Điện ảnh Ý

| Điện ảnh Ý | |
|---|---|
Một bức ảnh ghép đại diện cho các diễn viên và nhà làm phim Ý nổi tiếng[a] | |
| Số màn chiếu | 3,579 (2025)[1][2] |
| • Bình quân đầu người | 5,9 trên 100.000 (2013)[3] |
| Nhà phân phối chính | Walt Disney Italia (21.7%) Eagle Pictures (12.2%) Warner Bros. Italia (10.6%) Universal Pictures (10,6%) Medusa Film (10.4%)[1][2] |
| Phim truyện được sản xuất (2025)[1][2] | |
| Tổng cộng | 462 (incl. co-productions) |
| Tài liệu | 218 |
| Số lượt xem (2025)[1][2] | |
| Tổng cộng | 68,361,056 |
| • Trên đầu người | 1.50 (2012)[4] |
| Phim quốc gia | 22,780,815 (33.3%) |
| Tổng doanh thu phòng vé (2025)[1][2] | |
| Tổng cộng | 497 triệu euro |
| Phim quốc gia | 162 triệu euro (32.7%) |
Điện ảnh Ý (tiếng Ý: cinema italiano, phát âm: [ˈtʃiːnema itaˈljaːno]) bao gồm các bộ phim được sản xuất tại Ý hoặc do các đạo diễn người Ý thực hiện. Ngay từ những ngày đầu sơ khai, điện ảnh Ý đã tạo nên sức ảnh hưởng sâu rộng tới các chuyển động điện ảnh trên toàn thế giới. Ý được coi là một trong những cái nôi của điện ảnh nghệ thuật, nơi phong cách thể hiện thị giác và nghệ thuật quay phim luôn đóng vai trò là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong suốt chiều dài lịch sử điện ảnh nước này.[5][6] Tính đến năm 2018, các tác phẩm điện ảnh Ý đã xuất sắc giành được 14 giải Oscar cho Phim nước ngoài hay nhất (nhiều nhất so với bất kỳ quốc gia nào) cùng 12 giải Cành cọ Vàng (đứng thứ hai thế giới), một giải Oscar cho Phim hay nhất, cùng nhiều giải Sư tử Vàng và Gấu Vàng danh giá.
Lịch sử điện ảnh Ý bắt đầu chỉ vài tháng sau khi anh em nhà Lumière bắt đầu trình chiếu những thước phim điện ảnh đầu tiên.[7][8] Vittorio Calcina, một cộng sự của anh em nhà Lumière, hoạt động từ năm 1896 đến 1905, được coi là đạo diễn người Ý đầu tiên. Những bộ phim đầu tiên ra đời vào năm 1896 và được thực hiện tại các thành phố lớn trên khắp bán đảo Ý.[7][8] Những thử nghiệm ngắn ngủi này đã lập tức thu hút sự tò mò của tầng lớp bình dân, tạo động lực cho các nhà sản xuất liên tục tạo ra các tác phẩm mới, từ đó đặt nền móng cho sự ra đời của một ngành công nghiệp điện ảnh thực thụ.[7][8]
Vào đầu những năm 1900, các bộ phim mang tính nghệ thuật và sử thi như Otello (1906), The Last Days of Pompeii (1908), L'Inferno (1911), Quo Vadis (1913) và Cabiria (1914) đã được sản xuất dựa trên các tác phẩm chuyển thể từ sách hoặc kịch bản sân khấu. Các nhà làm phim Ý khi đó đã sử dụng thiết kế bối cảnh phức tạp, trang phục lộng lẫy cùng mức kinh phí kỷ lục để tiên phong tạo nên những tác phẩm điện ảnh kinh điển. Trong những năm đầu thế kỷ 20, dòng phim câm phát triển mạnh mẽ, đưa hàng loạt ngôi sao tên tuổi của Ý vươn lên vị trí hàng đầu cho đến khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc.[9]
Chủ nghĩa vị lai Ý (Italian futurism), phong trào điện ảnh tiên phong lâu đời nhất tại châu Âu, đã diễn ra vào cuối những năm 1910.[10] Sau một giai đoạn suy thoái vào thập niên 1920, ngành công nghiệp điện ảnh Ý hồi sinh mạnh mẽ vào những năm 1930 nhờ sự xuất hiện của phim có tiếng. Một thể loại vô cùng phổ biến tại Ý thời kỳ này là Telefoni Bianchi (Điện thoại trắng), vốn bao gồm các bộ phim hài lấy bối cảnh xa hoa, lộng lẫy. Dòng phim Calligrafismo (Chủ nghĩa thư pháp) ngược lại tạo nên sự tương phản gay gắt với phong cách hài hước kiểu Mỹ của Telefoni Bianchi; nó mang đậm tính nghệ thuật, cực kỳ chú trọng hình thức, phức tạp trong biểu đạt và chủ yếu khai thác các chất liệu văn học đương đại. Dù chính quyền Phát xít Ý đã hỗ trợ tài chính cho ngành điện ảnh nước nhà, nổi bật là việc xây dựng phim trường Cinecittà, họ cũng thực hiện chính sách kiểm duyệt gắt gao, khiến nhiều bộ phim Ý sản xuất vào cuối thập niên 1930 mang tính chất tuyên truyền.
Một kỷ nguyên mới mở ra khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc với sự ra đời của phong trào Chủ nghĩa tân thực địa Ý (Italian neorealism) đầy ảnh hưởng. Phong trào này nhận được sự đồng thuận và đánh giá rất cao từ cả khán giả lẫn giới chuyên môn trong suốt thời kỳ hậu chiến,[11] đồng thời trở thành bệ phóng cho sự nghiệp đạo diễn của Luchino Visconti, Roberto Rossellini, và Vittorio De Sica. Chủ nghĩa tân thực địa dần thoái trào vào cuối thập niên 1950 để nhường chỗ cho những bộ phim nhẹ nhàng hơn, chẳng hạn như thể loại hài kịch Ý (Commedia all'italiana) cùng sự xuất hiện của các đạo diễn tầm cỡ như Federico Fellini và Michelangelo Antonioni. Hàng loạt nữ diễn viên như Sophia Loren, Giulietta Masina và Gina Lollobrigida cũng đã vươn tầm thành các ngôi sao quốc tế trong giai đoạn này.[12]
Từ giữa những năm 1950 đến cuối thập niên 1970, thể loại hài kịch Ý (Commedia all'italiana) cùng nhiều thể loại khác đã bùng nổ nhờ sự phát triển của dòng phim tác giả (auteur cinema), đưa điện ảnh Ý đạt tới vị thế vô cùng uy tín cả trong nước lẫn quốc tế.[13][14] Thể loại phim viễn tây Ý đã gặt hái thành công rực rỡ từ giữa thập niên 1960, đỉnh cao là bộ ba tác phẩm Dollars của đạo diễn Sergio Leone với những bản nhạc phim đầy bí ẩn của nhạc sĩ Ennio Morricone, đã trở thành biểu tượng văn hóa đại chúng của thể loại phim viễn tây. Các bộ phim giật gân giật gân mang yếu tố gợi cảm, hay còn gọi là giallo, do các đạo diễn như Mario Bava và Dario Argento thực hiện trong thập niên 1970, cũng tạo nên sức ảnh hưởng sâu rộng tới dòng phim kinh dị trên toàn thế giới.
Từ những năm 1980, do nhiều yếu tố tác động, ngành sản xuất phim Ý đã trải qua một giai đoạn khủng hoảng; dẫu vậy, điều đó vẫn không thể ngăn cản việc ra đời của những tác phẩm chất lượng trong thập niên 1990 và bước sang thiên niên kỷ mới. Sự hồi sinh của điện ảnh Ý trong giai đoạn này đã nhận được nhiều giải thưởng cao quý cùng sự đón nhận nồng nhiệt trên khắp thế giới.[15][16][17] Trong suốt thập niên 1980 và 1990, các đạo diễn như Ermanno Olmi, Bernardo Bertolucci, Giuseppe Tornatore, Gabriele Salvatores và Roberto Benigni đã mang lại sự tán dương từ giới chuyên môn cho điện ảnh Ý,[12] trong khi những tên tuổi đạo diễn nổi tiếng nhất trong thập niên 2000 và 2010 là Matteo Garrone, Paolo Sorrentino, Marco Bellocchio, Nanni Moretti và Marco Tullio Giordana.[18]
Ý cũng nổi tiếng với Liên hoan phim Venezia danh giá, liên hoan phim lâu đời nhất thế giới, được tổ chức thường niên từ năm 1932 và trao giải thưởng Sư tử Vàng cao quý.[19] Vào năm 2008, trong khuôn khổ chương trình Ngày của các Tác giả, một sự kiện diễn ra song song với Liên hoan phim Venezia, ban tổ chức đã phối hợp với phim trường Cinecittà và Bộ Di sản Văn hóa Ý để lập ra danh sách 100 bộ phim đã làm thay đổi ký ức tập thể của đất nước trong giai đoạn từ 1942 đến 1978, mang tên "100 bộ phim Ý cần được bảo tồn".
Giải thưởng David di Donatello là một trong những giải thưởng điện ảnh danh giá nhất ở cấp quốc gia.[20] Được trao bởi Viện Hàn lâm Điện ảnh Ý tại phim trường Cinecittà, các cá nhân chiến thắng trong lễ trao giải sẽ được nhận một tượng nhỏ phỏng theo pho tượng David nổi tiếng. Theo truyền thống, các ứng viên lọt vào vòng chung kết của giải thưởng sẽ được Tổng thống Ý đón tiếp trọng thị tại Điện Quirinal. Sự kiện này được coi là giải Oscar phiên bản Ý.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Những năm đầu
[sửa | sửa mã nguồn]Chỉ vài tháng sau khi Anh em Lumière phát minh ra kỹ thuật điện ảnh, nền nghệ thuật mới này đã xuất hiện ở Roma, Ý khi Giáo hoàng Leo XIII được ghi hình trong thời gian vài giây trong khi đang cầu nguyện.
Công nghiệp điện ảnh Ý được thực sự hình thành trong khoảng thời gian từ năm 1903 đến 1908 với 3 hãng phim lớn, Cines ở Roma, Ambrosio ở Turino và Itala Film. Các hãng phim khác cũng nhanh chóng được thành lập tại Milano và Napoli. Chỉ trong thời gian ngắn, các công ty này đã nhanh chóng sản xuất được những bộ phim có chất lượng và thực hiện việc xuất khẩu phim ra bên ngoài nước Ý. Sở trường thời bấy giờ của điện ảnh nước này là các bộ phim lịch sử với tác phẩm đầu tiên là La presa di Roma, 20 settembre 1870 được đạo diễn Filoteo Alberini thực hiện năm 1905. Các bộ phim tiếp theo nói về những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử như Bạo chúa Nero, Julius Caesar và Cleopatra được công chúng đón nhận nồng nhiệt. Bộ phim của Arturo Ambrosio, Những ngày cuối cùng của thành Pompei (1908) nổi tiếng tới mức chỉ sau đó 5 năm nó đã được làm lại một phiên bản khác do Mario Caserini đạo diễn. Các nữ diễn viên điện ảnh ngôi sao (tiếng Ý: diva) đầu tiên của công nghiệp điện ảnh Ý có thể kể tới Lyda Borelli, Francesca Bertini và Pina Menichelli, trong đó Francesca Bertini có lẽ là một trong những diễn viên đầu tiên xuất hiện trên bán khỏa thân trong một bộ phim.
Cinecittà
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong khi điện ảnh Ý đang phát triển rực rỡ thì chính quyền Phát xít Ý bắt đầu tăng cường kiểm soạt các loại hình nghệ thuật phổ biến, bao gồm cả điện ảnh. Dưới sự ủng hộ của Benito Mussolini, một khu vực lớn ở phía Tây Nam Roma đã được dành riêng để xây dựng một khu phố điện ảnh (ex novo) cực lớn lấy tên là Cinecittà. Khu phố này được quy hoạch để có tất cả những cơ sở cần thiết cho một bộ điện ảnh, bao gồm các rạp phim, các khu trường quay, khu kĩ thuật và thậm chí là một trường dạy quay phim cho các nghệ sĩ trẻ. Cùng lúc này, Vittorio Mussolini, con trai của nhà độc tài cũng đứng ra thành lập một công ty sản xuất phim quốc gia để tạo điều kiện hoạt động cho tất cả các tài năng điện ảnh, từ đạo diễn, nhà biên kịch đến diễn viên. Kết quả của những chính sách khuyến khích điện ảnh này là sự ra đời của một thế hệ đạo diễn cực kì tài năng gắn với Cinecittà trong đó phải kể tới Roberto Rossellini, Federico Fellini và Michelangelo Antonioni.
Chủ nghĩa hiện thực mới
[sửa | sửa mã nguồn]Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ buộc điện ảnh Ý phải tập trung cho các bộ phim mang tính chất tuyên truyền cho quân đội Phát xít. Tuy vậy năm 1942 đạo diễn Alessandro Blasetti lại cho ra đời bộ phim về tầng lớp bình dân Quattro passi tra le nuvole đánh dấu sự ra đời của trào lưu Hiện thực mới (neorealismo) trong nghệ thuật điện ảnh Ý.
Trào lưu hiện thực mới thực sự bùng nổ và gây tiếng vang ngay sau khi chiến tranh kết thúc, chỉ trong thời gian cuối thập niên 1940, điện ảnh Ý đã chứng kiến sự ra đời của những bộ phim để đời như bộ ba Roma città aperta (1945), Paisà (1946), Germania anno zero (1948) của Roberto Rossellini. Tuy Cinecittà không thể hoạt động nhưng việc sản xuất phim vẫn được tiến hành ngoài trời, ngay trên những con đường bị tàn phá của một đất nước đã thua cuộc trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Những bộ phim khắc họa cuộc sống khó khăn của nước Ý sau chiến tranh và diễn xuất tuyệt vời của các diễn viên như Anna Magnani (diễn viên Ý đầu tiên giành Giải Oscar Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất) là một công cụ văn hóa quan trọng của chính quyền trong việc khích lệ tinh thần người dân.
Những năm sau chiến tranh cũng chứng kiến sự thăng hoa của một trong những đạo diễn Ý vĩ đại nhất, Vittorio De Sica, với một loạt bộ phim hiện thực kinh điển như Kẻ cắp xe đạp (Ladri di biciclette, 1948), Miracolo a Milano (1950) và Umberto D. (1952).
Với số lượng lớn tác phẩm đặc sắc, chỉ trong vòng hơn 10 năm từ 1947 đến 1959, điện ảnh Ý đã giành tới 5 Giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất cho các phim Sciuscià (1947), Kẻ cắp xe đạp (1949), Le mura di Malapaga (1950, sản phẩm hợp tác với Pháp), La strada (1956) và Le notti di Cabiria (1957) trong đó 2 phim đầu do De Sica đạo diễn còn 2 phim cuối do Federico Fellini đạo diễn.
Trào lưu hiện thực mới hồng và phim hài
[sửa | sửa mã nguồn]Sau Umberto D., trào lưu hiện thực mới trong điện ảnh Ý gần như chấm dứt, có lẽ một phần do điều kiện kinh tế và xã hội được cải thiện đã hướng các đạo diễn tới những đề tài mới tươi sáng hơn là các tác phẩm mang gam màu tối về cuộc sống. Thế chỗ nó là trào lưu hiện thực mới hồng (neorealismo rosa), vẫn là các bộ phim lấy đề tài xã hội Ý nhưng có sự góp mặt của các nữ diễn viên xinh đẹp như Sophia Loren, Gina Lollobrigida, Silvana Pampanini, Lucia Bosé.
Trào lưu hiện thực mới hồng được tiếp nối bằng những bộ phim hài đặc trưng kiểu Ý (Commedia all'italiana) có đề tài xã hội cực kì nghiêm túc nhưng lại được diễn đạt bằng những đoạn thoại và cảnh phim hài hước, trào phúng. Bộ phim mở đầu cho trào lưu này là I soliti Ignoti (1958) của đạo diễn Mario Monicelli. Vittorio Gassman, Marcello Mastroianni, Ugo Tognazzi, Alberto Sordi, Claudia Cardinale, Monica Vitti và Nino Manfredi là những ngôi sao lớn của thể loại phim này, họ cũng là những diễn viên tiêu biểu cho thời kì phục hồi của kinh tế Ý. Mastroianni còn là diễn viên chính của một trong những bộ phim Ý xuất sắc nhất thế kỷ, La dolce vita (1960) của Fellini, tác phẩm đoạt giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes năm 1960.
Phim miền Tây kiểu Ý
[sửa | sửa mã nguồn]Những năm 1960 chứng kiến sự ra đời của một thể loại phim đặc sắc của Ý, những bộ phim miền Tây kiểu Ý (Spaghetti Western), vốn xuất phát từ những bộ phim miền Tây truyền thống của điện ảnh Hoa Kỳ nhưng lại được quay tại Ý với kinh phí thấp và kịch bản cũng như phong cách quay rất đặc sắc.
Đại diện tiêu biểu cho thể loại phim này là bộ ba phim dollar (Dollars Trilogy) của đạo diễn Sergio Leone gồm Per un pugno di dollari (1964), Per qualche dollaro in più (1965) và Il buono, il brutto, il cattivo (1966) đều do Clint Eastwood thủ vai chính và Ennio Morricone viết nhạc phim.
Giallo
[sửa | sửa mã nguồn]Giallo (màu vàng) là thể loại phim kinh dị kiểu Ý bắt đầu nổi lên trong thập niên 1960 và 1970 khi các đạo diễn Mario Bava, Riccardo Freda, Antonio Margheriti và Dario Argento thực hiện các bộ phim kinh dị và rùng rợn kinh điển sau này có ảnh hưởng lớn tới thể loại này của điện ảnh thế giới như La maschera del demonio (1960), Danza macabra (1964), Reazione a catena (1971) và L'uccello dalle piume di cristallo (1970).
Thể loại này được khai thác sâu hơn bằng những bộ phim điện ảnh kiểu tài liệu (Mondo movie) trong đó các cảnh quay được thực hiện bằng phong cách quay phim tài liệu với bối cảnh phim gần với hiện thực ở mức cao nhất. Tiêu biểu cho phong cách này là Mondo Cane (1962) của Gualtiero Jacopetti và đặc biệt là Cannibal Holocaust (1980) của Ruggero Deodato. Cannibal Holocaust được quay chân thực và kinh dị tới mức ở rất nhiều nước nó bị cấm phát hành và đạo diễn Deodato thậm chí còn bị mời hầu tòa vì các quan chức tưởng đây là một bộ phim tài liệu quay cảnh giết người thật (phim snuff - snuff film) và Deodato chỉ được thả sau khi đưa ra các bằng chứng cho thấy các diễn viên vẫn còn sống sau khi thực hiện các cảnh phim.[21]
Cuộc khủng hoảng thập niên 1980
[sửa | sửa mã nguồn]Từ cuối thập niên 1970 đến giữa thập niên 1980 điện ảnh Ý lâm vào tình trạng khủng hoảng kéo dài, các bộ phim nghệ thuật đặc trưng cho nghệ thuật thứ 7 Ý bị chia cắt khỏi dòng phim chính trên thị trường. Những bộ phim được ưa chuộng thời kì này thường chỉ là những bộ phim có chất lượng nghệ thuật thấp, thường là phim hài đề cập tới những điều cấm kị trong xã hội Ý, đặc biệt là về các đề tài tình dục.
Trong số ít ỏi các bộ phim có chất lượng nghệ thuật cao có thể kể tới tác phẩm hợp tác Hoàng đế cuối cùng (The Last Emperor) của đạo diễn Bernardo Bertolucci, bộ phim này đã giành Giải Oscar Phim hay nhất cùng 8 giải Oscar khác. Một bộ phim xuất sắc khác là C'era una volta in America của Sergio Leone.
Thập niên 1990 đến nay
[sửa | sửa mã nguồn]Cuối thập niên 1980 một thế hệ đạo diễn mới đã bắt đầu đem lại sức sống cho các bộ phim Ý. Sự hồi sinh của điện ảnh Ý bắt đầu với bộ phim gây tiếng vang Rạp chiếu bóng Thiên đường (Nuovo Cinema Paradiso, 1988) của Giuseppe Tornatore, tác phẩm chiến thắng tại hạng mục Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất tại lễ trao Giải Oscar năm 1990. Cũng tại hạng mục này điện ảnh Ý còn hai lần chiến thắng khác vào thập niên 1990 với Mediterraneo (1991) của Gabriele Salvatores và Cuộc sống tươi đẹp (La vita è bella, 1998) của Roberto Benigni. Benigni cũng là người Ý đầu tiên giành tới 3 giải Oscar trong một năm với các giải Vai nam chính, Phim nói tiếng nước ngoài và Nhạc phim. Năm 2017 có Call Me by Your Name của Luca Guagdanino cũng là một bộ phim lãng mạn, tuổi mới lớn xuất sắc
Nhân vật nổi tiếng
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 3 4 5 "Cinetel – Studi e Ricerche" (bằng tiếng Ý). CINETEL. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 "Conferenza Stampa Mercato Cinema 2025 – IL CINEMA IN SALA NEL 2025" (PDF) (bằng tiếng Ý). CINETEL. ngày 8 tháng 1 năm 2026. tr. 1–7. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Table 8: Cinema Infrastructure – Capacity". UNESCO Institute for Statistics. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2013.
- ↑ "Country Profiles". Europa Cinemas. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2013.
- ↑ Bondanella, Peter (2009). A History of Italian Cinema. A&C Black. ISBN 9781441160690.
- ↑ Luzzi, Joseph (ngày 30 tháng 3 năm 2016). A Cinema of Poetry: Aesthetics of the Italian Art Film. JHU Press. ISBN 9781421419848.
- 1 2 3 "L'œuvre cinématographique des frères Lumière – Pays: Italie" (bằng tiếng Pháp). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2022.
- 1 2 3 "Il Cinema Ritrovato – Italia 1896 – Grand Tour Italiano" (bằng tiếng Ý). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2022.
- ↑ Moliterno, Gino (2009). The A to Z of Italian Cinema (bằng tiếng Ý). Scarecrow Press. tr. 243. ISBN 978-0-8108-7059-8.
- ↑ "Il cinema delle avanguardie" (bằng tiếng Ý). ngày 30 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Bruni, David (2013). Roberto Rossellini: Roma città aperta (bằng tiếng Ý). Lindau. ISBN 978-88-6708-221-6.
- 1 2 Katz, Ephraim (2001), "Italy", The Film Encyclopedia, HarperResource, tr. 682–685, ISBN 978-0060742140
- ↑ Silvia Bizio; Claudia Laffranchi (2002). Gli italiani di Hollywood: il cinema italiano agli Academy Awards (bằng tiếng Ý). Gremese Editore. ISBN 978-88-8440-177-9.
- ↑ Chiello, Alessandro (2014). C'eravamo tanto amati. I capolavori e i protagonisti del cinema italiano (bằng tiếng Ý). Alessandro Chiello. ISBN 978-605-03-2773-1.
- ↑ Grande, Alessandro (2013). La produzione del cinema italiano oggi (bằng tiếng Ý). Lulu.com. ISBN 978-1-4092-5750-9.
- ↑ Repetto, Monica (2000). La vita è bella?: il cinema italiano alla fine degli anni Novanta e il suo pubblico (bằng tiếng Ý). Il castoro. ISBN 978-88-8033-163-6.
- ↑ Montini, Franco (2002). Il cinema italiano del terzo millennio: i protagonisti della rinascita (bằng tiếng Ý). Il castoro. ISBN 978-88-7180-428-6.
- ↑ "I migliori film italiani: gli anni 2000" (bằng tiếng Ý). ngày 19 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "La Biennale di Venezia – The origin". ngày 7 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2018.
- ↑ Daniele Dottorini. "Festival e premi cinematografici" [Film festivals and awards] (bằng tiếng Ý). Treccani. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2024.
- ↑ Ruggero Deodato (2003), In the Jungle: The Making of Cannibal Holocaust (phim tài liệu), Alan Young Pictures
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- European-films.net Lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2007 tại Wayback Machine - Giới thiệu phim, phỏng vấn, tin tức về các phim châu Âu
- Ảnh phim và áp phích phim Ý Lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2006 tại Wayback Machine
- ↑ Từ góc trên bên trái sang góc dưới bên phải: Vittorio De Sica, Sophia Loren, Marcello Mastroianni, Pier Paolo Pasolini, Roberto Rossellini, Sergio Leone, Nino Manfredi, Luchino Visconti, Alberto Sordi, Totò, Gina Lollobrigida, Claudia Cardinale, Anna Magnani, Roberto Benigni, Michelangelo Antonioni, Giancarlo Giannini, Ugo Tognazzi, Bud Spencer, Isabella Rossellini, Federico Fellini, Mario Monicelli, Virna Lisi, Ettore Scola, Alvaro Vitali, and Monica Bellucci
<ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng