Động vật chân màng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Động vật chân màng
Thời điểm hóa thạch: OligocenHolocen, 24–0Ma
Pinniped collage.png
Chiều kim đồng hồ từ trái trên cùng: hải cẩu lông mao New Zealand (Arctocephalus forsteri), hải tượng phương nam (Mirounga leonina), sư tử biển Steller (Eumetopias jubatus), moóc (Odobenus rosmarus) và hải cẩu xám (Halichoerus grypus)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Phân bộ (subordo) Caniformia
Phân thứ bộ (infraordo) Arctoidea
(không phân hạng)

Pinnipedimorpha

Nhánh Pinnipedia
Bảng đồ phân bố
Bảng đồ phân bố
Các phân nhóm

Động vật chân màng hay Động vật chân vây (danh pháp khoa học: Pinnipedia, từ tiếng Latin pinna "vây" và pes, pedis "chân"[1]) là nhánh đa dạng và phân bố rộng rãi gồm các động vật ăn thịt, chân vây, sống bán thủy sinh. Các họ còn sinh tồn là Odobenidae (thành viên duy nhất còn tồn tại là moóc), Otariidae (hải câu có tai, gồm hải cẩu lôngsư tử biển) và Phocidae (hải cẩu thật sự). Có 33 loài động vật chân màng còn sinh tồn, và hơn 50 loài đã tuyệt chủng đã được mô tả từ các hóa thạch. Dù động vật chân màng từng được cho rằng có nguồn gốc từ hai dòng tổ tiên, bằng chứng phân tử chứng minh chúng là một dòng dõi đơn ngành (hậu duệ của một dòng tổ tiên). Động vật chân màng thuộc về bộ Ăn thịt (Carnivora) và các họ hàng gần nhất của chúng là gấumusteloidea (chồn, gấu mèo, chồn hôi, và gấu trúc đỏ), các nhóm này tách ra khỏi nhau khoảng 50 triệu năm trước.

Kích thước dao động từ hải cẩu Baikal (1 m (3 ft 3 in) và 45 kg (99 lb)) tới hải tượng phương nam (5 m (16 ft) và 3.200 kg (7.100 lb)). Nhiều loài thể hiện dị hình giới tính. Chúng có cơ thể thuôn và bốn chi biến thành chân chèo. Otariidae dùng chi trước để đẩy bản thân trong nước, trong khi Phocidae và Odobenidae lại sử dụng hai chi sau. Otariidae và Odobenidae có thể dùng chi sau làm chân để đi lại trên cạn, Phocidae lại di chuyển cồng kềnh hơn trên mặt đất. Otariidae có cặp tai ngoài dễ thấy, hai họ còn lại không có. Động vật chân màng có những giác quan phát triển—thị giác và thính giác thích nghi có cả trên cạn và dưới nước, hệ thống xúc giác đặc biệt nhạy trên lông mũi (hay râu). Vài loài có khả nặng lặn tới độ sâu lớn. Chúng có một lớp mỡ dưới da để giữ ấm trong nước lạnh, và, trừ moóc, tất cả đều phủ lông.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Berta, A. (2012). Return to the Sea: The Life and Evolutionary Times of Marine Mammals. University of California Press. ISBN 978-0-520-27057-2. 
  • Berta, A.; Sumich, J. L.; Kovacs, K. K. (2006). Marine Mammals: Evolutionary Biology (ấn bản 2). Academic Press. ISBN 978-0-12-369499-7. 
  • Perrin, W. F.; Würsig, B.; Thewissen, J. G. M. biên tập (2009). Encyclopedia of Marine Mammals (ấn bản 2). Academic Press. ISBN 978-0-12-373553-9. 
  • Renouf, D. biên tập (1991). Behaviour of Pinnipeds. Chapman and Hall. ISBN 978-0-412-30540-5. 
  • Riedman, M. (1990). The Pinnipeds: Seals, Sea Lions, and Walruses. University of California Press. ISBN 978-0-520-06497-3. 
  • Scheffer, V. B. (1958). Seals, Sea Lions, and Walruses: A Review of the Pinnipedia. Stanford University Press. ISBN 978-0-8047-0544-8. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]