Torii

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Điểu cư)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Torii nổi tiếng tại đền Itsukushima.

Torii (鳥居 (Điểu cư)? /ˈtɔəri./) là một loại cổng truyền thống của Nhật Bản, thường được thấy ở lối vào hoặc trong đền thờ Thần đạo, nơi chúng là vật được đánh dấu cho sự chuyển đổi từ những gì mang tính trần tục đến nơi thiêng liêng.[1] Sự hiện diện của cổng torii tại lối vào là cách thường thấy nhất để nhận dạng đền thờ Thần đạo, một biểu tượng torii nhỏ cũng đại diện cho một đền thờ khi địa điểm được in trên bản đồ.[ghi chú 1] Tuy nhiên, nó cũng được thấy phổ biến tại các ngôi chùa tại Nhật Bản, là nơi mà torii được xây tại lối vào của các ngôi đền - được gọi là trấn thủ xã (鎮守社 chinjusha?) - và thường rất nhỏ.

Sự xuất hiện đầu tiên của torii có thể được xác định chính xác nhất ít nhất ở giữa Thời kỳ Heian, vì chúng được đề cập đến trong một văn bản viết vào năm 922.[1] Cổng torii bằng đá xưa nhất còn tồn tại được xây dựng vào thế kỷ thứ 12 nằm ở Đền Hachiman thuộc tỉnh Yamagata. Cổng torii bằng gỗ xưa nhất là một cổng ryōbu torii (両部鳥居 (lạng bộ điểu cư)?) tại một đền thờ ở tỉnh Yamanashi, được xây dựng vào năm 1535.[1]

Theo truyền thống thì torii được làm từ gỗ hoặc đá, nhưng hiện nay nó cũng có thể được làm bằng bê tông, đồng, thép không gỉ hoặc các loại vật liệu khác. Chúng thường được sơn hoặc không sơn đỏ với một cây ngang ở phía trên. Đền thờ thần Inari là thần xã điển hình với hàng loạt torii vì có những người khách viếng thành công trong kinh doanh đã tặng torii cho thần Inari, kami tượng trưng cho sự sinh sôi và sự chuyên cần, như một cử chỉ của lòng biết ơn. Fushimi Inari-taisha tại Kyoto có cả ngàn điểu cư, mỗi cổng đều có tên người tặng ở trên nó.[2]

Từ torii trong tiếng Nhật có thể có nguồn gốc từ từ trong tiếng Ấn Độ cổ Torana, từ này cũng là nguồn gốc của từ tiếng Trung Quốc bài phường.[3]

Nghĩa và cách sử dụng tên gọi torii[sửa | sửa mã nguồn]

Một cổng torii tại lối vào Shitennō-ji, một ngôi chùa tại Osaka.

Chức năng của torii là để đánh dấu lối vào của một chốn linh thiêng. Cũng vì lẽ đó mà con đường dẫn vào đền thờ Thần đạo được gọi là sandō (參道 (tham đạo)?), luôn được mở rộng ra bởi một hoặc nhiều torii, đó cũng là cách dễ nhất để phân biệt một ngôi đền với một ngôi chùa. Nếu sandō đi qua nhiều torii thì cái ở ngoài gọi là ichi no torii (一之鳥居 (nhất chi điểu cư)?).[4] Các cổng tiếp theo gần ngôi đền hơn, theo thứ tự, ni no torii (二之鳥居 (nhị chi điểu cư)?)san no torii (三の鳥居 (tam chi điểu cư)?). Các torii khác nằm xa ngôi đền hơn đại diện cho mức độ nâng cao sự thiêng liêng của cổng gần honden (本殿 (bổn điện)?).[4] Cũng nhờ mối quan hệ vững chắc giừa đền thờ Thần đạo và Hoàng thất Nhật Bản, nên một cổng torii luôn đứng trước lăng mộ của mỗi hoàng đế.

Torii có trước hay sau khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản cho đến bây giờ vẫn còn là một câu hỏi.[5] Trong quá khứ torii chắc chắn đã từng được dùng tại lối vào các ngôi chùa. Thậm chí trong hiện tại, nổi bật như chùa Tứ Thiên Vương được xây bởi Thái tử Shotoku - ngôi chùa lâu đời nhất nước Nhật - cũng có một cổng torii trước lối vào.[6] (Cổng torii bằng gỗ nguyên gốc bị đốt cháy vào năm 1294 và được thay thế sau đó bằng một cổng bằng đá.) Nhiều ngôi chùa Phật giáo bao gồm một hoặc nhiều đền thờ Thần đạo dành riêng cho kami bảo hộ của họ ("Chinjusha"), và trong trường hợp này một cổng torii mang tính chất đánh dấu lối vào của đền thờ. Benzaiten là một nữ thần kết hợp có nguồn gốc từ nữ thần Ấn Độ Sarasvati, kết hợp các yếu tố của cả Thần đạoPhật giáo. Vì lý do này, lễ đường của nữ thần có thể được tìm thấy ở cả các ngôi chùa lẫn các Thần xã, và trong cả hai trường hợp ở phía trước của lễ đường đều được đặt một torii. Benzaiten đôi khi được miêu tả với một biểu tượng torii trên đầu (xem hình bên dưới).[6] Cuối cùng, cho đến thời kỳ Minh Trị (1868 -1912), torii cũng thường xuyên được trang trí bằng những miếng chép những đoạn kinh Phật.[7] Sự kết hợp giữa Phật giáo Nhật Bản và các torii do vậy trở nên lâu đời và bền chặt.

Yamabushi, các tu sĩ khổ hạnh ẩn cư trong núi của Nhật Bản với một truyền thống lâu đời như những chiến binh hùng mạnh được thiên phú cho sức mạnh siêu nhiên, đôi khi sử dụng torii như biểu tượng của họ.[6]

Torii đôi khi cũng được sử dụng như một biểu tượng của Nhật Bản trong những bối cảnh phi tôn giáo. Ví dụ, nó là biểu tượng của Lực lượng An ninh Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến MỹTrung đoàn Bộ binh 187, Sư đoàn Không quân 101 và các lực lượng khác của Mỹ tại Nhật Bản.[8]

Nguồn gốc của torii[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ thần Phật giáo Benzaiten, với biểu tượng torii xuất hiện trên đầu

Nguồn gốc của torii hiện nay vẫn chưa rõ ràng. Cho đến giờ có khá nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của torii, nhưng chưa có giả thuyết nào được xem là đúng và được chấp nhận phổ quát.[4] Bởi vì việc sử dụng các cổng biểu tượng như vậy khá phổ biến ở châu Á - những kiến trúc như vậy có thể ở một số nước châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc cũng như các ngôi làng của người NicobarShompen - các sử gia tin rằng có một sự du nhập của các kiến trúc như vậy vào văn hoá Nhật Bản.

Những cổng torii có thể, ví dụ, có nguồn gốc từ cổng torana trong tu viện của Sanchi ở miền trung Ấn Độ.[1] Theo lý thuyết này, các torana đã được thông qua bởi người sáng lập Chân Ngôn Tông - thiền sư Không Hải, người sử dụng nó để phân ranh giới cho không gian thiêng liêng được sử dụng cho lễ homa.[9] Giả thuyết này hình thành trong các thế kỷ 19 và 20, do sự tương đồng về cấu trúc và tên gọi của hai cửa. Phản đối về ngôn ngữ và lịch sử hiện nay đã xuất hiện, nhưng không có kết luận nào được rút ra.[6]

Tại Bangkok, Thái Lan, một kiến trúc Bà La Môn gọi là Sao Ching Cha có những nét rất tương đồng với một torii. Tuy nhiên, về mặt chức năng, kiến trúc này lại khác so với torii, vì nó được sử dụng như một cột trụ cho xích đu.[6] Trong nghi lễ đánh đu của Bà la môn, người ta cố gắng lấy được một túi tiền kim loại đặt trên một trong những trụ cột.

Các giả thuyết khác cho rằng torii torii có thể liên quan đến bài lâu của Trung Quốc. Tuy nhiên, những kiến trúc này có thể phỏng đoán cho một loạt các hình thức, chỉ có một số trong số đó thực sự hơi giống một torii.[6] Một cấu trúc tương tự - "hongsal-mun" - xuất hiện ở Triều Tiên.[10][11] Không giống như bản sao trong văn hoá Trung Quốc, hongsal-mun không có thay đổi nào đáng kể trong thiết kế và luôn luôn được sơn màu đỏ, với "các mũi tên" nằm trên đỉnh của kiến trúc (là nguồn gốc của tên gọi này).

Các liên hệ được đưa ra với torii
Một cổng torana Ấn Độ 
Một cổng bài lâu Trung Quốc 
Một cổng Hongsalmun Triều Tiên 

Có một số từ nguyên thực tế khác nhau tồn tại cho từ torii. Theo một trong số chúng, tên này bắt nguồn từ thuật ngữ tōri-iru (通り入る? vượt qua và bước vào).[4]

Giả thuyết khác giải thích tên theo nghĩa đen của nó: cánh cổng nguyên bản là nơi để cho chim muông đậu vào. Điều này dựa trên ý nghĩa về tôn giáo của việc chim đậu vào ở văn hoá châu Á, như sotdae (솟대) trong văn hoá Triều Tiên, là những cây sào với một hoặc nhiều con chim bằng gỗ đặt trên đầu của chúng. Thường được tìm thấy theo từng nhóm ở lối vào của làng cùng với các cột trụ totem được gọi là jangseung, chúng là những lá bùa xua đuổi ma quỷ và mang lại cho dân làng may mắn. Các "nơi cho chim đậu" tương tự trong hình thức và chức năng với sotdae cũng tồn tại trong các văn hoá shaman khác ở Trung Quốc, Mông CổXibia. Mặc dù chúng không giống như torii và phục vụ một chức năng khác, những "nơi cho chim đậu" hiển thị cách mà loài chim trong nhiều nền văn hóa châu Á - được cho là có tính chất ma thuật và tôn giáo, và do đó có thể giúp giải thích nghĩa đen bí ẩn của tên gọi torii ("nơi chim đậu").[6][ghi chú 2]

Những cây sào được tin là đã hỗ trợ những biểu tượng chim bằng gỗ tương tự với sotdae đã được tìm thấy cùng với các con chim bằng gỗ, và được tin bởi một một vài nhà sử học đã bằng cách nào đó phát triển thành kiến trúc torii hiện tại.[12] Một điều thú vị là ở cả Hàn Quốc và Nhật Bản, các sào đơn đại diện cho các vị thần (kami trong trường hợp Nhật Bản) và hashira ( trụ?) - cũng chỉ cây sào - là đơn vị đếm cho kami.[7]

Tại Nhật Bản, các loài chim từ lâu cũng có một kết nối với người chết, điều này có nghĩa là nó đã được sinh ra trong mối liên hệ với một số nghi thức tang lễ tiền sử. Các văn bản Nhật Bản cổ đại như KojikiNihon Shoki, thí dụ, nhắc đến cách mà Yamato Takeru trở thành một con chim trắng sau khi chết và theo hình thức đó đã chọn một nơi để chôn cất bản thân mình.[6] Vì lý do này, lăng mộ của ông sau đó đã được gọi là shiratori misasagi (白鳥陵? bạch điểu lăng) - mộ của con chim màu trắng. Nhiều văn bản sau này cũng cho thấy một số mối quan hệ giữa linh hồn người chết và con chim trắng, một liên kết chung còn ở các nền văn hóa khác, có liên kết với shaman như người Nhật Bản. Motif con chim - từ thời kỳ Yayoithời kỳ Kofun - kết hợp chim muông với người chết cũng được tìm thấy ở cũng được tìm thấy ở một số địa điểm khảo cổ. Mối quan hệ giữa chim và cái chết cũng sẽ giải thích lý do tại sao, mặc dù xuất hiện trong tên của chúng, không có dấu vết nào có thể nhìn thấy của chim muông vẫn còn trong torii hiện nay: chim là biểu tượng của cái chết, mà trong Thần đạo mang đến phiền não (kegare).[6]

Cuối cùng, khả năng torii là một phát minh của Nhật Bản không thể không được đề cập đến. Kiến trúc torii cũng có thể được cải biến sang chức năng hiện tại của chúng thông qua các chuỗi sự kiện bên dưới:

Một shinmei torii
  • Bốn cây chống được đặt ở các góc của một khu vực linh thiêng và kết nối với nhau bằng dây thừng, do đó chia cách giữa thiêng liêng và trần tục.
  • Hai cây chống cao hơn sau đó được đặt ở trung tâm của những hướng tốt đẹp nhất, để cho các tu sĩ vào trong.
  • Một sợi dây thừng được buộc từ một cây chống sang một cây chống khác để đánh dấu ranh giới giữa bên trong và bên ngoài, giữa sự thiêng liêng và trần tục. Giai đoạn giả định này tương ứng với một loại torii sử dụng trong thực tế, kiến trúc được gọi là shime-torii (注連鳥居?), một ví dụ trong số đó có thể được nhìn thấy ở phía trước haiden của Đền ŌmiwaKyoto (cũng xem ảnh ở trong phần hình ảnh).
  • Sợi dây đã được thay thế bằng một cây ngang.
  • Bởi vì cổng có cấu trúc yếu, nó được gia cố bằng một dầm nối, và kiến trúc ngày nay gọi là shinmei torii (神明鳥居?) hoặc futabashira torii (二柱鳥居? nhị trụ điểu cư) - torii có hai cột (xem minh hoạ bên phải) được tạo ra.[1] Lý thuyết này, tuy nhiên, không có phần nào có thể giải thích cách mà các cổng có tên gọi của chúng.

Các shinmei torii, có cấu trúc đồng nhất với những tái thiết của các nhà sử học, chỉ gồm bốn khúc gỗ không lột vỏ và không sơn: hai trụ dọc (hashira (?)) được đặt dưới một cây ngang (kasagi (笠木?)) và giữ lại với nhau bằng một dầm nối (nuki (?)).[1] Các cây trụ có thể có khuynh hướng nghiêng lệch một chút, gọi là uchikorobi (内転び?) hoặc chỉ là korobi (転び?). Các phần của cổng luôn thẳng.

Các phần và chi tiết trang trí của torii[sửa | sửa mã nguồn]

Các phần và chi tiết trang trí của torii
  • Torii có thể không sơn hoặc sơn màu đỏ son (vermillion) và màu đen. Vùng màu đen được giới hạn ở phần kasaginemaki (根巻 căn cải?, xem minh hoạ). Rất hiếm khi torii có thể được tìm thấy với màu sắc khác. Ví dụ, Kamakura-gūKamakura có một torii màu trắng và đỏ.
  • Kasagi có thể được gia cố bên dưới một cây ngang thứ hai gọi là shimaki hoặc shimagi (島木?).[13]
  • Kasagishimaki có thể có một đường cong hướng lên gọi là sorimashi (反り増し?).[14]
  • Nuki thường được giữ tại chỗ bởi nêm (kusabi (?)). Trong nhiều trường hợp, kusabi thuần chỉ mang tính trang trí.
  • Ở giữa nuki, có thể có một thanh chống hỗ trợ gọi là gakuzuka (額束?), đôi khi được bao phủ bởi một tấm bảng đề tên của ngôi đền (xem ảnh trong thư viện).
  • Các trụ cột thường chống trên một chi tiết hình vòng bằng đá trắng gọi là kamebara (亀腹 quy phúc?, bụng rùa) hoặc daiishi (台石 đài thạch?, hòn đá nền). Chi tiết đá này thỉnh thoảng được thay thế bằng một chi tiết che khuất mang tính trang trí màu đen gọi là nemaki (根巻 căn cải?, ống bọc cột chống).
  • Ở phía trên của các trụ cột có thể có một vòng trang trí gọi là daiwa (台輪? vòng lớn).[1]
  • Các cổng có một chức năng hoàn toàn mang tính biểu tượng và do đó thường không có cửa ra vào hoặc hàng rào, nhưng ngoại lệ tồn tại, ví dụ như trong trường hợp của bộ ba torii nằm cạnh nhau của Đền Ōmiwa (miwa torii, xem bên dưới).[15]

Các phong cách[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt cấu trúc, loại đơn giản nhất trong các loại toriishime torii hoặc chūren torii (注連鳥居?) (xem minh hoạ bên dưới).[ghi chú 3] Có lẽ là một trong những loại lâu đời nhất của torii, nó bao gồm hai cây chống với một sợi dây thừng linh thiêng gọi là shimenawa gắn giữa chúng.[16]

Tất cả các loại torii có thể được chia thành hai họ torii, họ shinmei (神明系?) và họ myōjin (明神系?).[1][ghi chú 4] Torii của họ thứ nhất chỉ có các chi tiết thẳng, họ thứ hai thì có cả các chi tiết thẳng và cong.[1]

Họ shinmei[sửa | sửa mã nguồn]

Shinmei torii và các biến thể của nó được đặc trưng bởi các cây ngang thẳng ở trên cùng.

Thư viện hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Shinmei torii[sửa | sửa mã nguồn]

Shinmei torii (神明鳥居?), loại được đặt tên cho họ torii, được cấu thành chỉ bằng một cây ngang (kasagi) và hai cột trụ (hashira) ráp với nhau bằng một dầm nối (nuki).[17] Ở dạng đơn giản nhất của nó, tất cả bốn thành tố được làm tròn và những cột trụ không có độ nghiêng. Khi nuki hình chữ nhật trong phần đó, nó được gọi là Yasukuni torii, bắt nguồn từ Thần xã Yasukuni ở Tokyo.[18] It is believed to be the oldest torii style.[1]

Ise torii[sửa | sửa mã nguồn]

Ise torii (伊勢鳥居?) (xem minh hoạ bên trên) là những cánh cổng chỉ xuất hiện ở Nội Cung và Ngoại Cung ở Thần cung IseMie. Vì lý do này, chúng cũng được gọi là Jingū torii, từ Jingū, tên gọi tiếng Nhật chính thức của Thần cung Ise.[16]

Có tất cả hai biến thể. Loại phổ biến nhất là cực kỳ tương tự như một shinmei torii, tuy nhiên cột trụ của chúng có một khuynh hướng nghiêng nhẹ và nuki của chúng được giữ tại chỗ bằng nêm (kusabi). Kasagi có dạng khối ngũ giác (xem minh hoạ trong thư viện hình ảnh). Các phần đuôi của kasagi hơi dày, tạo điểm nhấn bằng một đường nghiêng lên trên. Tất cả những torii này được xây dựng sau thế kỷ 14.

Loại thứ hai là tương tự như loại đầu tiên, nhưng cũng có một cây ngang thứ hai hình chữ nhật (shimaki) nằm dưới một kasagi hình ngũ giác.[19]

Loại cổng này và phong cách shinmei torii bắt đầu trở nên phổ biến hơn trong những năm đầu thế kỷ 20 tại thời điểm Thần đạo Quốc gia, bởi chúng được coi là lâu đời nhất và uy tín nhất.[6]

Kasuga torii[sửa | sửa mã nguồn]

Kasuga torii (春日鳥居?) là một myōjin torii (xem minh hoạ bên trên) với các cây ngang thẳng ở trên cùng. Phong cách này lấy tên gọi từ ichi-no-torii (一の鳥居?), hoặc torii chính của Kasuga-taisha.

Các trụ cột có một độ nghiêng và hơi thuôn lại theo hình nón. Nuki trồi ra và được giữ tại chỗ bởi kusabi được bắt vào hai bên.[20]

Loại torii này là loại đầu tiên được sơn son và được nhận một shimakiKasuga Taisha, đền thờ có tên được đặt cho phong cách này.[16]

Hachiman torii[sửa | sửa mã nguồn]

Gần giống như một kasuga torii (xem minh hoạ bên trên), nhưng với hai cây ngang trên có đường vát chéo, Hachiman torii (八幡鳥居?) xuất hiện lần đầu trong thời kỳ Heian.[16] Tên gọi của nó bắt nguồn từ thực tế rằng loại torii này thường được sử dụng tại các đền thờ thần Hachiman.

Kashima torii[sửa | sửa mã nguồn]

Kashima torii (鹿島鳥居?) (xem minh hoạ bên trên) là một shinmei torii không có korobi, với kusabi và một nuki trồi ra. Tên gọi của nó bắt nguồn từ Đền KashimaIbaraki.

Kuroki torii[sửa | sửa mã nguồn]

Kuroki torii (黒木鳥居?) là một shinmei torii được xây dựng với gỗ không lột vỏ. Bởi loại torii này yêu cầu được thay thế vào mỗi khoảng ba năm, nó đang trở nên ngày càng hiếm. Ví dụ điển hình nhất là Đền Nonomiya ở Kyoto. Tuy nhiên, đền thờ này bây giờ sử dụng một torii làm bằng vật liệu tổng hợp mô phỏng giao diện của gỗ.

Shiromaruta torii[sửa | sửa mã nguồn]

Shiromaruta torii (白丸太鳥居?) hoặc shiroki torii (白木鳥居?) là một shinmei torii làm từ những thanh gỗ dược lột vỏ. Loại torii này được đặt tại lăng mộ của tất cả các Thiên hoàng.

Mihashira torii[sửa | sửa mã nguồn]

Mihashira torii hoặc Mitsubashira Torii (三柱鳥居 Torii ba cột trụ?, cũng 三角鳥居 sankaku torii) (xem minh hoạ bên trên) là một loại torii xuất hiện với một nhóm ba torii đơn (xem thư viện). Nó được suy luận bởi một số người rằng đã được xây dựng bởi các Kitô hữu đầu tiên của Nhật Bản đại diện cho Ba Ngôi Thiên Chúa.[21]

Torii của họ myōjin[sửa | sửa mã nguồn]

Myōjin torii và các biến thể của nó được đặc trưng bởi các cây ngang cong.

Thư viện hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Myōjin torii[sửa | sửa mã nguồn]

Myōjin torii (明神鳥居?), cho đến nay là phong cách torii phổ biến nhất, được đặc trưng bởi các cây ngang cong ở phía trên (kasagishimaki). Cả hai đường đều được làm cong nhẹ lên. Kusabi có xuất hiện trong công trình. Một myōjin torii có thể được làm từ gỗ, đá, bê tông hoặc các vật liệu khác, có thể được sơn son hoặc không sơn.

Nakayama torii[sửa | sửa mã nguồn]

Phong cách Nakayama torii (中山鳥居?), lấy tên từ Thần xã Nakayama ở Okayama, về cơ bản là một myōjin torii, nhưng nuki không nhô ra từ các cột trụ, và phần đường cong tạo bởi hai cây ngang được làm lộ ra nhiều hơn so với bình thường. Torii ở đền Nakayama cao tới 9 m, được xây dựng vào năm 1791.[16]

Daiwa / Inari torii[sửa | sửa mã nguồn]

Daiwa hoặc Inari torii (大輪鳥居・稲荷鳥居?) (xem minh hoạ phía trên) là một myōjin torii với hai vòng được gọi là daiwa ở trên đỉnh hai cột trụ. Tên gọi "Inari torii" tới từ từ thực tế là các daiwa torii màu đỏ son có xu hướng phổ biến ở các đền thờ thần Inari, nhưng ngay cả ở đền thờ nổi tiếng Fushimi Inari, không phải tất cả torii đều theo phong cách này. Phong cách này xuất hiện đầu tiên vào cuối thời kỳ Heian.

Sannō torii[sửa | sửa mã nguồn]

Sannō torii (山王鳥居?) (xem ảnh phía dưới) là myōjin torii với một đầu hồi vượt lên phía trên hai cây ngang. Ví dụ rõ ràng nhất về phong cách này có thể tìm thấy ở đền Hiyoshi gần hồ Biwa.[16]

Miwa torii[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng được gọi là sankō torii (三光鳥居 tam quang điểu cư?, torii ba đèn), mitsutorii (三鳥居 tam điểu cư?, torii bộ ba) hoặc komochi torii (子持ち鳥居? torii với trẻ em) (xem minh hoạ phía trên), miwa torii (三輪鳥居?) gồm ba myōjin torii mà có các cột trụ không nghiêng. Nó có thể có hoặc không có các cánh cửa. Cổng nổi tiếng nhất là ở Đền Ōmiwa, ở Nara, nơi mà tên gọi được đặt cho phong cách này.[16] an entrance to a temple

Ryōbu torii[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng được gọi là yotsuashi torii (四脚鳥居 tứ cước điểu cư?, torii bốn chân), gongen torii (権現鳥居?) hoặc chigobashira torii (稚児柱鳥居?), ryōbu torii (両部鳥居?) là một daiwa torii có các cột trụ được làm kiên cố thêm ở cả hai bên bởi các cây chống vuông (xem minh hoạ bên trên).[22] Tên gọi của phong cách bắt nguồn từ mối quan hệ lâu dài với Thần đạo Ryōbu, một dòng tư tưởng trong Chân ngôn tông. Torii nổi tiếng nổi trên mặt nước ở Itsukushima là một ryōbu torii, và đền thờ đó từng là một ngôi chùa của phái Chân ngôn tông, vì vậy mà nó vẫn có một ngôi chùa.[23]

Hizen torii[sửa | sửa mã nguồn]

Hizen torii (肥前鳥居?) là một loại bất thường của torii với một kasagi tròn và các cột trụ phình xuống bên dưới. Ví dụ ở thư viện bên dưới là cổng torii chính ở đền Chiriku HachimangūSaga, và là một Tài sản Văn hoá Quan trọng được thành phố chỉ định.

Thư viện hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chùa của Phật giáo được đại diện bởi một chữ Vạn. Họ cũng có một loại cổng biểu tượng, tuy nhiên loại cổng này có hình dáng rất khác. Với chủ đề này, xem các bài viết Shichidō garan, Mon (kiến trúc), SōmonSanmon.
  2. ^ Torii cũng từng được gọi là uefukazu-no-mikado hoặc uefukazu-no-gomon (於上不葺御門 ư thượng bất tập ngự môn?, cổng không có mái). Việc xuất hiện tiền tố kính ngữ mi- hoặc go- làm cho nó có khả năng thời điểm này chúng đã được gắn liền với những đền thờ.
  3. ^ Hai tên gọi này chỉ đơn giản là các cách đọc khác nhau của cùng một cụm kanji.
  4. ^ Có tồn tại các cách khác để phân loại torii, dựa trên ví dụ về sự hiện diện hay không của các shimaki. Xem ví dụ ở trang web Jinja Chishiki.
  5. ^ Ví dụ này là torii chính của đền Kashii, Saga
  6. ^ Nơi này là đền Zeniarai Benten ở Kamakura

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g “JAANUS”. Torii. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2010. 
  2. ^ “Historical Items about Japan”. Michelle Jarboe. 11 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010. 
  3. ^ https://books.google.com.au/books?id=gs1sFlMGy2AC&pg=PA17&lpg=PA17&dq=torana+in+India+China+Japan&source=bl&ots=rtQGSdJQJP&sig=9prkY5DK3kqSaRss_1w817jNfuc&hl=en&sa=X&ved=0ahUKEwiJzMPtraTLAhXIk5QKHUIQCbgQ6AEIIDAB#v=onepage&q=torana%20in%20India%20China%20Japan&f=false
  4. ^ a ă â b “Torii”. Encyclopedia of Shinto. Kokugakuin University. 2 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2010. 
  5. ^ Scheid, Bernhard. “Einleitung: Religiöse Bauten in Japan”. Religion-in-Japan. University of Vienna. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2010. 
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g Scheid, Bernhard. “Religion in Japan”. Torii (bằng tiếng German). University of Vienna. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  7. ^ a ă Bocking, Brian (1997). A Popular Dictionary of Shinto. Routledge. ISBN 978-0-7007-1051-5. 
  8. ^ DefenseLINK News: Revised Helmet Patch Immortalizes World War II Troops
  9. ^ James Edward Ketelaar.Of Heretics and Martyrs in Meiji Japan. Princeton: Princeton University Press, 1990. p.59.
  10. ^ Guisso, Richard W. I.; Yu, Chai-Shin (1 tháng 1 năm 1988). Shamanism: The Spirit World of Korea. Jain Publishing Company. tr. 56. ISBN 9780895818867. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2016. 
  11. ^ Bocking, Brian (30 tháng 9 năm 2005). A Popular Dictionary of Shinto. Routledge. tr. 319. ISBN 9781135797386. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2016. 
  12. ^ “Onrain Shoten BK1: Kyoboku to torizao Yūgaku Sōsho” (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2010. 
  13. ^ Iwanami Kōjien (広辞苑?) Japanese dictionary, 6th Edition (2008), DVD version
  14. ^ “Torii no iroiro” (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2010. 
  15. ^ “JAANUS”. Toriimon. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  16. ^ a ă â b c d đ Picken, Stuart (22 tháng 11 năm 1994). Essentials of Shinto: An Analytical Guide to Principal Teachings (Resources in Asian Philosophy and Religion). Greenwood. tr. 148–160. ISBN 978-0-313-26431-3. 
  17. ^ “JAANUS”. Shinmei torii. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2010. 
  18. ^ “Torii no bunrui” (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2010. 
  19. ^ “JAANUS”. Ise torii. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  20. ^ “JAANUS”. Kasuga torii. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  21. ^ "mihashira torii 三柱鳥居." JAANUS. Retrieved on May 31, 1958 .
  22. ^ Bản mẫu:Jaanus2
  23. ^ Hamashima, Masashi (1999). Jisha Kenchiku no Kanshō Kiso Chishiki (bằng tiếng Japanese). Tokyo: Shibundō. tr. 88.