Điều ước Nhật–Triều 1876

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Điều quy Tu hảo Nhật-Triều
GanghwaTreaty.jpg
Tên tiếng Nhật
Kanji日朝修好条規
Hiraganaにっちょうしゅうこうじょうき
Tên Triều Tiên
Hangul강화도 조약
Hanja江華島條約

Điều ước Nhật–Triều 1876, gọi là Điều quy Tu hảo Nhật-Triều theo tiếng Nhật và Điều ước đảo Ganghwa theo tiếng Triều, được thực hiện giữa các đại diện của Nhật Bản và Triều Tiên vào năm 1876.[1] Các cuộc đàm phán kết thúc vào ngày 26 tháng 2 năm 1876.[2]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng công nghiệp trong thế kỷ 18, các quốc gia châu Âu bắt đầu thuộc địa hóa nhiều lãnh thổ tại châu Phi và châu Á theo học thuyết chính trị được gọi là chủ nghĩa đế quốc. Đông Á cũng bị các thế lực ngoại quốc xâm chiếm, bắt đầu là Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất (1839 – 1842) và Chiến tranh nha phiến lần thứ hai (1856 – 1860) chống lại Đại Thanh; Đại Thanh suy sụp thành một lãnh thổ bán thuộc địa hóa. Trong khi đó, Hải đoàn Á châu của Hoa Kỳ dưới quyền Matthew C. Perry buộc Nhật Bản phải mở cửa các cảng của mình cho thế giới phương Tây vào năm 1854.[3]

Bị bẽ mặt trước các điều ước bất bình đẳng và viễn cảnh mất độc lập và tính toàn vẹn trước các cường quốc đế quốc, Nhật Bản lao vào một quá trình biến đổi nhanh chóng, thành công khi biến đảo quốc từ một xã hội tương đối trung cổ thành một quốc gia công nghiệp hóa hiện đại.

Sự kiện Ganghwa[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng trên tàu Un'yō của Nhật Bản đổ bộ lên đảo Ganghwa vào năm 1875.

Tại Triều Tiên, chế độ chuyên chính mãnh liệt của Hưng Tuyên Đại Viện Quân bị Mẫn phi lật đổ, Mẫn phi thiết lập một chính sách đóng cửa với các cường quốc châu Âu. Pháp và Hoa Kỳ đã tiến hành một số nỗ lực bất thành nhằm khởi đầu thương mại với Triều Tiên, tất cả đều diễn ra trong thời gian Hưng Tuyên Đại Viện Quân nắm quyền. Tuy nhiên, sau khi Đại Viện Quân bị loại khỏi quyền lực, nhiều quan viên mới vốn ủng hộ ý tưởng mở cửa thông thương với người ngoại quốc cũng nắm quyền. Trong khi xảy ra bất ổn chính trị, Nhật Bản phát triển một kế hoạch nhằm mở cửa và sử dụng ảnh hưởng tại Triều Tiên trước khi một cường quốc châu Âu có thể tiến hành điều đó. Năm 1875, kế hoạch của họ được biến thành hành động, chiến hạm Un'yō của Nhật Bản dưới quyền Inoue Yoshika được phái đi khảo sát vùng biển duyên hải mà không được Triều Tiên cho phép.

Ngày 20 tháng 9, thuyền tiếp cận đảo Ganghwa, vốn là nơi diễn ra các vụ chạm trán bạo lực giữa quân Triều Tiên và lực lượng gnoaij quốc trong thập niên trước đó. Các ký ức về các cuộc chạm trán này vẫn còn chưa phai mờ, và quân đồn trú Triều Tiến sẽ bắn bất kỳ tàu ngoại quốc nào tiếp cận. Tuy thế, Inoue Yoshika lệnh hạ thủy một thuyền nhỏ, được cho là để nghiên cứu nước ngọt. Quân Triều Tiên khai hỏa, Un'yō sử dụng hỏa lực vượt trội của mình để khắc chế pháo của Triều Tiên. Sau đó, lực lượng Nhật Bản tiến công một thành khác của Triều Tiên và triệt thoái về Nhật Bản.

Các điều khoản[sửa | sửa mã nguồn]

Điều quy Tu hảo Nhật-Triều, 26 tháng 2 năm 1876. Cơ quan sử liệu của Bộ Ngoại giao Nhật Bản.

Nhật Bản sử dụng ngoại giao pháo hạm để gây áp lực buộc Triều Tiên ký kết điều ước bất bình đẳng này. Theo đó, mở cửa Triều Tiên giống như cách mà hạm đội của Matthew Perry mở cửa Nhật Bản vào năm 1853. Theo điều ước, Triều Tiên kết thúc vị thế là quốc gia chư hầu của Đại Thanh và mở cửa ba cảng cho mậu dịch với Nhật Bản. Điều ước cũng cấp cho người Nhật nhiều quyền lợi Triều Tiên mà tương tự như người phương Tây nhận được tại Nhật Bản, như đặc quyền ngoại giao.

Những người đàm phán chính là Kuroda Kiyotaka bên phía Nhật Bản, và Shin Heon 申櫶 bên phía Triều Tiên.

Các điều khoản của điều ước:

  • Điều 1 viết rằng Đại Triều Tiên là quốc gia độc lập, "...một bang tự chủ giữ quyền bình đẳng giống như Nhật Bản Quốc." Đây là một nỗ lực của Nhật Bản nhằm tách Triều Tiên khỏi quan hệ chư hầu truyền thống với Trung Quốc.
  • Điều 2 quy định rằng Nhật Bản và Triều Tiên sẽ trao đổi sứ thần trong vòng 15 tháng và duy trì thường xuyên các phái bộ ngoại giao tại mỗi quốc gia. Triều Tiên cử lễ tào phán thư thân tiếp, giao tế, thương nghị với sứ thần Nhật Bản; phía Nhật Bản cử ngoại vụ khanh thân tiếp, giao tế, thương nghị với sứ thần Triều Tiên.
  • Theo điều 3, Nhật Bản sẽ sử dụng Quốc văn (tiếng Nhật) và bản dịch Hán văn trong giao thiệp, trong khi Triều Tiên sử dụng Hán văn.
  • Điều 4 chấm dứt vai trò trung gian ngoại giao kéo dài hàng thế kỷ của Tsushima khi bãi bỏ toàn bộ các hiệp định đang tồn tại giữa Triều Tiên và Tsushima.

Ngoài việc mở cửa cảng Pusan, Điều 5 cho phép tìm kiếm tại các đạo Kyongsang, Kyonggi, Chungchong, Cholla, và Hamgyung thêm hai hải cảng phù hợp nữa để tiến hành mậu dịch với Nhật Bản, mở cửa vào tháng 10 năm 1877.

  • Điều 6 đảm bảo cứu trợ cho các tàu bị mắc cạn hoặc đắm dọc bờ biển Triều Tiên hoặc Nhật Bản.
  • Điều 7 cho phép bất kỳ thủy thủ Nhật Bản nào tiến hành các hoạt động khảo sát và lập bản đồ tùy ý tại các vùng biển ngoài đường bờ biển của bán đảo Triều Tiên.
  • Điều 8 cho phép các thương dân Nhật Bản cư trú, giao dịch không bị cản trở, và quyền được thuê đất và xây dựng vì các mục đích này tại các cửa khẩu được chỉ định.
  • Điều 9 đảm bảo quyền tự do cho hoạt động mậu dịch mà không gặp hạn chế hoặc ngăn cấm từ cả hai chính phủ.
  • Điều 10 quy định nhân dân Nhật Bản phạm tội tại Triều Tiên được giao cho quan viên Nhật Bản điều tra xét xử, và ngược lại.

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Một năm sau, một hạm đội của Nhật Bản dưới quyền Kuroda Kiyotaka đến Triều Tiên, yêu cầu xin lỗi từ chính phủ Triều Tiên và một hiệp định thương nghiệp giữa hai quốc gia. Chính phủ Triều Tiên quyết định chấp thuận yêu cầu này với hy vọng tiếp thu một số kỹ thuật nhằm phòng thủ quốc gia trước bất kỳ cuộc xâm chiếm nào trong tương lai.

Tuy nhiên, hiệp định cuối cùng thành ra diều ước bất bình đẳng đầu tiên mà Triều Tiên ký kết. Điều ước trao đặc quyền ngoại giao cho người Nhật tại Triều Tiên, và buộc Triều Tiên phải mở 3 cảng cho Nhật Bản, cụ thể là Busan, IncheonWonsan. Với việc ký kết điều ước bất bình đẳng này, với nhiều cường quốc đế quốc Triều Tiên trở nên dễ xâm lược hơn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chung, Young-lob. (2005). Korea Under Siege, 1876-1945: Capital Formation and Economic Transformation, p. 42., tr. 42, tại Google Books; excerpt, "... the initial opening of Korea's borders to the outside world came in the form of the Korea-Japan Treaty of Amity (the so-called Ganghwa Treaty)."
  2. ^ Korean Mission to the Conference on the Limitation of Armament, Washington, D.C., 1921-1922. (1922). Korea's Appeal, p. 33., tr. 33, tại Google Books; excerpt, "Treaty between Japan and Korea, dated ngày 26 tháng 2 năm 1876."
  3. ^ Bauer, Susan Wise; Park, Sarah (2005). The Modern Age: From Victoria's Empire to the End of the USSR. Peace Hill Press. tr. 17. ISBN 9780972860338. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Duus, Peter (1998). The Abacus and the Sword: The Japanese Penetration of Korea. University of California Press. ISBN 0-52092-090-2. 
  • Jansen, Marius B. (2002). The Making of Modern Japan. Harvard University Press. ISBN 0-6740-0334-9. 
  • Jansen, Marius B. (1995). The Emergence of Meiji Japan. Cambridge University Press. ISBN 0-5214-8405-7. 
  • Sims, Richard (1998). French Policy Towards the Bakufu and Meiji Japan 1854–95. Psychology Press. ISBN 1-87341-061-1. 
  • Chung, Young-lob. (2005). Korea Under Siege, 1876-1945: Capital Formation and Economic Transformation. New York: Oxford University Press. 10-ISBN 0-19-517830-0; 13-ISBN 978-0-19-517830-2; OCLC 156412277
  • Korean Mission to the Conference on the Limitation of Armament, Washington, D.C., 1921-1922. (1922). Korea's Appeal to the Conference on Limitation of Armament. Washington: U.S. Government Printing Office. OCLC 12923609
  • United States. Dept. of State. (1919). Catalogue of treaties: 1814-1918. Washington: Government Printing Office. OCLC 3830508

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]