Đới Danh Thế
Đới Danh Thế | |
|---|---|
| 戴名世 | |
| Sinh | 1653 Đồng Thành, An Huy |
| Mất | 1713 (59–60 tuổi) Thái Thị Khẩu, Yên Kinh |
| Nghề nghiệp | Văn nhân, quan lại |
Đới Danh Thế (chữ Hán: 戴名世, 1653 – 1713), tự Điền Hữu (田有), một tự khác là Hạt Phu (褐夫), hiệu Nhạc Thân (藥身), lại có hiệu khác là Ưu Am (懮庵). Ông là người Đồng Thành, An Huy, người đời gọi ông là Nam Sơn tiên sinh (南山先生), hay Tiềm Hư tiên sinh (潛虛先生), là quan lại và văn nhân thời Thanh. Ông là một trong những người đặt nền móng cho phái Đồng Thành. Năm Khang Hi thứ 48, ông đỗ Bảng nhãn khoa Kỷ Sửu, sau vì vụ án văn tự ngục Nam Sơn mà bị chém đầu.
Tiểu sử
[sửa | sửa mã nguồn]Ông là bậc tông sư của phái Đồng Thành; năm hai mươi tuổi dốc lòng phụng dưỡng song thân; đến năm hai mươi bảy tuổi, tài hoa phát tiết, những bài văn bát cổ của ông đã vang danh khắp thiên hạ. Năm Khang Hi thứ 22 (1683), ông ứng thí. Năm Khang Hi thứ 25 (1686), ông từ diện Cống sinh vào kinh sư học tại Quốc Tử Giám. Bấy giờ "các bậc công khanh quý tộc đều sợ cái miệng của ông, lại càng thêm phần đố kỵ".[a] Sĩ tử Thái học khi ấy thảy đều gọi ông là bậc "Cuồng sĩ".[b] Ông là tác giả của cuốn Nam Sơn tập.
Năm Khang Hi thứ 48 (1709), trong kỳ thi Đình khoa Kỷ Sửu, ông cùng Triệu Hùng Chiếu tranh ngôi vị đầu bảng. Kết quả Triệu Hùng Chiếu đỗ Trạng nguyên, còn Đới Danh Thế đỗ Bảng nhãn, nhậm chức Biên tu Hàn lâm viện. Lúc bấy giờ ở Yên Kinh có dư luận cho rằng khoa cử không công bằng.[c]
Năm Khang Hi thứ 50 (1711), người ta phát hiện trong cuốn Nam Sơn tập của Đới Danh Thế đã căn cứ vào cuốn Điền Kiềm kỷ văn của Phương Hiếu Tiêu (người cùng quê Đồng Thành) mà bày tỏ sự đồng tình với các vị vua nhà Nam Minh, đồng thời sử dụng niên hiệu Vĩnh Lịch của nhà Nam Minh. Cha của đối thủ Triệu Hùng Chiếu là Tả Đô ngự sử Triệu Thân Kiều đã nắm lấy cơ hội này, dâng sớ tấu lên rằng Đới Danh Thế "viết sách cuồng loạn phản nghịch". Vì họa chữ nghĩa này, Đới Danh Thế bị vua Khang Hi hạ lệnh hành hình tại pháp trường Thái Thị Khẩu, sử gọi là Nam Sơn án.[d]
Đến thời Ung Chính, Hoàng đế từng ngự bút phê rằng: "Tuy đều là những lời lẽ kẻ bề tôi không nên nói, song thực chất chẳng có lời nào là phản nghịch. Thuở ấy Bộ Hình phúc tấu cũng không tìm thêm được lời lẽ nào vi ngại khác, bởi thế nay xem lại cũng thấy là một nỗi oan". Sau này, di hài Đới Danh Thế được đưa về mai táng tại quê nhà. Bia mộ chẳng dám đề tên thật, chỉ khắc vỏn vẹn dòng chữ: Mộ Đới Nam Sơn.
Tác phẩm
[sửa | sửa mã nguồn]Hậu thế có Đới Quân Hành ra sức sưu tầm di bản của Đới Danh Thế để biên soạn thành bộ Đới Nam Sơn tiên sinh toàn tập. Trong bài tựa, Đới Quân Hành có lời ngợi ca: "Ta đọc văn của tiên sinh, thấy cảnh giới như mây nổi giữa trời không, biến hóa khôn lường; lại như bậc phi tiên cưỡi gió, chẳng biết đâu mà lần. Văn tài ấy đủ sức sánh vai cùng Trang Chu, Lý Bạch, Tư Mã Tử Trường... cũng đủ sức đứng ngang hàng với Vọng Khê tiên sinh".
Tuy Đới Danh Thế cùng Phương Hiếu Tiêu đều là bậc tiền bối khai mở văn phái Đồng Thành, song vì mắc phải đại án nghịch từ, nên những bậc hậu bối như Phương Bao, Diêu Đỉnh khi truy tìm nguồn cội dòng phái đều không dám nhắc đến tên ông. Người đời thường truyền tụng rằng, nhân vật thi sĩ Cao Khải đầu thời Minh và cuốn Cao Thanh Khâu tập thi thoại xuất hiện trong tác phẩm Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử (người Toàn Tiêu, An Huy) chính là hình bóng ẩn dụ cho nỗi oan khuất của Đới Danh Thế và vụ án Nam Sơn tập năm xưa.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- Triệu Nhĩ Tốn, Thanh sử cảo, quyển 484, liệt truyện 271 – Đới Danh Thế truyện
- Lâm Kiên, 27 Án oan trong các triều đại Trung Quốc, Đoàn Như Trác và Trần Văn Mậu dịch, Nxb. Thanh Niên, 2000, 416 trang.
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Thanh sử cảo, quyển 484 (清史稿/卷484): "Đới Danh Thế, tự Điền Hữu, người Đồng Thành. Từ thuở lọt lòng đã có tài biện luận xuất chúng, cốt cách hào sảng, phóng khoáng; ban đầu làm nghề dạy trẻ để tự nuôi thân. Ông nổi danh nhờ nghiệp khoa cử, đỗ lẫm sinh, sau khảo trúng cống sinh, được bổ làm Giáo tập ở Chính Lam Kỳ. Nhậm chức Tri huyện chưa lâu thì từ quan bỏ đi. Kể từ đó, ông ngao du khắp chốn Yên, Triệu, Tề, Lỗ, Hà, Lạc, Ngô, Việt, mưu sinh bằng việc bán chữ viết văn. Ông vốn ưa đọc sách của Thái sử công (Tư Mã Thiên), thường khảo cứu những bậc kỳ tiết vĩ hạnh (tiết tháo lạ lùng, hành vi cao đẹp) đời trước. Lúc rảnh rỗi lại hạ bút thành văn để giải tỏa nỗi u uất trong lòng, khí thế hào hùng phát ra mạnh mẽ, không gì kiềm tỏa nổi. Hàng chư công quý tộc đương thời đều nể sợ khẩu khí của ông, song cũng vì thế mà nảy sinh lòng đố kỵ, ghét bỏ. Có lần gặp Phương Bao tại kinh sư, ông than rằng: "Ta chẳng phải kẻ bôn ba lao khổ để cầu danh lợi ở đời. Trong lồng ngực ta vốn sẵn có vài trăm quyển sách, nếu viết ra, tự liệu rằng sẽ khác biệt với người đời vậy. Ngặt nỗi nếu không ẩn cư núi sâu, đủ đầy cơm áo, khiến thân này chẳng chút vướng bận, thì chưa thể dẫn dắt hết tinh túy ấy ra được." Nói đoạn, ông bùi ngùi thở dài rồi từ biệt."
- ^ Từ Di Tôn di cảo tự (徐貽孫遺稿序) là tên một bài tựa do Đới Danh Thế viết để đề cho tập di cảo của một người bạn tên là Từ Di Tôn. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của Đới Danh Thế, không chỉ vì giá trị văn chương mà còn vì nó chính là "ngòi nổ" trực tiếp dẫn đến án văn tự Nam Sơn tập khiến ông bị triều đình nhà Thanh xử tử.
- ^ Thanh sử cảo, quyển 484: "Năm Khang Hi thứ bốn mươi tám, khi ấy ông đã năm mươi bảy tuổi, mới trúng Hội nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hội), vào thi Đình đỗ Nhất giáp Đệ nhị danh (Bảng nhãn), thụ chức Biên tu."
- ^ Thanh sử cảo, quyển 484: "Qua hai năm sau thì tai họa từ cuốn Nam Sơn tập ập đến. Trước đó, người học trò là Vưu Vân Ngạc cho khắc in bộ Nam Sơn tập do Danh Thế soạn. Trong tập sách ấy có bức thư gửi cho Dư sinh, có nhắc đến niên hiệu của ba vị vua nhà Minh (Nam Minh), lại dẫn chiếu từ cuốn Điền Kiềm kỷ văn của Phương Hiếu Tiêu. Thuở bấy giờ, lưới cấm văn tự đang lúc nghiêm ngặt, Đô ngự sử Triệu Thân Kiều dâng tấu luận tội Nam Sơn tập có lời lẽ nghịch loạn, Danh Thế lập tức bị bắt giam vào ngục tối. Khi ấy, Hiếu Tiêu đã tạ thế từ trước, còn Phương Bao vốn là người cùng họ, lại từng viết lời tựa cho Nam Sơn tập, vì lẽ đó mà tộc nhân họ Phương cùng những kẻ có tên trong tập sách đều liên lụy mắc tội, bị giam cầm suốt hai năm ròng. Sau khi cửu khanh phúc tấu, Danh Thế và Vân Ngạc đều bị luận tội chết. Quyến thuộc theo luật phải chịu liên đới, nhưng Thánh Tổ (Khang Hi) xót thương mà bảo toàn cho. Lại nghe lời can gián của Đại học sĩ Lý Quang Địa, vua bèn xá tội cho Phương Bao cùng cả tông tộc họ Phương. Triệu Thân Kiều vốn là người có tiết tháo thanh liêm, duy chỉ có việc khơi mào vụ án này là bị người đời chê trách mãi về sau. Văn chương của Danh Thế vốn giỏi về thuật sự (kể chuyện), ông còn soạn cuốn Kiết di lục, ghi lại biến loạn binh đao tại Đồng Thành cuối đời Minh. Những tác phẩm ấy ban đầu đều bị tiêu hủy và cấm đoán, mãi về sau mới được lưu truyền lại ở đời."