Động mạch cánh tay

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Động mạch cánh tay
Gray525 vie
Động mạch cánh tay (Brachial artery)
Gray526 vie
Chi trên bên phải, nhìn trước: động mạch cánh tay và khuỷu tay.
Chi tiết
NguồnĐộng mạch nách
NhánhĐộng mạch cánh tay sâu
Động mạch bên trụ trên
Động mạch bên trụ dưới
Động mạch quay
Động mạch trụ
Tĩnh mạchTĩnh mạch cánh tay
Cung cấpcơ nhị đầu cánh tay, cơ tam đầu cánh tay, cơ quạ - cánh tay
Định danh
Latinharteria brachialis
MeSHD001916
TAA12.2.09.018
FMA22689
Thuật ngữ giải phẫu

Động mạch cánh tay (tiếng Anhː Brachial artery, tiếng Phápː Artère brachiale) thuộc hệ thống mạch máu chính, chứa máu giàu oxy, nằm dọc bờ trong cánh tay. Động mạch cánh tay là phần tiếp theo của động mạch nách kể từ bờ dưới cơ ngực lớn đi thẳng xuống khuỷu, đến dưới đường nếp khuỷu 3 cm thì chia thành hai ngành cùng là động mạch quayđộng mạch trụ. Ở một số trường hợp, sự phân chia thành động mạch quay và động mạch trụ sớm hơn, khiến 2 động mạch này kéo dài tận trên cánh tay. Có thể sờ thấy mạch đập ở góc phía trước cẳng tay, chỗ phía trong gân cơ nhị đầu. Nhân viên y tế sử dụng ống nghemáy đo huyết áp nhằm xác định huyết áp trong cơ thể.

Động mạch cánh tay có liên quan đến thần kinh giữađám rối thần kinh cánh tay.

Nguyên ủy, đường đi và tận cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Động mạch cánh tay là phần tiếp theo của động mạch nách kể từ bờ dưới cơ ngực lớn đi thẳng xuống khuỷu, đến dưới đường nếp khuỷu 3 cm (ngang mức cổ xương quay) thì chia thành hai ngành cùng là động mạch quay và động mạch trụ. Hướng đi của động mạch là một đường thẳng vạch từ đỉnh nách qua điểm giữa nếp khuỷu.

Liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Động mạch cánh tay đi ở phần trong ngăn trước (ngăn cơ gấp) của cánh tay dọc bờ trong cơ nhị đầu cánh tay (cơ tùy hành của động mạch). Phần trên, động mạch nằm trong ống cơ-mạc (thường được gọi là ống cánh tay), với các giới hạnː

Phần dưới, động mạch nằm trong rãnh nhị đầu trong với các giới hạnː

  • Ở trướcː cân cơ nhị đầu
  • Ở sauː cơ tam đầu
  • Ở ngoàiː gân cơ nhị đầu
  • Ở trongː cơ sấp tròn

Có hai tĩnh mạch cánh tay đi kèm hai bên của động mạch. Chúng là hai tĩnh mạch sâu của cẳng tay.

Các dây thần kinh của đám rối thần kinh cánh tay ban đầu quây quanh động mạchː thần kinh trụthần kinh bì cẳng tay trong nằm trong động mạch khi đi xuống thì xa dần, chỉ có thần kinh giữa thì trung thành với động mạch trong suốt cánh tay. Thần kinh giữa ở trên nằm phía trước ngoài động mạch, sau đó bắt chéo trước động mạch để xuống dưới nằm phía trong động mạch.

Các ngành bên của động mạch[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành bên của động mạch bao gồm

Giữa các nhánh của động mạch cánh tay nối với nhau bởi mạng mạch khớp khuỷu.

Động mạch cánh tay còn nối với động mạch nách nhờ động mạch cánh tay sâu nối với động mạch mũ cánh tay sâu.

Các dị dạng của động mạch[sửa | sửa mã nguồn]

Ở một số trường hợp sự phân chia thành động mạch quay và động mạch trụ sớm hơn, khiến 2 động mạch kéo dài tận ở trên cánh tay. Tại Việt Nam có 1,03% trường hợp hiện diện 2 động mạch cánh tay (dị dạng động mạch cánh tay đôi). Đây là dị dạng có lợi cho sự cấp huyết máu, nhất là khi một động mạch cánh tay bị đứt, chi trên vẫn đủ máu nuôi mà không cần phải nối lại động mạch.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài viết này tổng hợp kiến thức trong:

  1. Sách Bài giảng Giải phẫu học, tái bản lần thứ 15 của PGS Nguyễn Quang Quyền (trang 74,75), Nhà xuất bản Y Học
  2. Sách Giải phẫu người, tái bản lần thứ hai của PGS.TS Nguyễn Quang Huy (trang 114-116), Nhà xuất bản Y Học

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]