiền nhiệm:
Na Uy 
Vô địch Thế vận hội
2004, 2008, 2012
Kế nhiệm:
Chưa xác định
Tiền nhiệm:
Vô địch giải đầu tiên
Vô địch CONCACAF
1991; 1993; 1994;
Kế nhiệm:
 Canada
Tiền nhiệm:
 Canada
Vô địch CONCACAF
2000; 2002; 2006
Kế nhiệm:
 Canada
Tiền nhiệm:
 Canada
Vô địch CONCACAF
2014
Kế nhiệm:
-