Żubroń

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Żubroń
Zubron2.jpg
Tình trạng bảo tồn
Đã thuần hóa
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Artiodactyla
Họ (familia)Bovidae
Chi (genus)
Loài (species)Bos taurus × Bison bonasus
Danh pháp hai phần
none

 Żubroń là một loại lai của gia súc và gia súc khổng lồ. Gia súc khổng lồ (żubr trong tiếng Ba Lan[1]) là bò rừng châu Âu; do đó, żubroń tương tự với thịt bò Mỹ. Cái tên żubroń đã được chính thức chọn từ hàng trăm đề xuất gửi tới tạp chí hàng tuần Ba Lan Przekrój trong một cuộc thi được tổ chức vào năm 1969.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các żubroń lần đầu tiên được tạo ra bởi Leopold Walicki năm 1847, mặc dù lai cũng có thể đã xuất hiện ở một thời gian trước đó. Sau Thế chiến thứ nhất, nhiều nhà khoa học cho rằng żubroń có thể thay thế cho gia súc trong nước. Żubroń hóa ra bền hơn và ít bị bệnh. Ngoài ra, động vật có thể được nuôi trên đất chăn thả không có cơ sở hạ tầng trang trại và chăn nuôi tối thiểu ở các trang trại nông nghiệp khổng lồ của bang (SAFs). Từ năm 1958, công trình về các đàn żubroń được Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan tiếp tục ở các phòng thí nghiệm khác nhau, đặc biệt là ở Białowieża và Młodzikowo. Trong 16 năm đầu tiên của thí nghiệm, tổng số 71 con vật được sinh ra, trong đó có Filon, con żubroń đầu tiên sinh ra cho một bà mẹ żubroń (ngày 6 tháng 8 năm 1960). Động vật này được dự định trở thành một loại thay thế bền vững và rẻ tiền cho gia súc.

Thí nghiệm được tiếp tục cho đến cuối những năm 1980, khi kết quả của các chương trình gây giống được cho là không đạt yêu cầu. Các yếu tố khác nhau đã góp phần vào quyết định này, bao gồm những khó khăn kinh tế nghiêm trọng của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Ba Lan trong những năm 1980, sự thiếu quan tâm của các SAF không hiệu quả, và lo ngại rằng żubroń sẽ lai tạo với cây nguyệt thực hoang dã nguy cấp, làm ô nhiễm nguồn gen của chúng. Hai trung tâm đáng chú ý cho các thí nghiệm trên loài này là Łękno (391 động vật) và Popielno (121 con), trong khi các thí nghiệm giới hạn cũng được giữ trong khu dự trữ Askania Nova ở Liên Xô. Điều này đã được ngưng, và đàn duy nhất còn sót lại chỉ gồm một số động vật, được giữ tại Vườn Quốc gia Bialowieski. Tuy nhiên, đến năm 2007, tuy nhiên, có những thông báo cho thấy giống và các thí nghiệm đang được tiếp tục tại Karolew ở Greater Poland.[3]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

 Żubroń là động vật nặng, với con đực có trọng lượng lên đến 1.200 kg (2.600 lb) và con cái lên đến 810 kg (1.790 lb). Chúng rất mạnh, chịu được bệnh tật và chịu được điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Bò đầu tiên phải được sinh ra bởi mổ lấy thai, bởi vì mặc dù chúng có thể mang thành công đến đầy đủ, nhưng việc sinh con không bao giờ xảy ra. Con đực không có khả năng sinh sản ở thế hệ đầu tiên. Con cái có thể sinh con và có thể lai với cả hai loài bố mẹ, tức là với gia súc hoặc khôn lanh, và con đực từ những loài lai ngược này có khả năng sinh sản.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Beefalo
  • Haldane's rule

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ PWN-Oxford Polish-English Dictionary ISBN 83-01-14312-6
  2. ^ (tiếng Ba Lan) Zubry.com
  3. ^ “Żubr wyrzucony z Bieszczadów za przyjaźń z ludźmi”.