Đội tuyển bóng đá quốc gia Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
 Trung Quốc

Huy hiệu

Tên khác Trung Quốc đội (中国队)
Quốc túc (国足)
Quốc gia đội (国家队)
Hiệp hội Hiệp hội bóng đá Trung Quốc
Liên đoàn châu lục AFC (châu Á)
Huấn luyện viên Pháp Alain Perrin
Đội trưởng Trịnh Trí
Thi đấu nhiều nhất Lý Vĩ Phong (112)
Ghi bàn nhiều nhất Hào Hải Đông (41)
Sân nhà Sân vận động Công nhân
Mã FIFA CHN
Xếp hạng FIFA 81 (5.2016)
Cao nhất 37 (12.1998)
Thấp nhất 109 (3.2013)
Hạng Elo 65 (3.4.2016)
Elo cao nhất 18 (275.1930)
Elo thấp nhất 80 (12.2008)
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
Philippines  0–1  Trung Hoa Dân Quốc
(Manila, Philippines; 1 tháng 2, 1931)
Trận thắng đậm nhất
Trung Quốc  19–0  Guam
(Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; 26 tháng 1, 2000)
Trận thua đậm nhất
Brasil  8–0  Trung Quốc
(Recife, Brasil; 10 tháng 9, 2012)

Giải Thế giới
Số lần tham dự 1 (lần đầu vào năm 2002)
Kết quả tốt nhất Vòng 1
Cúp bóng đá châu Á
Số lần tham dự 12 (lần đầu vào năm 1976)
Kết quả tốt nhất Hạng nhì (19842004)

Đội tuyển bóng đá quốc gia Trung Quốc (chữ Hán: 中国国家男子足球队, Trung Quốc quốc gia nam tử túc cầu đội) là đội tuyển cấp quốc gia của Trung Quốc do Hiệp hội bóng đá Trung Quốc quản lý.

Đội tuyển bóng đá quốc gia Trung Quốc đầu tiên được thành lập vào năm 1913 để đi tham dự Đại hội Thể thao Cực Đông năm đó diễn ra tại Philippines. Đến năm 1924, Hiệp hội bóng đá Trung Quốc được thành lập dưới thời Trung Hoa Dân Quốc và gia nhập FIFA vào năm 1931[1]. Sau cuộc Nội chiến Trung Quốc, 1 tổ chức khác cũng mang tên Hiệp hội bóng đá Trung Quốc được nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho thành lập và là thành viên của FIFA cho đến năm 1958. Đội tham dự vòng loại World Cup 1958, trước khi rút lui khỏi đấu trường quốc tế và chỉ gia nhập lại vào năm 1979. Ngay sau đó, tại vòng loại World Cup 1982, đội đã chút nữa lần đầu tiên được góp mặt tại 1 vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới khi chỉ chịu thất thủ trước New Zealand ở trận play-off cuối cùng. Phải đợi đúng 20 năm sau, tại World Cup 2002, Trung Quốc mới có vinh dự lần đầu tiên tham gia giải đấu bóng đá lớn nhất hành tinh dưới sự dẫn dắt của "thầy phù thủy trắng" Bora Milutinović và tập hợp được 1 đội hình gồm lứa cầu thủ Trung Hoa đầu tiên được thi đấu tại các câu lạc bộ châu Âu (Phạm Chí NghịTôn Kế Hải tại Crystal Palace F.C., Thiệu Giai Nhất tại TSV 1860 München, Lí Thiết tại Everton F.C., Mã Minh Vũ tại Perugia Calcio...). Cũng phải nói rằng, tại vòng loại giải năm đó tuyển Trung Quốc gặp những điều kiện hết sức thuận lợi khi 2 đội tuyển kình địch với họ là Nhật BảnHàn Quốc không tham gia vì đã lọt vào vòng chung kết với tư cách là nước chủ nhà, trong khi tại vòng bảng cuối cùng, Trung Quốc tránh được cả hai đội bóng mạnh khác của châu ÁẢ Rập SaudiIran[2]. Tại lần đầu tiên và tính đến nay vẫn là lần duy nhất tham dự 1 vòng chung kết World Cup năm 2002, tuy đội để thua cả 3 trận trước Brasil, Thổ Nhĩ Kỳ, Costa Rica và không ghi được bàn thắng nào, nhưng đây vẫn được coi là một mốc lịch sử cho bóng đá Trung Quốc.

Còn tại các kỳ Cúp bóng đá châu Á, đội tuyển cũng đã 12 lần liên tiếp tham dự vòng chung kết từ năm 1976 cho đến nay. Trong đó, vào các năm 19842004, đội lên ngôi á quân của giải. Tại Asian Cup năm 2004 được tổ chức trên sân nhà, Trung Quốc đã đặt rất nhiều hy vọng sẽ giành ngôi vô địch, trong trận đấu cuối cùng, gặp kình địch Nhật Bản, họ đã thất bại khá cay đắng với tỉ số 1–3 trong đó có 1 bàn thắng được ghi bằng tay của tuyển thủ xứ "Mặt trời mọc" Nakata Koji, điều này khiến nhiều cổ động viên Trung Quốc tức giận và có những hành động bài Nhật sau trận đấu.[3]

Trung Quốc còn có 2 khu vực có đội tuyển bóng đá quốc gia riêng là đặc khu hành chính Hồng KôngMa Cao dù 2 lãnh thổ này đã lần lượt trở về lại là chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 19971999.

Thành tích của đội tuyển bóng đá Trung Quốc được đông đảo người dân quốc gia này quan tâm theo dõi. Lòng tự hào dân tộc cũng thường được thể hiện qua việc ăn mừng các chiến thắng của đội. Đã có hơn 300 triệu người dân Trung Hoa theo dõi hành trình của đội tại World Cup 2002. Cũng như có 250 triệu người xem truyền hình đã theo dõi vòng chung kết Asian Cup 2004, kỷ lục cho 1 sự kiện thể thao trong ngành truyền hình Trung Quốc.[4]. Trong báo chí Hoa ngữ, đội thường được nhắc đến dưới những cái tên Trung Quốc đội (中国队), Quốc túc (国足), hay Quốc gia đội (国家队).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

1924–1949[sửa | sửa mã nguồn]

Liên đoàn bóng đá Trung Quốc được thành lập vào năm 1924 và gia nhập Liên đoàn bóng đá thế giới từ năm 1931.

1949–1978[sửa | sửa mã nguồn]

Trung quốc, dưới sự đại diện của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, họ có trận đấu quốc tế đầu tiên với Phần Lan vào ngày 4 tháng 8 năm 1952, với việc Phần Lan trở thành quốc gia có mối quan hệ ngoại giao đầu tiên của Trung Quốc.

Trong vòng 30 năm, Trung Quốc hầu như chỉ thi đấu giao hữu với các nước như Albania, Miến Điện, Campuchia, Guinée, Hungary,Mông Cổ, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Pakistan, Sudan, Liên XôCộng hòa Ả Rập Thống nhất. Tuy nhiên, họ cũng đã từng tham gia Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới năm 1958 và họ đã thua Indonesia ở hiệu số bàn thắng.

1978–2002[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt những năm 1980, bóng đá Trung Quốc phát triển thông qua sự phổ biến của truyền hình vô tuyến tại gia. Trước đó, môn thể thao quốc tế phổ biến nhất ở Trung Quốc là Cầu lôngBóng bàn.

Năm 1980, Trung Quốc tham dự Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới năm 1980 và họ đã thất bại trước New Zealand trong trận đấu Play-off. Ở Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới năm 1986, Trung Quốc gặp Hồng Kông ở sân nhà trong trân đấu cuối cùng của vòng loại đầu tiên ngày 19 tháng 8 năm 1985, trận đấu mà Trung Quốc cần phải hòa nếu muốn đi tiếp. Tuy nhiên, Hồng Kông đã có một trận thắng oan nghiệt với tỉ số 2-1 trước Trung Quốc dẫn đến một cuộc ẩu đả giữa các cổ động viên của hai bên. Ở Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới năm 1990, Trung Quốc một lần nữa được lọt vào vòng đấu cuối cùng của vòng loại nhưng họ đã thất bai trước Qatar trong trận đấu cuối cùng của vòng bảng. Ở Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới năm 1994, họ lại để vụt mất cơ hội lọt vào vòng đấu cuối cùng của vòng loại khi xếp thứ hai sau Iraq. Trung Quốc đứng trước cơ hội tham gia Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới năm 1998 nhưng họ đã thua một trận đấu quan trong ngay trên sân nhà trước Qatar và Iran. Năm 1987, lần đầu tiên Trung Quốc có các cầu thủ thi đấu ở nước ngoài như Tạ Dục Tân (谢育新) của FC Zwolle (Hà Lan), Cổ Quảng Minh (古广明) của SV Darmstadt 98 (Đức), Cổ Tú Toàn ( 贾秀全) và Liễu Hải Quang (柳海光) của FK Partizan (Yugoslavia).

Ngày 26 tháng 1 năm 2000, Trung Quốc đánh bại Guam với tỷ số 19-0 trong khuôn khổ Cúp bóng đá châu Á và nó trở thành trận thắng kỷ lục tính theo trận đấu quốc tế chính thức. Tuy nhiên, kỷ lúc đó đã bị Kuwait phá vỡ chỉ sau đó đúng 19 ngày.

Ngày 7 tháng 10 năm 2001, dưới triều đại của HLV Bora Milutinović, họ đã giành được quyền tham gia Giải bóng đá vô địch thế giới 2002 sau khi vượt qua vòng bảng. Tuy nhiên, Trung Quốc đã không ghi được bàn thắng nào trong suốt giải đấu, thua cả ba trận và bị loại khỏi vòng bảng.

2002–2009[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ năm 2004, Hiệp hội bóng đá Trung Quốc bắt đầu giới hạn thương hiệu giày bóng đá trong đội tuyển. Họ quy định rằng tất cả các cầu thủ trong đội tuyển phải sử dụng giày của Adidas. Tháng 11 năm 2004, Trung Quốc đã thua và không thể tham gia vòng đấu sơ bộ của Giải bóng đá vô địch thế giới 2006, khi mà họ thua Kuwait về hiệu số bàn thắng bại mặc dù trước đó họ đã xuyên thủng mảnh lưới của Hồng Kông đến 7 lần trong trận đấu cuối cùng. Sau đó HLV Arie Haan đã bị thay thế bởi HLV Chu Quảng Hỗ sau quá trình tuyển dụng.

Tháng 8 năm 2005, Trung Quốc chiến thắng trong giải Cúp bóng đá Đông Á 2005, đây là danh hiệu quốc tế đầu tiên của họ khi hòa 1-1 trước Hàn Quốc, hòa 2-2 trước Nhật Bản và có một trận thắng với tỷ số 2-0 trước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.

Trong suốt vòng loại của giải Cúp bóng đá châu Á 2007 năm 2006, đội tuyển trở thành tâm điểm của sự chỉ trích và trở nên lúng túng trên các phương tiện truyền thông khi họ chỉ ghi đúng một bàn thắng duy nhất từ chấm phạt đền được ghi bởi Thiệu Giai Nhất trong trận đấu với Singapore tại sân nhà và sau đó họ hòa với đội bóng này trên sân khách.

Phương tiện truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Các trận đấu sân nhà và sân khách được truyền hình trực tiếp tại các kênh Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV-5), Đài Truyền hình Quảng Đông (GDTV-Sports), Đài truyền hình Thượng Hải (STV-Sports), và một số kênh truyền hình thể thao khác trên lãnh thổ quốc gia.

Ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Vị Trí Tên Quốc tịch
Huấn luyện viên trưởng Cao Hồng Ba Trung Quốc
Trợ lý huấn luyện viên Khâu Sở Lương Trung Quốc
Phó Bác Trung Quốc
Huấn luyện viên thủ môn Khâu Sở Lương Trung Quốc
Ban quản lý Lý Thiết Trung Quốc

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày thi đấu: 24 tháng 3, 2016 Đối thủ:  Maldives
Ngày thi đấu: 29 tháng 3, 2016 Đối thủ:  Qatar
Cập nhật đến ngày:

0#0 VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số lần
khoác áo
Bàn thắng Câu lạc bộ
1TM Tăng Thành 曾诚 8 tháng 1, 1987 (29 tuổi) 31 0 Trung Quốc Guangzhou Evergrande
1TM Vương Đại Lôi 王大雷 10 tháng 1, 1989 (27 tuổi) 22 0 Trung Quốc Shandong Luneng
1TM Nhan Tuấn Lăng 颜骏凌 28 tháng 1, 1991 (25 tuổi) 2 0 Trung Quốc Shanghai SIPG
2HV Trương Lâm Bồng 张琳芃 9 tháng 5, 1989 (27 tuổi) 48 5 Trung Quốc Guangzhou Evergrande
2HV Phùng Tiêu Đình 冯潇霆 22 tháng 10, 1985 (30 tuổi) 48 0 Trung Quốc Guangzhou Evergrande
2HV Mai Phương 梅方 14 tháng 11, 1989 (26 tuổi) 19 1 Trung Quốc Guangzhou Evergrande
2HV Khương Trí Bằng 姜至鹏 6 tháng 3, 1989 (27 tuổi) 14 0 Trung Quốc Guangzhou R&F
2HV Cát Tường 吉翔 1 tháng 3, 1990 (26 tuổi) 8 0 Trung Quốc Jiangsu Suning
2HV Trâu Chinh 邹正 7 tháng 2, 1988 (28 tuổi) 3 0 Trung Quốc Guangzhou Evergrande
3TV Trịnh Trí 郑智 (Đội trưởng) 20 tháng 8, 1980 (35 tuổi) 92 15 Trung Quốc Guangzhou Evergrande
3TV Vu Hải 于海 4 tháng 6, 1987 (28 tuổi) 58 10 Trung Quốc Shanghai SIPG
3TV Vu Hán Siêu 于汉超 25 tháng 2, 1987 (29 tuổi) 43 8 Trung Quốc Guangzhou Evergrande
3TV Ngô Hi 吴曦 19 tháng 2, 1989 (27 tuổi) 34 2 Trung Quốc Jiangsu Suning
3TV Vũ Lỗi 武磊 19 tháng 11, 1991 (24 tuổi) 32 6 Trung Quốc Shanghai SIPG
3TV Tôn Khắc 孙可 26 tháng 8, 1989 (26 tuổi) 30 7 Trung Quốc Tianjin Quanjian
3TV Hoàng Bác Văn 黄博文 13 tháng 7, 1987 (28 tuổi) 31 2 Trung Quốc Guangzhou Evergrande
3TV Trương Trình Đống 张呈栋 9 tháng 2, 1989 (27 tuổi) 21 0 Trung Quốc Beijing Guoan
3TV Thái Tuệ Khang 蔡慧康 10 tháng 10, 1989 (26 tuổi) 16 0 Trung Quốc Shanghai SIPG
3TV Vương Vĩnh Phách 王永珀 19 tháng 1, 1987 (29 tuổi) 14 7 Trung Quốc Shandong Luneng
3TV Trương Hi Triết 23 tháng 1, 1991 (25 tuổi) 11 3 Trung Quốc Beijing Guoan
3TV Trịnh Long 郑龙 15 tháng 4, 1988 (28 tuổi) 10 4 Trung Quốc Guangzhou Evergrande
3TV Trương Trì Minh 张池明 7 tháng 1, 1989 (27 tuổi) 3 0 Trung Quốc Chongqing Lifan
4 Dương Húc 杨旭 12 tháng 2, 1987 (29 tuổi) 43 21 Trung Quốc Shandong Luneng
4 Vu Đại Bảo 于大宝 18 tháng 4, 1988 (28 tuổi) 35 14 Trung Quốc Beijing Guoan
4 Tất Tân Hạo 毕津浩 5 tháng 1, 1991 (25 tuổi) 1 0 Trung Quốc Shanghai Shenhua
4 Trương Ngọc Ninh 张玉宁 5 tháng 1, 1997 (19 tuổi) 0 0 Hà Lan Vitesse Arnhem

Triệu tập gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Pos. Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số lần
khoác áo
Bàn thắng Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Đỗ Giai 杜佳 1 tháng 5, 1993 (23 tuổi) 37 0 Trung Quốc Thiên Tân Thái Đạt v.  Tunisia, 31 tháng 3, 2015
HV Lưu Kiến Nghiệp 刘建业 17 tháng 6, 1987 (28 tuổi) 45 0 Trung Quốc Jiangsu Sainty v.  Qatar, ngày 10 tháng 8 năm 2015
HV Vu Dương 于洋 6 tháng 8, 1989 (26 tuổi) 8 0 Trung Quốc Guangzhou R&F v.  Maldives, ngày 8 tháng 9 năm 2015
HV Nhiêu Vĩ Huy 饶伟辉 25 tháng 3, 1989 (27 tuổi) 3 0 Trung Quốc Guizhou Renhe 2015 EAFF East Asian Cup
HV Lôi Đằng Long 雷腾龙 17 tháng 1, 1991 (25 tuổi) 1 0 Trung Quốc Beijing Guoan 2015 EAFF East Asian Cup
HV Vương Đồng 王彤 12 tháng 2, 1993 (23 tuổi) 1 0 Trung Quốc Shandong Luneng 2015 EAFF East Asian Cup
HV Cố Đào 31 tháng 5, 1988 (27 tuổi) 0 0 Trung Quốc Henan Jianye v.  Tunisia, ngày 31 tháng 3 năm 2015
HV Kim Dương Dương 金洋洋 3 tháng 2, 1993 (23 tuổi) 0 0 Trung Quốc Guangzhou R&F v.  Tunisia, ngày 31 tháng 3 năm 2015
HV Lý Ngang 李昂 15 tháng 9, 1993 (22 tuổi) 2 0 Trung Quốc Jiangsu Sainty 2015 AFC Asian Cup
HV Lý Học Bằng 李学鹏 18 tháng 9, 1988 (27 tuổi) 17 0 Trung Quốc Guangzhou Evergrande v.  Palestine, ngày 21 tháng 12 năm 2014
TV Lưu Bân Bân 刘彬彬 16 tháng 6, 1993 (22 tuổi) 4 0 Trung Quốc Shandong Luneng 2015 EAFF East Asian Cup
TV Tống Bác Hiên 宋博轩 16 tháng 9, 1989 (26 tuổi) 1 0 Trung Quốc Beijing Guoan v.  Bhutan, ngày 16 tháng 6 năm 2015


TV Phác Thành 21 tháng 8, 1989 (26 tuổi) 1 0 Trung Quốc Beijing Guoan v.  Tunisia, ngày 31 tháng 3 năm 2015
TV Trương Lộ 23 tháng 8, 1987 (28 tuổi) 0 0 Trung Quốc Shanghai Shenhua v.  Tunisia, ngày 31 tháng 3 năm 2015
TV Hao Tuấn Mẫn 蒿俊闵 24 tháng 3, 1987 (29 tuổi) 52 11 Trung Quốc Shandong Luneng 2015 AFC Asian Cup
TV Liêu Lệ Thịnh 29 tháng 4, 1993 (23 tuổi) 4 0 Trung Quốc Guangzhou Evergrande 2015 AFC Asian Cup
TV Zhao Xuri 3 tháng 12, 1985 (30 tuổi) 67 2 Trung Quốc Guangzhou Evergrande v.  Palestine, ngày 21 tháng 12 năm 2014
TV Trương Gia Kỳ 3 tháng 9, 1991 (24 tuổi) 5 0 Trung Quốc Guangzhou Evergrande v.  Kyrgyzstan, ngày 13 tháng 12 năm 2014 INJ
Cáo Lâm 郜林 14 tháng 2, 1986 (30 tuổi) 85 18 Trung Quốc Guangzhou Evergrande v.  Maldives, ngày 8 tháng 9 năm 2015
Dương Triệu Thịnh 22 tháng 7, 1993 (22 tuổi) 0 0 Trung Quốc Liaoning Whowin v.  Palestine, ngày 21 tháng 12 năm 2014
Cao Địch 6 tháng 1, 1990 (26 tuổi) 2 1 Trung Quốc Shanghai Shenhua v.  Kyrgyzstan, ngày 13 tháng 12 năm 2014 INJ

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Á quân: 1984; 2004
Hạng ba: 1976; 1992
Hạng tư: 1988; 2000
Vô địch: 2005; 2010
Á quân: 2013
Hạng ba: 2003; 2008
1984 1994
1928 1978; 1998

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Á Vận hội[sửa | sửa mã nguồn]

  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1998)
Thành tích tại Á vận hội
Năm Thành tích GP[5] W[6] D[7] L[8] GS[9] GA[10]
Ấn Độ 1951
Không tham dự
-
-
-
-
-
-
Philippines 1954
Không tham dự
-
-
-
-
-
-
Nhật Bản 1958
Không tham dự
-
-
-
-
-
-
Indonesia 1962
Không tham dự
-
-
-
-
-
-
Thái Lan 1966
Không tham dự
-
-
-
-
-
-
Thái Lan 1970
Không tham dự
-
-
-
-
-
-
Iran 1974
Vòng 1
3
1
0
2
7
4
Thái Lan 1978
Hạng ba
7
5
0
2
16
5
Ấn Độ 1982
Tứ kết
4
2
1
1
4
3
Hàn Quốc 1986
Tứ kết
4
2
1
1
10
6
Trung Quốc 1990
Tứ kết
4
2
1
1
8
4
Nhật Bản 1994
Á quân
7
5
1
1
18
8
Thái Lan 1998
Hạng ba
8
6
0
2
24
7
Tổng cộng
1 lần: Á quân
-
-
-
-
-
-

Cấp khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá Đông Á[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích tại Giải vô địch bóng đá Đông Á
Năm Thành tích GP[5] W[6] D[7] L[8] GS[9] GA[10]
Nhật Bản 2003
Hạng ba
3
1
0
2
3
4
Hàn Quốc 2005
Vô địch
3
1
2
0
5
3
Trung Quốc 2008
Hạng ba
3
1
0
2
5
5
Trung Quốc 2010
Vô địch
3
2
1
0
5
0
Hàn Quốc 2013
Á quân
3
1
2
0
7
6
Tổng cộng
2 lần Vô địch
15
6
5
4
25
18

Huấn luyện viên trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Các huấn luyện viên trưởng đội tuyển Trung Quốc

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (tiếng Anh) “China PR”. fifa.com. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2009. 
  2. ^ (tiếng Anh) “Chinese Football Team Qualifies for 2002 World Cup Finals”. china.org.cn. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2009. 
  3. ^ (tiếng Anh) 'Hand of Koji' brings Japan third title”. ESPNSoccernet. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2009. 
  4. ^ (tiếng Anh) Asian Cup final smashes viewing records. FootballAsia.com. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2004. 
  5. ^ a ă â b c d Số trận
  6. ^ a ă â b c d Thắng
  7. ^ a ă â b c d Hòa
  8. ^ a ă â b c d Bại
  9. ^ a ă â b c d Bàn thắng
  10. ^ a ă â b c d Bàn thua
  11. ^ Hongbo neuer China-Trainer

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]