Đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Argentina
Tập tin:Argentina national football team logo.svg
Biệt danhLa Albiceleste
('The White and Sky Blue')[1]
Hiệp hộiHiệp hội bóng đá Argentina (AFA)
Liên đoàn châu lụcCONMEBOL (Nam Mỹ)
Huấn luyện viên trưởngLionel Scaloni
Đội trưởngLionel Messi
Thi đấu nhiều nhấtLionel Messi (172)
Ghi bàn nhiều nhấtLionel Messi (98)
Sân nhà
Mã FIFAARG
Áo màu chính
Áo màu phụ
Hạng FIFA
Hiện tại 2 Tăng 1 (22 tháng 12 năm 2022)[2]
Cao nhất1 (March 2007, October 2007 – June 2008, July–October 2015, April 2016 – April 2017)
Thấp nhất20 (August 1996)
Hạng Elo
Hiện tại 2 Tăng 1 (30 tháng 11 năm 2022)[3]
Cao nhất1 (29 times between 1902 and 2016)
Thấp nhất26 (June 1990)
Trận quốc tế đầu tiên
 Uruguay 0–6 Argentina 
(Montevideo, Uruguay; 20 July 1902) [4][5][6][7]
Trận thắng đậm nhất
 Argentina 12–0 Ecuador 
(Montevideo, Uruguay; 22 January 1942)
Trận thua đậm nhất
 Tiệp Khắc 6–1 Argentina 
(Helsingborg, Thụy Điển; 15 June 1958)
 Bolivia 6–1 Argentina 
(La Paz, Bolivia; 1 April 2009)[8]
 Tây Ban Nha 6–1 Argentina 
(Madrid, Tây Ban Nha; 27 March 2018)[9]
Giải thế giới
Sồ lần tham dự18 (Lần đầu vào năm 1930)
Kết quả tốt nhấtVô địch (1978, 1986, 2022)
Copa América
Sồ lần tham dự43 (Lần đầu vào năm 1916)
Kết quả tốt nhấtChampions (1921, 1925, 1927, 1929, 1937, 1941, 1945, 1946, 1947, 1955, 1957, 1959, 1991, 1993, 2021)
Giải vô địch bóng đá liên Mỹ
Sồ lần tham dự2 (Lần đầu vào năm 1956)
Kết quả tốt nhấtVô địch (1960)
CONMEBOL–UEFA Cup of Champions
Sồ lần tham dự2 (Lần đầu vào năm 1993)
Kết quả tốt nhấtVô địch (1993, 2022)
Cúp Liên đoàn các châu lục
Sồ lần tham dự3 (Lần đầu vào năm 1992)
Kết quả tốt nhấtVô địch (1992)

Đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina (tiếng Tây Ban Nha: Selección de fútbol de Argentina) đại diện cho Argentina ở môn bóng đá nam quốc tế và được quản lý bởi Hiệp hội bóng đá Argentina, cơ quan quản lý bóng đá ở Argentina.

La Selección (Đội tuyển quốc gia), còn được gọi là La Albiceleste, đã góp mặt trong 6 trận chung kết World Cup, bao gồm trận chung kết đầu tiên vào năm 1930, mà họ thua 4–2 trước Uruguay. Argentina đã giành chiến thắng trong trận chung kết tiếp theo vào năm 1978, đánh bại Hà Lan 3–1 trong hiệp phụ. Argentina lại vô địch vào năm 1986 với chiến thắng 3–2 trước Tây Đức, và một chiến dịch giải đấu lấy cảm hứng từ đội trưởng Diego Maradona của họ. Họ lọt vào vòng chung kết World Cup một lần nữa vào năm 1990, và để thua 1–0 trước Tây Đức qua quả phạt đền ở phút 87 do Andreas Brehme thực hiện. Argentina tiếp tục bị người Đức gieo sầu trong trận chung kết vào năm 2014 với bàn thắng duy nhất trong hiệp phụ của Mario Götze. 8 năm sau, Argentina góp mặt trong trận chung kết World Cup vào năm 2022, nơi họ đã giành chiến thắng trước đội tuyển Pháp ở loạt sút luân lưu 4–2 sau khi hai đội hòa nhau 3–3 trong 120 phút thi đấu chính thức. Các huấn luyện viên vô địch World Cup của đội là César Luis Menotti năm 1978, Carlos Bilardo năm 1986 và Lionel Scaloni năm 2022.

Argentina cũng đã rất thành công ở Copa América, vô địch 15 lần, gần đây nhất là do Lionel Messi dẫn dắt vào năm 2021 và hiện đang bằng Uruguay về số chức vô địch nhiều nhất. Đội cũng đã giành được Cúp Liên đoàn các châu lục 1992 . Argentina là đội thành công nhất tại CONMEBOL–UEFA Cup of Champions, với hai lần vô địch (1993 và 2022). Argentina được biết là có sự kình địch với Brasil, Uruguay, Anh, ĐứcHà Lan.[13][14] Tính đến năm 2022, Argentina giữ kỷ lục về số danh hiệu chính thức mà một đội tuyển quốc gia nam giành được nhiều nhất (22). Riêng cho Argentina, Lionel Messi là cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất mọi thời đại với 172 trận và là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất với 98 bàn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đấu đầu tiên được ghi cho Argentina là trận đấu với Uruguay, vào ngày 20 tháng 6 năm 1902.[note 2] Trận đấu (là trận đấu quốc tế đầu tiên của cả hai bên) được tổ chức tại Montevideo và Argentina đã thắng 6–0.[4][7] Trong những năm đầu tiên tồn tại, đội tuyển quốc gia Argentina chỉ thi đấu giao hữu với các đội tuyển Nam Mỹ khác. Lý do cho điều này rất đa dạng, bao gồm thời gian di chuyển dài giữa các quốc gia và sự gián đoạn của Thế chiến thứ nhất.[16]

La Selección (đội tuyển quốc gia), còn được gọi là Albicelestes (xanh da trời và trắng), đã góp mặt trong 6 trận chung kết World Cup, bao gồm trận chung kết đầu tiên vào năm 1930, mà họ đã thua 4–2 trước Uruguay. Argentina giành chiến thắng trong trận chung kết tiếp theo vào năm 1978, đánh bại Hà Lan với tỷ số 3–1. Argentina, dưới sự dẫn dắt của Diego Maradona, lại giành chiến thắng vào năm 1986, chiến thắng 3–2 trước Tây Đức. Lần gần đây nhất Argentina lọt vào trận chung kết World Cup là vào năm 2022, nơi họ giành chiến thắng trước Pháp 4–2 ở loạt sút luân lưu 11m sau khi hai đội hòa 3–3 sau 120 phút thi đấu chung kết. Các huấn luyện viên trưởng vô địch World Cup của Argentina là César Luis Menotti năm 1978, Carlos Bilardo năm 1986 và Lionel Scaloni năm 2022.

Argentina đã thi đấu rất thành công ở Copa América với 15 lần vô địch. Đội cũng đã giành được Cúp Liên đoàn các châu lục và Cúp Kirin, đều vào năm 1992, Cúp vô địch CONMEBOL–UEFA vào năm 1993 và 2022, và Cúp các quốc gia vào năm 1964. Đội tuyển 'Olympic' Argentina (chỉ có ba cầu thủ trên 23 tuổi tuổi được đưa vào đội tuyển) đã giành chiến thắng trong các giải đấu bóng đá Thế vận hội ở Athens 2004 và Bắc Kinh 2008.[17]

Argentina cũng đã thắng bảy trong số 18 môn bóng đá tại Đại hội Thể thao Liên châu Mỹ, vô địch vào các năm 1951, 1955, 1959, 1971, 1995, 2003 và 2019.

Tháng 3 năm 2007, Argentina lần đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng FIFA.[18]

Sân nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động tượng đài Antonio Vespucio Liberti, địa điểm thi đấu thường xuyên của Argentina

Argentina chơi hầu hết các trận đấu trên sân nhà tại sân vận động River Plate, Estadio MonumentalBuenos Aires,[19][20] mặc dù đội cũng đã chơi ở các địa điểm khác như Rosario Central,[21] (tại vòng loại FIFA World Cup 2010)[22][23] Estadio Único Madre de CiudadesSantiago del Estero,[24][25] sân vận động của Boca Juniors (La Bombonera).[25] Những địa điểm đó đã được sử dụng trong một số trận đấu của vòng loại FIFA World Cup 2022,[26] cùng với Estadio Mario Alberto Kempes ở Córdoba và Estadio San Juan del Bicentenario ở tỉnh San Juan.[27]

Sân vận động G.E.B.A. là nơi Argentina thi đấu các trận đấu quốc tế đầu tiên với tư cách là đội địa phương. Trận đấu được tổ chức vào ngày 13 tháng 9 năm 1908, cho Copa Newton và trận đấu với Uruguay có ý nghĩa lịch sử vì đây là lần đầu tiên Argentina mặc áo thi đấu sọc xanh trắng nhạt, đây sẽ là đồng phục chính thức cho đến ngày nay.[28] GEBA cũng là địa điểm tổ chức Copa Centenario Revolución de Mayo, giải đấu quốc tế Nam Mỹ đầu tiên được tổ chức vào năm 1910. Đội tuyển quốc gia Argentina chơi trận cuối cùng tại GEBA vào ngày 19 tháng 10 năm 1919, khi đội giành được Copa Premier Honor Argentino sau đánh bại Uruguay với tỷ số 6–1.[29]

Địa điểm đáng nhớ khác của Argentina là Estadio Sportivo Barracas, nơi lưu giữ một giai thoại quan trọng trong lịch sử của đội vào ngày 2 tháng 10 năm 1924, khi Argentina đánh bại Uruguay 2–1 với bàn thắng được chuyển đổi trực tiếp từ quả phạt góc của tiền đạo Cesáreo Onzari. Kể từ đó, một bàn thắng như của Onzari được gọi là Gol olímpico hoặc bàn thắng Olympic.[30] Sportivo Barracas là địa điểm thi đấu quen thuộc của Argentina từ năm 1920 đến năm 1932. Sân vận động này sau đó bị phá bỏ vào năm 1937.

Hình ảnh đội tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng phục[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc áo thi đấu sọc xanh trắng cổ điển được mặc lần đầu tiên vào ngày 2 tháng 7 năm 1908 trong một trận giao hữu tại Sao Paulo
Chiếc áo xanh mặc trong trận gặp Anh tại World Cup 1986, khi Diego Maradona (1960–2020) ghi bàn thắng được gọi là "Bàn tay của Chúa"

Bộ quần áo bóng đá được Argentina mặc lần đầu tiên trong trận ra mắt chính thức trước Uruguay vào năm 1902 là một chiếc áo màu xanh nhạt.[31][32] Vào ngày 2 tháng 7 năm 1908, Argentina ra mắt sọc dọc màu xanh nhạt trên áo thi đấu màu trắng, khi đội thi đấu với đội được thành lập bởi các cầu thủ Liga Paulista tại Velódromo Paulistano.[33] Chiếc áo thi đấu sọc đó vẫn là trang phục chính thức kể từ đó. Bộ quần áo thi đấu sân khách thường có màu xanh đậm, thay đổi màu sắc của quần đùi và tất.

Argentina đã mặc những bộ quần áo khác cho đến khi dải màu xanh lam trên bộ quần áo màu trắng được chính thức công bố. Vào ngày 3 tháng 6 năm 1919 tại Rio de Janeiro trong trận đấu "Roberto Chery Cup" với Brazil , Argentina mặc trang phục thi đấu màu xanh lam nhạt, giống với Uruguay.[34] Chiếc cúp được thành lập bởi Liên đoàn bóng đá Brazil , vì lợi ích của những người thân của Roberto Chery. Chery là thủ môn dự bị của Uruguay và đã chết trong Giải vô địch Nam Mỹ năm 1919 sau khi gục ngã trong trận đấu với Chile.[35]

Tại World Cup 1958, Argentina mặc áo đấu màu vàng của câu lạc bộ Thụy Điển IFK Malmö trong trận đấu với Tây Đức, khi đội đến Thụy Điển mà không có trang phục thi đấu sân khách.

Khoảnh khắc cuối cùng thay đổi áo thi đấu tại World Cup 1986 ở Mexico thật đáng nhớ. Sau đó, huấn luyện viên Carlos Bilardo đã yêu cầu nhà cung cấp trang phục thi đấu của đội Le Coq Sportif cung cấp một chiếc áo sơ mi màu xanh nhạt hơn cho trận tứ kết diễn ra sau ba ngày với Anh, nhưng điều đó không được cung cấp. Một thành viên của ban huấn luyện đã lùng sục các cửa hàng ở Mexico City để tìm 38 chiếc áo sơ mi trơn. Chúng đã được biến đổi với một phiên bản ngẫu hứng của biểu tượng AFA được thêu trên áo sơ mi,[36] và các số bóng đá Mỹ màu bạc được ủi ở mặt sau.[37] Argentina đánh bại Anh với bàn thắng với tên gọi "Bàn tay của Chúa" của Diego Maradona.[38][39] Kiểu áo sơ mi đã trở thành biểu tượng của dịp này và là món đồ của một nhà sưu tập.[40]

Tại World Cup 2018 ở Nga, Argentina đã ra mắt bộ đồng phục bóng đá sân khách màu đen, lần đầu tiên trong lịch sử của họ,[41] trong khi tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2022, họ sử dụng bộ đồng phục sân khách màu tím.[cần dẫn nguồn]

Nhà tài trợ trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu tượng AFA đã được thêm vào bộ đồng phục thi đấu vào năm 1976
Nhà cung cấp Giai đoạn Ghi chú
Gath & Chaves 1930–1934 [42]
Industria Lanús 1958–1963 [43]
Noceto Sports 1964–1965 [44][45]
Sportlandia 1966 [46]
Uribarri 1967–1974 [47]
Adidas 1974–1979 [42][48]
Le Coq Sportif 1980–1989 [42][49]
Adidas 1990–1998 [48][50]
Reebok 1999–2001 [51]
Adidas 2001–present [48]

Huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu tượng Hiệp hội bóng đá Argentina ("AFA") luôn được sử dụng làm biểu tượng của đội. Nó ra mắt lần đầu tại World Cup 1958 được tổ chức tại Thụy Điển, khi Argentina thêm biểu tượng AFA vào áo khoác của họ, nhưng không phải vào áo sơ mi.[36]

Tuy nhiên, biểu tượng của AFA không được sử dụng trên áo thi đấu cho đến ngày 16 tháng 11 năm 1976, khi Argentina thi đấu với Liên Xô tại Estadio Monumental. Biểu tượng đầu tiên là phiên bản đơn giản hóa của huy hiệu (không có vòng nguyệt quế,[52] đã được thêm vào tại World Cup 1982).[36]

Năm 2004, hai ngôi sao được thêm vào phía trên huy hiệu tượng trưng cho chức vô địch FIFA World Cup 1978 và 1986 của đội tuyển quốc gia.[52] Ngôi sao thứ ba được thêm vào sau khi Argentina giành chức vô địch thế giới lần thứ ba vào năm 2022.[53]

Lịch thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đây là danh sách các kết quả trận đấu trong 12 tháng trước, cũng như bất kỳ trận đấu nào trong tương lai đã được lên lịch.

      Thắng       Hòa       Thua

2022[sửa | sửa mã nguồn]

Ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí Tên
Huấn luyện viên trưởng Argentina Lionel Scaloni
Trợ lý huấn luyện viên Argentina Pablo Aimar
Trợ lý huấn luyện viên Argentina Roberto Ayala
Trợ lý huấn luyện viên Argentina Walter Samuel
Trợ lý huấn luyện viên (nhà phân tích) Argentina Matías Manna
Huấn luyện viên thể hình Argentina Luis Martín
Huấn luyện viên thủ môn Argentina Martín Tocalli

Lịch sử huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là đội hình đã hoàn thành FIFA World Cup 2022.[58] Vào ngày 17 tháng 11, Nicolás González rút lui vì chấn thương và được thay thế bởi Ángel Correa.[59] Cùng ngày Joaquín Correa rút lui vì chấn thương và được thay thế bởi Thiago Almada.[60]
Số lần ra sân và số bàn thắng được cập nhật đến ngày 18 tháng 12 năm 2022, sau trận với Pháp.

Số VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bàn Câu lạc bộ
1 1TM Franco Armani 16 tháng 10, 1986 (36 tuổi) 18 0 Argentina River Plate
12 1TM Gerónimo Rulli 20 tháng 5, 1992 (30 tuổi) 4 0 Tây Ban Nha Villarreal
23 1TM Emiliano Martínez 2 tháng 9, 1992 (30 tuổi) 26 0 Anh Aston Villa

2 2HV Juan Foyth 12 tháng 1, 1998 (25 tuổi) 17 0 Tây Ban Nha Villarreal
3 2HV Nicolás Tagliafico 31 tháng 8, 1992 (30 tuổi) 48 0 Pháp Lyon
4 2HV Gonzalo Montiel 1 tháng 1, 1997 (26 tuổi) 22 0 Tây Ban Nha Sevilla
6 2HV Germán Pezzella 27 tháng 6, 1991 (31 tuổi) 35 2 Tây Ban Nha Betis
8 2HV Marcos Acuña 28 tháng 10, 1991 (31 tuổi) 49 0 Tây Ban Nha Sevilla
13 2HV Cristian Romero 27 tháng 4, 1998 (24 tuổi) 19 1 Anh Tottenham Hotspur
19 2HV Nicolás Otamendi 12 tháng 2, 1988 (34 tuổi) 100 4 Bồ Đào Nha Benfica
25 2HV Lisandro Martínez 18 tháng 1, 1998 (25 tuổi) 15 0 Anh Manchester United
26 2HV Nahuel Molina 6 tháng 4, 1998 (24 tuổi) 27 1 Tây Ban Nha Atlético Madrid

5 3TV Leandro Paredes 29 tháng 6, 1994 (28 tuổi) 51 4 Ý Juventus
7 3TV Rodrigo De Paul 24 tháng 5, 1994 (28 tuổi) 51 2 Tây Ban Nha Atlético Madrid
14 3TV Exequiel Palacios 5 tháng 10, 1998 (24 tuổi) 23 0 Đức Bayer Leverkusen
16 3TV Thiago Almada 26 tháng 4, 2001 (21 tuổi) 2 0 Hoa Kỳ Atlanta United
17 3TV Alejandro Gómez 15 tháng 2, 1988 (34 tuổi) 17 3 Tây Ban Nha Sevilla
18 3TV Guido Rodríguez 12 tháng 4, 1994 (28 tuổi) 27 1 Tây Ban Nha Betis
20 3TV Alexis Mac Allister 24 tháng 12, 1998 (24 tuổi) 14 1 Anh Brighton & Hove Albion
24 3TV Enzo Fernández 17 tháng 1, 2001 (22 tuổi) 10 1 Bồ Đào Nha Benfica

9 4 Julián Álvarez 31 tháng 1, 2000 (22 tuổi) 19 7 Anh Manchester City
10 4 Lionel Messi (đội trưởng) 24 tháng 6, 1987 (35 tuổi) 172 98 Pháp Paris Saint-Germain
11 4 Ángel Di María 14 tháng 2, 1988 (34 tuổi) 129 28 Ý Juventus
15 4 Ángel Correa 9 tháng 3, 1995 (27 tuổi) 23 3 Tây Ban Nha Atlético Madrid
21 4 Paulo Dybala 15 tháng 11, 1993 (29 tuổi) 36 3 Ý Roma
22 4 Lautaro Martínez 22 tháng 8, 1997 (25 tuổi) 46 21 Ý Internazionale

Triệu tập gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Agustín Marchesín 16 tháng 3, 1988 (34 tuổi) 8 0 Tây Ban Nha Celta de Vigo FIFA World Cup 2022 PRE
TM Juan Musso 6 tháng 5, 1994 (28 tuổi) 2 0 Ý Atalanta FIFA World Cup 2022 PRE
TM Agustín Rossi 21 tháng 8, 1995 (27 tuổi) 0 0 Argentina Boca Juniors FIFA World Cup 2022 PRE
TM Esteban Andrada 26 tháng 1, 1991 (32 tuổi) 4 0 México Monterrey v.  Venezuela, 24 tháng 3 năm 2022 PRE

HV Lucas Martínez Quarta 10 tháng 5, 1996 (26 tuổi) 11 0 Ý Fiorentina FIFA World Cup 2022 PRE
HV Walter Kannemann 14 tháng 3, 1991 (31 tuổi) 6 0 Brasil Grêmio FIFA World Cup 2022 PRE
HV Facundo Medina 28 tháng 5, 1999 (23 tuổi) 2 0 Pháp Lens FIFA World Cup 2022 PRE
HV Marcos Senesi 10 tháng 5, 1997 (25 tuổi) 1 0 Anh Bournemouth FIFA World Cup 2022 PRE
HV Nehuén Pérez 24 tháng 6, 2000 (22 tuổi) 1 0 Ý Udinese FIFA World Cup 2022 PRE
HV Nicolás Fernández 11 tháng 1, 2000 (23 tuổi) 0 0 Tây Ban Nha Elche FIFA World Cup 2022 PRE
HV Franco Carboni 4 tháng 4, 2003 (19 tuổi) 0 0 Ý Cagliari v.  Ecuador, 29 tháng 3 năm 2022

TV Giovani Lo Celso 9 tháng 4, 1996 (26 tuổi) 41 2 Tây Ban Nha Villarreal FIFA World Cup 2022 PRE/INJ
TV Roberto Pereyra 7 tháng 1, 1991 (32 tuổi) 19 2 Ý Udinese FIFA World Cup 2022 PRE
TV Maximiliano Meza 15 tháng 12, 1992 (30 tuổi) 11 0 México Monterrey FIFA World Cup 2022 PRE
TV Nicolás Domínguez 28 tháng 6, 1998 (24 tuổi) 11 1 Ý Bologna FIFA World Cup 2022 PRE
TV Lucas Ocampos 11 tháng 7, 1994 (28 tuổi) 10 2 Hà Lan Ajax FIFA World Cup 2022 PRE
TV Emiliano Buendía 25 tháng 12, 1996 (26 tuổi) 1 0 Anh Aston Villa FIFA World Cup 2022 PRE
TV Matías Soulé 15 tháng 4, 2003 (19 tuổi) 0 0 Ý Juventus FIFA World Cup 2022 PRE
TV Nicolás Paz 8 tháng 9, 2004 (18 tuổi) 0 0 Tây Ban Nha Real Madrid Castilla FIFA World Cup 2022 PRE
TV Luka Romero 18 tháng 11, 2004 (18 tuổi) 0 0 Ý Lazio FIFA World Cup 2022 PRE
TV Valentín Carboni 5 tháng 3, 2005 (17 tuổi) 0 0 Ý U-19 Inter Milan FIFA World Cup 2022 PRE
TV Manuel Lanzini 15 tháng 2, 1993 (29 tuổi) 5 1 Anh West Ham United v.  Ecuador, 29 tháng 3 năm 2022
TV Tiago Geralnik 31 tháng 3, 2003 (19 tuổi) 0 0 Tây Ban Nha Villarreal B v.  Ecuador, 29 tháng 3 năm 2022

Joaquín Correa 13 tháng 8, 1994 (28 tuổi) 19 4 Ý Internazionale FIFA World Cup 2022 INJ
Nicolás González 6 tháng 4, 1998 (24 tuổi) 21 3 Ý Fiorentina FIFA World Cup 2022 INJ
Lucas Alario 8 tháng 10, 1992 (30 tuổi) 9 3 Đức Eintracht Frankfurt FIFA World Cup 2022 PRE
Giovanni Simeone 5 tháng 7, 1995 (27 tuổi) 5 1 Ý Napoli FIFA World Cup 2022 PRE
Alejandro Garnacho 1 tháng 7, 2004 (18 tuổi) 0 0 Anh Manchester United FIFA World Cup 2022 PRE
Lucas Boyé 28 tháng 2, 1996 (26 tuổi) 1 0 Tây Ban Nha Elche v.  Ecuador, 29 tháng 3 năm 2022

Ghi chú:

  • SUS Bị treo giò.
  • INJ Rút lui vì chấn thương.
  • RET Từ giã đội tuyển.
  • PRE Chỉ nằm trong danh sách sơ bộ.

Kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 18 tháng 12 năm 2022[61]
Cầu thủ in chữ đậm vẫn đang thi đấu cho đội tuyển quốc gia.

Khoác áo nhiều nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Lionel Messi là cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất với 172 trận, đồng thời là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển quốc gia với 98 bàn.
# Cầu thủ Trận Bàn Sự nghiệp
1 Lionel Messi 172 98 2005–
2 Javier Mascherano 147 3 2003–2018
3 Javier Zanetti 145 5 1994–2011
4 Ángel Di María 129 28 2008–
5 Roberto Ayala 115 7 1994–2007
6 Diego Simeone 104 11 1988–2002
7 Sergio Agüero 101 41 2006–2021
8 Nicolás Otamendi 100 4 2009–
9 Oscar Ruggeri 97 7 1983–1994
10 Sergio Romero 96 0 2009–2018

Ghi bàn nhiều nhất[sửa | sửa mã nguồn]

# Cầu thủ Bàn Trận Hiệu số Sự nghiệp
1 Lionel Messi 98 172 0.57 2005–
2 Gabriel Batistuta 56 78 0.72 1991–2002
3 Sergio Agüero 41 101 0.41 2006–2021
4 Hernán Crespo 35 64 0.55 1995–2007
5 Diego Maradona 34 91 0.37 1977–1994
6 Gonzalo Higuaín 31 75 0.41 2009–2018
7 Ángel Di María 28 129 0.22 2008–
8 Luis Artime 24 25 0.96 1961–1967
9 Leopoldo Luque 22 45 0.49 1975–1981
Daniel Passarella 22 70 0.31 1976–1986

Đội trưởng vô địch World Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Những đội trưởng vô địch World Cup của Argentina
Daniel Passarella năm 1978
Diego Maradona năm 1986
Lionel Messi năm 2022
Năm Cầu thủ Trận Bàn
1978 Daniel Passarella 70 22
1986 Diego Maradona 91 34
2022 Lionel Messi 172 98

Ra sân[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ lục huấn luyện viên trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Dẫn dắt nhiều trận nhất
Guillermo Stábile: 127[67] Guillermo đã huấn luyện Argentina trong 123 trận đấu, khiến ông trở thành một trong số ít huấn luyện viên đã cầm quân hơn 100 trận đấu quốc tế. Khi còn làm việc cho đội tuyển quốc gia, ông đã dẫn dắt họ đến những chiến thắng tại Giải vô địch bóng đá Nam Mỹ vào các năm 1941, 1945, 1946, 1947, 1955, và 1957.[68]

Giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H [69] B Bt Bb
Uruguay 1930 Á quân 5 4 0 1 18 9
Ý 1934 Vòng 1 1 0 0 1 2 3
1938 Bỏ cuộc
1950
1954
Thụy Điển 1958 Vòng 1 3 1 0 2 5 10
Chile 1962 3 1 1 1 2 3
Anh 1966 Tứ kết 4 2 1 1 4 2
1970 Không vượt qua vòng loại
Đức 1974 Vòng 2 6 1 2 3 9 12
Argentina 1978 Vô địch 7 5 1 1 15 4
Tây Ban Nha 1982 Vòng 2 5 2 0 3 8 7
México 1986 Vô địch 7 6 1 0 14 5
Ý 1990 Á quân 7 2 3 2 5 4
Hoa Kỳ 1994 Vòng 2 4 2 0 2 8 6
Pháp 1998 Tứ kết 5 3 1 1 10 4
Hàn Quốc Nhật Bản 2002 Vòng 1 3 1 1 1 2 2
Đức 2006 Tứ kết 5 3 2 0 11 3
Cộng hòa Nam Phi 2010 5 4 0 1 10 6
Brasil 2014 Á quân 7 5 1 1 8 4
Nga 2018 Vòng 2 4 1 1 2 6 9
Qatar 2022 Vô địch 7 4 2 1 15 8
Canada México Hoa Kỳ 2026 Chưa xác định
Tổng 18/22
3 lần: Vô địch
88 47 17 24 152 101

Cúp Liên đoàn các châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H [69] B Bt Bb
Ả Rập Xê Út 1992 Vô địch 2 2 0 0 7 1
Ả Rập Xê Út 1995 Á quân 3 1 1 1 5 3
1997 Không giành quyền tham dự
1999
2001
2003
Đức 2005 Á quân 5 2 2 1 10 10
2009 Không giành quyền tham dự
2013
2017
Tổng 3/10
1 lần: Vô địch
10 5 3 2 22 14

Cúp bóng đá Nam Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2021, đội tuyển Argentina đã 15 lần vô địch, 15 lần đứng thứ 2 và 5 lần đứng thứ 3.

Copa América
Năm Thành
tích
Hạng Số
trận
Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
Argentina 1916 Á quân 2nd 3 1 2 0 7 2
Uruguay1917 2nd 3 2 0 1 5 3
Brasil 1919 Hạng ba 3rd 3 1 0 2 7 7
Chile 1920 Á quân 2nd 3 1 2 0 4 2
Argentina 1921 Vô địch 1st 3 3 0 0 5 0
Brasil 1922 Hạng tư 4th 4 2 0 2 6 3
Uruguay 1923 Á quân 2nd 3 2 0 1 6 6
Uruguay 1924 2nd 3 1 2 0 2 0
Argentina 1925 Vô địch 1st 4 3 1 0 11 4
Chile 1926 Á quân 2nd 4 2 1 1 14 3
Peru 1927 Vô địch 1st 3 3 0 0 15 4
Argentina 1929 1st 3 3 0 0 9 1
Peru 1935 Á quân 2nd 3 2 0 1 8 5
Argentina 1937 Vô địch 1st 6 5 0 1 14 5
1939 Bỏ cuộc
Chile 1941 Vô địch 1st 4 4 0 0 10 2
Uruguay 1942 Á quân 2nd 6 4 1 1 21 6
Chile 1945 Vô địch 1st 6 5 1 0 22 5
Argentina 1946 1st 5 5 0 0 17 3
Ecuador 1947 1st 7 6 1 0 28 4
1949 Bỏ cuộc
1953
Chile 1955 Vô địch 1st 5 4 1 0 18 6
Uruguay1956 Hạng ba 3rd 5 3 0 2 5 3
Peru 1957 Vô địch 1st 6 5 0 1 25 6
Argentina 1959 1st 6 5 1 0 19 5
Ecuador 1959 Á quân 2nd 4 2 1 1 9 9
Bolivia 1963 Hạng ba 3rd 6 3 1 2 15 10
Uruguay 1967 Á quân 2nd 5 4 0 1 12 3
Nam Mỹ 1975 Vòng bảng 5th 4 2 0 2 17 4
Nam Mỹ 1979 8th 4 1 1 2 7 6
Nam Mỹ 1983 6th 4 1 3 0 5 4
Argentina 1987 Hạng tư 4th 4 1 1 2 5 4
Brasil 1989 Hạng ba 3rd 7 2 3 2 2 4
Chile 1991 Vô địch 1st 7 6 1 0 16 6
Ecuador 1993 1st 6 2 4 0 6 4
Uruguay 1995 Tứ kết 5th 4 2 1 1 8 6
Bolivia 1997 6th 4 1 2 1 4 3
Paraguay 1999 8th 4 2 0 2 6 6
2001 Bỏ cuộc
Peru 2004 Á quân 2nd 6 4 1 1 16 6
Venezuela 2007 2nd 6 5 0 1 16 6
Argentina 2011 Tứ kết 7th 4 1 3 0 5 2
Chile 2015 Á quân 2nd 6 3 3 0 10 3
Hoa Kỳ 2016 2nd 6 5 1 0 18 2
Brasil 2019 Hạng ba 3rd 6 3 1 2 7 6
Brasil 2021 Vô địch 1st 7 5 2 0 12 3
2024 Chưa xác định
Tổng cộng 15 lần
vô địch
44/47 202 127 42 33 474 182

Thế vận hội[sửa | sửa mã nguồn]

  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1988)
Thế vận hội Mùa hè
Năm Thành
tích
Hạng Số
trận
Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
1900 Không tham dự
1904
1908
1912
1920
1924
Hà Lan 1928 Huy chương bạc 2nd 5 3 1 1 25 7
1936 Không tham dự
1948
1952
1956
Ý 1960 Tứ kết 7th 3 2 0 1 6 4
Nhật Bản 1964 Vòng bảng 10th 2 0 1 1 3 4
1968 Không vượt qua vòng loại
1972
1976
1980 Vượt qua vòng loại nhưng bỏ cuộc
1984 Không vượt qua vòng loại
Hàn Quốc 1988 Tứ kết 8th 4 1 1 2 4 5
Tổng cộng 1 lần huy
chương bạc
4/19 14 6 3 5 38 20

Đại hội Thể thao liên Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1995)
Đại hội Thể thao liên Mỹ
Năm Thành
tích
Hạng Số
trận
Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
Argentina 1951 Huy chương vàng 1st 4 4 0 0 16 2
México 1955 1st 6 5 1 0 23 7
Hoa Kỳ 1959 1st 6 5 1 0 20 4
Brasil 1963 Huy chương bạc 2nd 4 2 2 0 11 3
Canada 1967 Vòng sơ loại 5th 3 1 1 1 7 3
Colombia 1971 Huy chương vàng 1st 8 6 2 0 13 4
México 1975 Huy chương đồng 3rd 6 5 1 0 19 1
Puerto Rico 1979 3rd 5 4 1 0 9 0
Venezuela 1983 Vòng sơ loại 5th 2 0 0 2 0 4
Hoa Kỳ 1987 Huy chương đồng 3rd 5 3 1 1 11 3
1991 Không vượt qua vòng loại
Argentina 1995 Huy chương vàng 1st 6 4 2 0 10 4
Tổng cộng 5 lần huy
chương vàng
11/12 55 39 12 4 139 35

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới

Giải vô địch bóng đá Nam Mỹ / Cúp bóng đá Nam Mỹ

Cúp Liên đoàn các châu lục

Thế vận hội Mùa hè

  • Huy chương bạc (1): 1928

Đại hội Thể thao liên Mỹ

Cúp các đội vô địch CONMEBOL–UEFA

Ghi chú và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Từ năm 1992 trở đi, các huy chương mà Argentina giành được là với đội U-23, không phải đội tuyển cao cấp, theo quy định của IOC.[11][12]
  2. ^ Đã có tiền lệ về một trận đấu diễn ra giữa đại diện của Argentina và một bên của Uruguay vào ngày 16 tháng 5 năm 1901 tại Paso del Molino. Tuy nhiên, hầu hết các nhà sử học loại bỏ trận đấu này là trận đầu tiên, nói rằng trận đấu đó không phải do AUF tổ chức mà bởi Albion F.C.. Trên thực tế, đội hình ban đầu có chín cầu thủ từ Albion và hai người từ Nacional.[6][15][5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Grove, Daryl (19 tháng 6 năm 2010). “An explanation: 2010 World Cup team nicknames”. Dirty Tackle. Truy cập 1 Tháng Ba năm 2022.
  2. ^ “Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới”. FIFA. 22 tháng 12 năm 2022. Truy cập 22 tháng 12 năm 2022.
  3. ^ Elo rankings change compared to one year ago. “World Football Elo Ratings”. eloratings.net. 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập 30 tháng 11 năm 2022.
  4. ^ a b Pelayes, Héctor Darío (24 tháng 9 năm 2010). “Argentina-Uruguay Matches 1902–2009”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 7 Tháng mười một năm 2010.
  5. ^ a b "Reasons for excluding or including full "A" internationals (1901–1910) at IFFHS”. Iffhs.de. Truy cập 23 Tháng sáu năm 2014.
  6. ^ a b Primer partido de Selecciones Lưu trữ 4 Tháng 3 2016 tại Wayback Machine on Fútbol Nostalgia
  7. ^ a b Argentina-Uruguay: el clásico con más partidos del mundo Lưu trữ 11 Tháng 5 2021 tại Wayback Machine by Oscar Barnade on Clarín, 18 November 2019
  8. ^ “Historial entre Argentina y Bolivia”. Sitio Oficial de la Asociación del Fútbol Argentino (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập 2 Tháng hai năm 2022.
  9. ^ “Spain 6–1 Argentina: Isco scores hat-trick as hosts dismantle Argentina”. Sky Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập 2 Tháng hai năm 2022.
  10. ^ Sau năm 1988, giải đấu bị hạn chế cho các đội có không quá 3 cầu thủ trên 23 tuổi và những trận đấu này không được coi là một phần trong thành tích của đội tuyển quốc gia, cũng như không được tính số lần khoác áo.
  11. ^ Fútbol en los Juegos Olímpicos Lưu trữ 5 Tháng 9 2021 tại Wayback Machine by José M. Martín, 8 August 2021
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên as
  13. ^ “Great Footballing Rivalries : Argentina vs. Uruguay " SportsKeeda”. Sportskeeda.com. 4 tháng 7 năm 2011. Truy cập 7 Tháng sáu năm 2012.
  14. ^ Wetzel, Dan (1 tháng 7 năm 2010). “War of words renews Argentina-Germany rivalry – FBINTL – Yahoo! Sports”. Yahoo! Sport. Bản gốc lưu trữ 9 tháng Bảy năm 2010. Truy cập 7 Tháng sáu năm 2012.
  15. ^ "Historia del Fútbol Uruguayo" at Deportes en Uruguay”. Deportesenuruguay.eluruguayo.com. Truy cập 23 Tháng sáu năm 2014.
  16. ^ Los comienzos (1901–1930), AFA website (Archived, 4 February 2015)
  17. ^ “Football gold for Argentina”. BBC News. 28 tháng 8 năm 2004. Truy cập 25 Tháng tư năm 2010.
  18. ^ “– Argentina first for first time”. FIFA. Bản gốc lưu trữ 4 tháng Bảy năm 2007. Truy cập 23 Tháng sáu năm 2014.
  19. ^ ¿Sorpresa? La Selección Argentina no jugará en el Monumental ante Venezuela por las Eliminatorias Lưu trữ 16 Tháng 11 2022 tại Wayback Machine on TNT Sports, 4 March 2022
  20. ^ La Selección Argentina volverá a jugar en River Lưu trữ 25 Tháng 3 2022 tại Wayback Machine on AFA, 16 September 2021
  21. ^ POLÉMICA POR LA SELECCIÓN Lưu trữ 25 Tháng 1 2022 tại Wayback Machine by Hernán Cabrera at Impulso Negocios, 7 January 2022
  22. ^ La alegría fue brasileña Lưu trữ 11 Tháng 10 2022 tại Wayback Machine match report on ESPN, 5 September 2009
  23. ^ Brasil conquista la casa de Messi Lưu trữ 26 Tháng 3 2022 tại Wayback Machine on Marca, 6 September 2009
  24. ^ La Selección Argentina y Messi volverán a jugar en Santiago del Estero por las Eliminatorias Lưu trữ 8 Tháng 12 2021 tại Wayback Machine 8 December 2021 on Diario El Comercial
  25. ^ a b En marzo la Selección Argentina será local en Santiago del Estero por Eliminatorias Lưu trữ 26 Tháng 3 2022 tại Wayback Machine on TyC Sports, 28 October 2020
  26. ^ El historial de la Selección argentina en La Bombonera Lưu trữ 26 Tháng 3 2022 tại Wayback Machine on Goal.com, 25 March 2022
  27. ^ ¿Cómo le fue a la Selección Argentina en San Juan Lưu trữ 26 Tháng 3 2022 tại Wayback Machine by Cristian Dellocchio on Página/12. 16 November 2021
  28. ^ Argentine national team archives Lưu trữ 20 Tháng 8 2012 tại Wayback Machine by Héctor Pelayes on RSSSF.com
  29. ^ Copa Premio Honor Argentino Lưu trữ 20 Tháng 2 2020 tại Wayback Machine on RSSSF
  30. ^ "El gol olímpico cumple 80" Lưu trữ 28 Tháng 8 2009 tại Wayback Machine, Clarín, 2 October 2004
  31. ^ Uruguay 0 v. Argentina 6 (1902) Lưu trữ 4 Tháng 10 2021 tại Wayback Machine by T. Casale, 20 July 2015
  32. ^ “Uruguay 0–6 Argentina”. Fútbol Nostalgia. Truy cập 7 Tháng mười một năm 2017.
  33. ^ "Foot-Ball: Sao Paulo vs. Argentina" on Correio Paulistano newspaper, published 3 July 1908
  34. ^ “Copa Roberto Chery, Brasil 3 – Argentina 3”. IFFHS. Truy cập 7 Tháng mười một năm 2017.
  35. ^ Federico Mauccione Pérez (26 tháng 2 năm 2004). “El 3 de Julio de 1919, la Selección de Brasil vistió la camiseta de Peñarol”. GloriosoMirasol.com. Truy cập 23 Tháng sáu năm 2014.
  36. ^ a b c “Viejos Estadios: El escudo de la Argentina en las Copas del Mundo”.
  37. ^ “Curious tales of World Cup shirts”. FIFA. Bản gốc lưu trữ 16 tháng Năm năm 2014. Truy cập 20 tháng Năm năm 2014.
  38. ^ El día que Diego Maradona hizo "el gol del siglo" y se convirtió en villano por la "mano de Dios" Lưu trữ 17 Tháng 9 2019 tại Wayback Machine on BBC, 22 June 2016
  39. ^ Se cumplen 33 años del 'gol del siglo' Lưu trữ 4 Tháng 9 2019 tại Wayback Machine, Marca (Spain), 22 June 2019
  40. ^ La historia de la camiseta azul Lưu trữ 4 Tháng 9 2019 tại Wayback Machine by Andrés Burgo on El Gráfico, 24 April 2018
  41. ^ Mello, Igor (21 tháng 6 năm 2018). “World Cup kits 2018: Ranking the best and worst uniforms to be showcased in Russia this summer”. CBS Sports. CBS Interactive Inc. Truy cập 22 Tháng sáu năm 2018.
  42. ^ a b c La evolución de la camiseta de la Selección Argentina a lo largo de su historia Lưu trữ 3 Tháng 8 2018 tại Wayback Machine by Daniel Szwarc on 90min.com, 9 October 2015
  43. ^ “Camisetas legendarias del fútbol argentino | WorldCat.org”. www.worldcat.org (bằng tiếng Anh). Truy cập 21 Tháng mười hai năm 2022.
  44. ^ https://museoracingclub.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1696:argentina-1963-home-berrelli-noceto-sports-friendly-vs-paraguay-f-sacchi&catid=52:seleccion-argentina. |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  45. ^ https://museoracingclub.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1410:argentina-1964-home-noceto-sports-nations-cup-vs-england-m-chaldu&catid=52:seleccion-argentina. |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  46. ^ Palopoli, Eugenio; Ruggiero, Sebastián; Silber, Diego (1 tháng 8 năm 2019). Camisetas legendarias del fútbol argentino (bằng tiếng Tây Ban Nha). Penguin Random House Grupo Editorial Argentina. ISBN 978-950-28-1319-6. OCLC 1112221401.
  47. ^ Palopoli, Eugenio; Ruggiero, Sebastián; Silber, Diego (1 tháng 8 năm 2019). Camisetas legendarias del fútbol argentino (bằng tiếng Tây Ban Nha). Penguin Random House Grupo Editorial Argentina. ISBN 978-950-28-1319-6. OCLC 1112221401.
  48. ^ a b c Todas las camisetas Adidas de la Selección Argentina a lo largo de la historia Lưu trữ 3 Tháng 8 2018 tại Wayback Machine on Pasion Fútbol
  49. ^ La camiseta de las selección argentina según pasan los años Lưu trữ 3 Tháng 8 2018 tại Wayback Machine, La Gaceta, 9 November 2005
  50. ^ Adidas recupera a la selección Argentina Lưu trữ 3 Tháng 8 2021 tại Wayback Machine, Emol Deportes, 6 November 2001
  51. ^ El peso de la camiseta Lưu trữ 3 Tháng 8 2018 tại Wayback Machine, La Nación, 21 August 1998
  52. ^ a b -anos_0_S1aTRQc1f.html El escudo de la camiseta de la Selección argentina cumple 41 años Lưu trữ 2019-09-04 tại Wayback Machine của Daniela Aguinsky, Clarín, ngày 16 tháng 11 năm 2017
  53. ^ “Argentina vô địch World Cup sau loạt luân lưu”. ZingNews.vn. 18 tháng 12 năm 2022. Truy cập 19 Tháng mười hai năm 2022.
  54. ^ "De Olazar a Batista: 43 técnicos de la Selección Argentina", MDZ online.com Lưu trữ 2 Tháng 1 2015 tại Wayback Machine, 1 November 2010
  55. ^ "Los 42 técnicos que tuvo la Selección" Lưu trữ 5 Tháng 11 2017 tại Wayback Machine, La Nación
  56. ^ “ARGENTINA NATIONAL TEAM ARCHIVE”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation.
  57. ^ Como Pep Guardiola: José Lago Millán, el español que dirigió a la Selección Lưu trữ 4 Tháng 7 2018 tại Wayback Machine on Minuto Uno, 4 July 2018
  58. ^ “Lista de convocados de la Selección Argentina para Qatar 2022”. AFA (bằng tiếng Tây Ban Nha). AFA. 11 tháng 11 năm 2022. Truy cập 11 Tháng mười một năm 2022.
  59. ^ @Argentina (17 tháng 11 năm 2022). “#SelecciónMayor Tras el entrenamiento de hoy, el futbolista Nicolás González sufrió una lesión muscular y quedará desafectado de la nómina mundialista. En su reemplazo, el CT de @Argentina, convoca a Ángel Correa” (Tweet) – qua Twitter.
  60. ^ Argentina national football team [@Argentina] (17 tháng 11 năm 2022). “El futbolista Thiago Almada se suma a la convocatoria mundialista de Qatar 2022” [Thiago Almada has been added to the squad for Qatar 2022.] (Tweet) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập 17 Tháng mười một năm 2022 – qua Twitter.
  61. ^ Mamrud, Roberto (12 tháng 5 năm 2022). “Appearances for Argentina National Team” (bằng tiếng Anh). Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập 3 Tháng sáu năm 2022.
  62. ^ “Lionel Messi's history at the World Cup: 2006 debut, 2010 Maradona pairing & 2014 final heartbreak | Goal.com”. Goal (website). Truy cập 9 Tháng sáu năm 2022.
  63. ^ “Messi & Batistuta react as record changes hands”. FIFA. Bản gốc lưu trữ 23 Tháng sáu năm 2016. Truy cập 30 Tháng sáu năm 2016.
  64. ^ “Match Stats”. 22 tháng 6 năm 2016.
  65. ^ Maffei, Sergio (5 tháng 6 năm 2022). “Con Messi la Selección vuela: ¡hizo cinco goles!”. ole.com.ar (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập 5 Tháng sáu năm 2022.
  66. ^ “Lionel Messi's incredible record-breaking year in numbers”. The Guardian (bằng tiếng Anh). 10 tháng 12 năm 2012. Truy cập 8 Tháng sáu năm 2022.
  67. ^ "Los 40 nombres que dirigieron la Selección Nacional" Lưu trữ 11 Tháng 10 2017 tại Wayback Machine on AFA website (1924–2006 period listed)
  68. ^ Lewis, Rhett (4 tháng 7 năm 2022). “Argentina National Football Team: Known As The La Albiceleste”. History Of Soccer (bằng tiếng Anh). Truy cập 19 tháng Chín năm 2022.
  69. ^ a b Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu
Tiền nhiệm:
 Brasil
Vô địch thế giới
1978
Kế nhiệm:
 Ý
Tiền nhiệm:
 Ý
Vô địch thế giới
1986
Kế nhiệm:
 Tây Đức
Tiền nhiệm:
giải lần đầu
Vô địch Cúp Confederations
1992
Kế nhiệm:
 Đan Mạch
Tiền nhiệm:
 Uruguay
Vô địch Nam Mỹ
1921
Kế nhiệm:
 Brasil
Tiền nhiệm:
 Uruguay
Vô địch Nam Mỹ
1925
Kế nhiệm:
 Uruguay
Tiền nhiệm:
 Uruguay
Vô địch Nam Mỹ
1927; 1929
Kế nhiệm:
 Uruguay
Tiền nhiệm:
 Uruguay
Vô địch Nam Mỹ
1937
Kế nhiệm:
 Peru
Tiền nhiệm:
 Peru
Vô địch Nam Mỹ
1941
Kế nhiệm:
 Uruguay
Tiền nhiệm:
 Uruguay
Vô địch Nam Mỹ
1945; 1946; 1947
Kế nhiệm:
 Brasil
Tiền nhiệm:
 Paraguay
Vô địch Nam Mỹ
1955
Kế nhiệm:
 Uruguay
Tiền nhiệm:
 Uruguay
Vô địch Nam Mỹ
1957; 1959
Kế nhiệm:
 Uruguay
Tiền nhiệm:
 Brasil
Vô địch Nam Mỹ
1991; 1993
Kế nhiệm:
 Brasil