Bước tới nội dung

Đội tuyển bóng đá quốc gia Đông Timor

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đông Timor
Biệt danhO Sol Nascente (Mặt trời mọc)
Lafaek (Bầy cá sấu)
Hiệp hộiLiên đoàn bóng đá Đông Timor
Liên đoàn châu lụcAFC (Châu Á)
Liên đoàn khu vựcAFF (Đông Nam Á)
Huấn luyện viên trưởngMilan Petkovic
Đội trưởngArmindo de Almeida[1]
Thi đấu nhiều nhấtAnggisu Barbosa (30)
Ghi bàn nhiều nhấtRufino Gama (7)
Sân nhàSân vận động Quốc gia Dili
Mã FIFATLS
Áo màu chính
Áo màu phụ
Hạng FIFA
Hiện tại 198 Giữ nguyên (ngày 19 tháng 1 năm 2026)[2]
Cao nhất146 (6.2015)
Thấp nhất206 (10.2012)
Hạng Elo
Hiện tại 227 Giảm 1 (30 tháng 11 năm 2022)[3]
Cao nhất215 (6.2015)
Thấp nhất228 (24.10.2010)
Trận quốc tế đầu tiên
 Sri Lanka 3–2 Đông Timor 
(Colombo, Sri Lanka; 21 tháng 3 năm 2003)[4]
Trận thắng đậm nhất
 Đông Timor 5-1 Campuchia 
(Yangon, Myanmar; 5 tháng 10 năm 2012)
Trận thua đậm nhất
 Đông Timor 0-10 Ả Rập Xê Út 
(Dili, Đông Timor; 17 tháng 11 năm 2015)  Đông Timor 0-10 Thái Lan 
(Hà Nội, Việt Nam; 8 tháng 12 năm 2024)

Đội tuyển bóng đá quốc gia Đông Timor (tiếng Bồ Đào Nha: Seleção Timorense de Futebol) đại diện cho Đông Timor trong bóng đá nam cấp độ quốc tế. Đội được tổ chức bởi Liên đoàn bóng đá Đông Timor (Federação de Futebol de Timor-Leste – FFTL), trực thuộc Liên đoàn Bóng đá châu Á (AFC) và Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF). Họ chính thức trở thành thành viên của FIFA vào ngày 12 tháng 9 năm 2005.[5] Trang phục thi đấu truyền thống của đội chủ yếu có màu đỏ nhạt, thường kết hợp với quần đen và đôi khi được điểm thêm chi tiết màu vàng. Đông Timor thường được gọi thân mật là “Lafaek”, hay “Những chú Cá sấu”, một loài vật mang tính biểu tượng đối với quốc gia này.

Đông Timor có trận ra mắt quốc tế tại vòng sơ loại Cúp bóng đá châu Á 2004 vào tháng 3 năm 2003, khi họ để thua Sri Lanka 3–2 và Đài Bắc Trung Hoa 3–0.[6] Chiến thắng quốc tế đầu tiên của Đông Timor diễn ra vào ngày 5 tháng 10 năm 2012 trước Campuchia với tỉ số 5–1.[7]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kì đầu (2003–2017)

[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng đá được du nhập vào Đông Timor trong thời kỳ thuộc địa Bồ Đào Nha, khi người dân địa phương cũng như các quan chức Bồ Đào Nha chơi bóng đá nghiệp dư. Sau khi Bồ Đào Nha chấm dứt ách cai trị thuộc địa, Indonesia tiến hành xâm lược và chiếm đóng hòn đảo, dẫn đến một cuộc kháng chiến lâu dài chống lại lực lượng do Jakarta lãnh đạo. Đông Timor cuối cùng giành được độc lập khỏi Indonesia vào năm 2002.

Liên đoàn Bóng đá Đông Timor được chấp nhận là thành viên liên kết của AFC tại Đại hội AFC lần thứ 20 vào năm 2002. Trận đấu quốc tế đầu tiên của họ diễn ra vào tháng 3 năm 2003 trong khuôn khổ vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2004 tổ chức tại Trung Quốc. Với bối cảnh lịch sử đặc biệt, không bất ngờ khi họ sớm dừng bước sau các thất bại trước Sri Lanka và Đài Bắc Trung Hoa. Sau đó, họ lần đầu tiên tham dự giải đấu khu vực khi góp mặt ở AFF Cup 2004 với tư cách khách mời. Đông Timor xếp cuối bảng, phản ánh thực tế rằng họ vẫn còn phải nỗ lực rất nhiều mới mong đủ sức cạnh tranh ở sân chơi khu vực.

Họ tiếp tục thất bại tại vòng loại AFF Cup 2007, với bốn trận thua đậm, bao gồm thất bại 0–7 trước Philippines. Năm sau, tại vòng loại AFF Cup 2008, Đông Timor bất ngờ cầm hòa Campuchia – một kết quả được truyền thông quốc tế đưa tin.

Chiến thắng đầu tiên

[sửa | sửa mã nguồn]

Tại vòng loại AFF Cup 2012, liên đoàn FFTL đã triệu tập các cầu thủ thi đấu ở nước ngoài (Brasil, Bồ Đào Nha, Úc và các quốc gia khác) để tăng cường sức mạnh, tương tự như cách họ từng làm tại SEA Games 2011.[8]

Đông Timor có chiến thắng đầu tiên trong lịch sử khi đánh bại Campuchia 5–1 năm 2012 dưới sự dẫn dắt của Emerson Alcântara.

Dưới sự dẫn dắt của HLV Emerson Alcântara, Đông Timor giành chiến thắng 5–1 trước Campuchia vào ngày 5 tháng 10 năm 2012, đây là trận thắng quốc tế đầu tiên trong lịch sử, với cú đúp của Murilo de Almeida, cùng các bàn thắng của Adelino Trindade và Alan Leandro.[9] Bốn ngày sau, ngày 9 tháng 10 năm 2012, Đông Timor đánh bại Lào 3–1: Murilo de Almeida ghi bàn từ chấm phạt đền ở phút 43, Adelino Trindade nâng tỉ số bằng một cú đánh đầu đầu hiệp hai, và Alan Leandro ấn định kết quả ở phút 83. HLV Alcântara phát biểu sau chiến thắng thứ hai này: “Đây là chiến thắng dành cho người dân Đông Timor. Họ đã phải chờ đợi rất lâu để được thấy đội tuyển giành chiến thắng trong giải đấu này, và giờ chúng tôi đã có hai trận thắng. Khoảng 70% dân số Đông Timor đang sống trong nghèo khó, vì vậy kết quả này vô cùng ý nghĩa: bóng đá mang đến niềm tin, sự tự hào và động lực để thay đổi cuộc sống.”[10] Tuy nhiên, khi buộc phải thắng ở trận cuối vòng bảng, Đông Timor đã thua Brunei 1–2, kết thúc ở vị trí thứ ba, kém 1 điểm so với đội nhì bảng Lào – qua đó lỡ cơ hội dự vòng bảng AFF Cup 2012. Tại vòng loại AFF Cup 2014, họ thắng Brunei 4–2, sau đó cầm hòa Myanmar 0–0 ngày 14 tháng 10 năm 2014, nhưng vẫn không thể vượt qua vòng loại.

Vòng loại World Cup 2018 – Vòng hai khu vực AFC

[sửa | sửa mã nguồn]

Tại vòng loại World Cup 2018, Đông Timor gặp Mông Cổ ở vòng một. Ngày 12 tháng 3 năm 2015, họ giành chiến thắng 4–1 trên sân nhà – chiến thắng quốc tế đầu tiên trước một đối thủ ngoài Đông Nam Á. Lượt về tại Ulaanbaatar, họ thắng 1–0, tổng tỉ số 5–2 và lọt vào vòng hai. Tuy nhiên, ngày 12 tháng 12 năm 2017, FIFA xử thắng 3–0 cả hai trận cho Mông Cổ vì Đông Timor sử dụng nhiều cầu thủ không hợp lệ. Dù vậy, do thời điểm quyết định đưa ra sau khi vòng hai đã kết thúc, Mông Cổ không được tái tham dự, và Đông Timor vẫn thi đấu vòng hai. Tại vòng hai, Đông Timor cùng bảng với Ả Rập Xê Út, UAE, PalestineMalaysia. Ngày 11 tháng 6 năm 2015, Ramon Saro ghi bàn ở phút bù giờ 90+3 giúp Đông Timor cầm hòa Malaysia 1–1 tại sân Bukit Jalil, giành điểm số lịch sử đầu tiên. Ngày 8 tháng 10 năm 2015, trên sân nhà, Saro lại ghi bàn mở tỉ số trước Palestine, nhưng Ahmad Abu Nahyeh gỡ hòa phút cuối, ấn định kết quả 1–1. Tuy nhiên, Timor-Leste phải hủy kết quả năm trận do dùng cầu thủ không hợp lệ. Kể từ sau trận cuối gặp Ả Rập Xê Út ngày 17 tháng 11 năm 2015, họ không còn được phép thi đấu trên sân nhà ở Dili vì sân vận động quốc gia không đạt chuẩn FIFA. Họ kết thúc bảng đấu ở vị trí cuối cùng. Trong khuôn khổ vòng loại Asian Cup 2019, Đông Timor phải dùng sân Tan Sri Dato Haji Hassan Yunos tại Johor Bahru (Malaysia) làm sân nhà khi gặp Malaysia.

Năm 2016, tại Cúp bóng đá đoàn kết châu Á 2016Kuching, họ hòa Nepal 0–0. Năm 2017, tham dự Giải quốc tế CTFA tại Đài Loan, Đông Timor đánh bại Philippines 1–0 nhờ bàn thắng duy nhất của Silveiro Garcia.

Hai kỳ AFF Cup liên tiếp (2018–2020)

[sửa | sửa mã nguồn]
Đông Timor đối đầu với kình địch trong khu vực là Brunei trong vòng loại Giải vô địch ASEAN Cup 2024.

Đông Timor sau đó đã giành quyền tham dự AFF Cup 2018 lần đầu tiên sau 14 năm khi vượt qua Brunei ở vòng loại với tổng tỉ số 3–2. Họ thi đấu trận “sân nhà” gặp Thái Lan tại sân RajamangalaBăng Cốc, trong khi trận sân nhà gặp Philippines được tổ chức tại sân Kuala LumpurMalaysia do sân vận động quốc gia của Đông Timor chưa hoàn thiện hệ thống chiếu sáng. Đến AFF Cup 2020, Đông Timor được vào thẳng sau khi Brunei rút lui ở vòng play-off.

Ngôi sao trẻ nổi lên (2021–nay)

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong trận lượt đi vòng play-off vòng loại Asian Cup 2027 ngày 5 tháng 9 năm 2024, João Pedro trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử Đông Timor lập hat-trick, góp công lớn trong chiến thắng 4–1 trước Mông Cổ khi thi đấu trên sân trung lập Kapten I Wayan Dipta ở Gianyar, Bali. Đến tháng 10 năm 2024, Đông Timor đối đầu Brunei – đội khi đó đang có chuỗi 5 trận thắng liên tiếp – tại vòng loại AFF Cup 2024. Chung cuộc, Đông Timor giành chiến thắng với tổng tỉ số 1–0 nhờ bàn thắng duy nhất của Gali Freitas, qua đó giành quyền góp mặt tại AFF Cup 2024, nơi họ sẽ thi đấu các trận tại sân Hàng Đẫy (Hà Nội).

ASEAN Cup 2024

[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 28 tháng 12 năm 2024, màn trình diễn của Đông Timor tại ASEAN Cup 2024 khá tệ hại, khi họ để thua toàn bộ và sớm bị loại. Đội tuyển thi đấu 4 trận, mở màn bằng thất bại nặng nề nhất kể từ năm 2015 khi thua Thái Lan 0–10 vào ngày 8 tháng 12.[11] Sau đó, họ đối đầu Malaysia ngày 11 tháng 12, mặc dù thi đấu đầy nỗ lực nhưng vẫn thua 2–3. Khó khăn tiếp diễn khi gặp Singapore vào ngày 14 tháng 12 với thất bại 0–3. Ở trận cuối vòng bảng gặp Campuchia ngày 17 tháng 12, Đông Timor bị hạ gục với tỉ số 1–2.[12] Chung cuộc, Đông Timor kết thúc giải đấu với thành tích toàn thua cả 4 trận, chỉ ghi được 2 bàn nhưng để thủng lưới đến 18 bàn, hiệu số -16. Họ không giành nổi một chiến thắng nào và trở thành đội đầu tiên bị loại khỏi ASEAN Cup 2024.[13]

Trong trận đấu vòng loại thứ ba Asian Cup 2027 ngày 10 tháng 6 năm 2025, João Pedro ghi bàn thắng duy nhất giúp Đông Timor đánh bại Maldives 1–0, đồng thời chính thức trở thành chân sút vĩ đại nhất lịch sử đội tuyển.

Thành tích quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]
Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
Uruguay 1930 đến Tây Đức 1974 Một phần của  Bồ Đào Nha Một phần của  Bồ Đào Nha
Argentina 1978 đến Pháp 1998 Một phần của  Indonesia Một phần của  Indonesia
Hàn Quốc Nhật Bản 2002 Không phải thành viên của FIFA Không phải thành viên của FIFA
Đức 2006 Không tham dự Không tham dự
Cộng hòa Nam Phi 2010 Không vượt qua vòng loại 2 0 0 2 3 11
Brasil 2014 2 0 0 2 1 7
Nga 2018 10 2 2 6 7 37
Qatar 2022 2 0 0 2 2 12
Canada México Hoa Kỳ 2026 2 0 0 2 0 7
Maroc Bồ Đào Nha Tây Ban Nha 2030 Chưa xác định Chưa xác định
Ả Rập Xê Út 2034
Tổng 0/5 18 2 2 14 13 74
Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
1956 đến 1972 Một phần của  Bồ Đào Nha Một phần của  Bồ Đào Nha
1976 đến 1996 Một phần của  Indonesia Một phần của  Indonesia
Liban 2000 Dưới sự kiểm soát của Liên Hợp Quốc Dưới sự kiểm soát của Liên Hợp Quốc
Trung Quốc 2004 Không vượt qua vòng loại 2 0 0 2 2 6
2007 đến 2015 Không tham dự Không tham dự
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 2019 Không vượt qua vòng loại 14 2 2 10 9 47
Qatar 2023 Bị tước quyền thi đấu 2 0 0 2 2 12
Ả Rập Xê Út 2027 Không vượt qua vòng loại 4 1 0 3 4 10
Tổng 21 3 2 16 17 73
Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
Singapore 1996 Một phần của  Indonesia Một phần của  Indonesia
Việt Nam 1998
Thái Lan 2000 Dưới sự kiểm soát của Liên Hợp Quốc Dưới sự kiểm soát của Liên Hợp Quốc
Indonesia Singapore 2002
Việt Nam Malaysia 2004 Vòng bảng 9th 4 0 0 4 2 18 Không có vòng loại
Singapore Thái Lan 2007 Không vượt qua vòng loại 4 0 0 4 5 17
Indonesia Thái Lan 2008 4 0 1 3 4 9
Indonesia Việt Nam 2010 3 0 0 3 3 15
Malaysia Thái Lan 2012 4 2 0 2 10 6
Singapore Việt Nam 2014 4 1 1 2 6 7
Myanmar Philippines 2016 3 0 0 3 4 7
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á 2018 Vòng bảng 10th 4 0 0 4 4 19 2 1 0 1 3 2
Singapore 2020 10th 4 0 0 4 0 13 Đối thủ rút lui
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á 2022 Không vượt qua vòng loại 2 1 0 1 3 6
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á 2024 Vòng bảng 10th 4 0 0 4 3 18 2 1 1 0 1 0
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á 2026Chưa xác định
Tổng Vòng bảng 4/15 16 0 0 16 9 68 28 6 3 19 39 68

Cúp bóng đá Đoàn kết AFC

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Thành tích Trận Thắng Hòa Thua Bàn thắng Bàn thua
Malaysia 2016Vòng bảng201104
Tổng cộng1 lần vòng bảng201104
Năm Thành tích Trận Thắng Hòa Thua Bàn thắng Bàn thua
2006 đến 2014Không tham dự
Tổng cộng.......

Cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại

[sửa | sửa mã nguồn]

23 cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho trận đấu thuộc vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2027.[14]

  • Ngày thi đấu: 10 tháng 6 năm 2025
  • Đối thủ: Maldives
  • Số lần ra sân và bàn thắng được tính chính xác đến ngày 10 tháng 6, sau trận đấu với Maldives.
Số VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bàn Câu lạc bộ
12 1TM Junildo 4 tháng 6, 2003 (22 tuổi) 17 0 Đông Timor Karketu Dili
20 1TM Ricky 25 tháng 12, 2000 (25 tuổi) 1 0 Đông Timor Ponta Leste
31 1TM Georgino Mendonça 16 tháng 3, 2002 (24 tuổi) 7 0 Campuchia Life FC

2 2HV Almerito 24 tháng 9, 1993 (32 tuổi) 3 0 Đông Timor Ponta Leste
3 2HV Liam Farrugia 13 tháng 1, 2003 (23 tuổi) 1 0 Úc Manningham United
4 2HV Francisco da Costa 15 tháng 4, 1995 (31 tuổi) 9 0 Đông Timor Karketu Dili
5 2HV Jackson Fowler 3 tháng 9, 2004 (21 tuổi) 1 0 Úc Sydney Olympic
9 2HV Olagar Xavier 18 tháng 5, 2003 (22 tuổi) 16 1 Philippines Aguilas–UMak
23 2HV Anizo Correia 23 tháng 5, 2003 (22 tuổi) 18 0 Đông Timor Ponta Leste
2HV João Panji 2 tháng 3, 2003 (23 tuổi) 20 0 Đông Timor Karketu Dili
2HV Mário Quintão 18 tháng 2, 2004 (22 tuổi) 11 0 Đông Timor Emmanuel
2HV Palomito Ribeiro 2005 (age 20) 0 0 Đông Timor Emmanuel

8 3TV Claudio Osorio 26 tháng 9, 2002 (23 tuổi) 11 0 Đông Timor Karketu Dili
14 3TV Kornelis Nahak 12 tháng 1, 2001 (25 tuổi) 9 0 Đông Timor SLB Laulara
15 3TV Tiago 13 tháng 4, 1999 (27 tuổi) 12 0 Đông Timor Karketu Dili
16 3TV Freteliano 9 tháng 8, 2004 (21 tuổi) 12 0 Đông Timor Emmanuel
22 3TV Zenivio 22 tháng 4, 2005 (21 tuổi) 18 1 Singapore Tanjong Pagar United

7 4 Elias Mesquita 27 tháng 3, 2002 (24 tuổi) 18 0 Đông Timor Ponta Leste
10 4 João Pedro (vice-captain) 24 tháng 6, 1998 (27 tuổi) 24 8 Campuchia Angkor Tiger
11 4 Mouzinho 26 tháng 6, 2002 (23 tuổi) 14 3 Montenegro Igalo
13 4 Alexandro Bakhito 1 tháng 6, 2006 (19 tuổi) 4 0 Đông Timor SLB Laulara
18 4 Vabio Canavaro 25 tháng 1, 2007 (19 tuổi) 2 0 Đông Timor SLB Laulara
19 4 Luís Figo 17 tháng 4, 2005 (21 tuổi) 8 0 Đông Timor Ponta Leste
21 4 Gali Freitas (captain) 31 tháng 12, 2004 (21 tuổi) 14 2 Indonesia Persebaya Surabaya

Chú thích:

  • Chấn thương = Rút lui do chấn thương
  • PRE = Đội hình sơ bộ
  • SUS = Bỏ cuộc
  • RET = Đã chia tay đội tuyển quốc gia

Các cầu thủ nổi tiếng

[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích đối đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 20 tháng 3 năm 2025[15]

Đội ST T H B BT BB HS %T
 Brunei 12 4 1 7 16 25 9 33,33
 Campuchia 10 1 2 7 18 25 7 10,00
 Đài Bắc Trung Hoa 6 0 0 6 3 17 14 0,00
 Hồng Kông 2 0 0 2 3 11 8 0,00
 Indonesia 6 0 0 6 2 21 19 0,00
 Lào 7 1 0 6 9 18 9 14,29
 Liban 1 0 0 1 0 4 4 0,00
 Malaysia 8 0 1 7 5 28 23 0,00
 Mông Cổ 4 3 0 1 9 4 +5 75,00
 Myanmar 4 0 1 3 2 7 5 0,00
 Nepal 4 0 2 2 3 9 6 0,00
 Palestine 2 0 1 1 1 8 7 0,00
 Philippines 8 1 0 7 5 29 24 12,50
 Ả Rập Xê Út 2 0 0 2 0 17 17 0,00
 Singapore 3 0 0 3 1 11 10 0,00
 Sri Lanka 1 0 0 1 2 3 1 0,00
 Thái Lan 4 0 0 4 0 27 27 0,00
 UAE 2 0 0 2 0 9 9 0,00
Tổng số 86 10 8 68 79 273 194 11,63
Nguồn: Results

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Timor-Leste national football team captain". ngày 1 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014.
  2. "Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới". FIFA. ngày 19 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
  3. Elo rankings change compared to one year ago. "World Football Elo Ratings". eloratings.net. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
  4. "East Timor matches, ratings and points exchanged". World Football Elo Ratings: East Timor. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2016.
  5. "Member Association – Timor-Leste". FIFA.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2018.
  6. "Timor-Leste – Timor-Leste – Results, fixtures, squad, statistics, photos, videos and news – Soccerway". us.soccerway.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2018.
  7. "Timor Leste cause upset; Myanmar win". ESPNStar.com. ngày 5 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 10 2012.
  8. "KIMURA FOR LAOS' AFF SUZUKI CUP 2012 QUALIFYING CAMPAIGN". ASEAN Football. ngày 23 tháng 5 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2020.
  9. "Cambodia 1-5 Timor Leste". ngày 5 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 4 2013. Truy cập 21 tháng 5 2020.
  10. "Win dedicated to Timorese people". ngày 10 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2018.
  11. "Thailand 10-0 Timor-Leste (Dec 8, 2024) Final Score". ESPN (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2024.
  12. "Cambodia edges Timor-Leste in 2024 ASEAN Championship clash". english.news.cn. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2024.
  13. ONLINE, TUOI TRE (ngày 14 tháng 12 năm 2024). "Thua đậm Singapore, tuyển Timor Leste chính thức bị loại tại ASEAN Cup 2024". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2024.
  14. "Lista ba Jogadór Selesaun Nasional Na'in-23 Ne'ebe Prepara ba Jogu Hasoru Maldivas". FFTL. ngày 8 tháng 6 năm 2025 qua Facebook.
  15. "Fixtures Results". eloratings. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2022.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]