Ả Rập Saudi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vương quốc Ả Rập Saudi
المملكة العربية السعودية (tiếng Ả Rập)
Al-Mamlakah al-'Arabiyah as-Sa'udiyah (tiếng Ả Rập)
Flag of Saudi Arabia.svg Coat of arms of Saudi Arabia.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Ả Rập Saudi
Khẩu hiệu

لا إله إلا الله محمد رسول الله

Lā ʾilāha illā l-Lāh; Muḥammadu r-rasūlu l-Lāh
Không có chúa trời nào ngoài thánh Allah; Muhammad là sứ giả của thánh Allah
Quốc ca
Aash Al Maleek
Hành chính
Chính phủ Quân chủ chuyên chế
Quốc vương
Thái tử
Salman của Ả Rập Saudi
Muqrin bin Abdulaziz
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Ả Rập
Thủ đô Riyadh
22°42′B 46°43′Đ / 22.700°B 46.717°Đ / 22.700; 46.717
Thành phố lớn nhất Riyadh
Địa lý
Diện tích 2.149.690 km² (hạng 15)
Diện tích nước không đáng kể %
Múi giờ UTC+3; mùa hè: UTC+4
Tuyên bố
Công nhận
Thống nhất
Ngày thành lập
8 tháng 1, 1926
20 tháng 5, 1927
23 tháng 9, 1932
Dân cư
Dân số ước lượng (2005) 26.417.599¹ người (hạng 43)
Mật độ 13 người/km² (hạng 169)
Kinh tế
GDP (PPP) (2004) Tổng số: 316.407 tỷ Mỹ kim
HDI 0,772 trung bình (hạng 77)
Đơn vị tiền tệ Ri-an Saudi (SAR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .sa
¹ Kể cả 5,58 triệu người không có quốc tịch Saudi

Ả Rập Saudi hay Ả-rập Xê-út, tên chính thức là Vương quốc Ả Rập Saudi (tiếng Ả Rập: المملكة العربية السعودية al-Mamlakah al-‘Arabiyyah as-Su‘ūdiyyah, ) là một quốc gia có chủ quyền tại Tây Á, chiếm phần lớn bán đảo Ả Rập. Quốc gia này có diện tích đất liền khoảng 2.150.000 km², là quốc gia rộng lớn thứ năm tại châu Á và rộng lớn thứ nhì trong thế giới Ả Rập sau Algérie. Ả Rập Saudi có biên giới với JordanIraq về phía bắc, Kuwait về phía đông bắc, Qatar, Bahrain, và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất về phía đông, Oman về phía đông nam, và Yemen về phía nam. Ả Rập Saudi tách biệt với IsraelAi Cập qua vịnh Aqaba. Đây là quốc gia duy nhất có cả bờ biển ven biển Đỏ cùng vịnh Ba Tư, và hầu hết địa hình là các hoang mạc khô hạn hoặc địa mạo cằn cỗi.

Lãnh thổ Ả Rập Saudi ngày nay khi xưa là bốn khu vực riêng biệt: Hejaz, Najd, bộ phận của Đông Ả Rập (Al-Ahsa) và Nam Ả Rập ('Asir).[1] Vương quốc Ả Rập Saudi được Ibn Saud thành lập vào năm 1932, "Saudi" bắt nguồn từ hoàng tộc Saud, thể hiện quan điểm quốc gia là tài sản cá nhân của hoàng tộc.[2][3] Ibn Saud thống nhất bốn khu vực thành một quốc gia duy nhất thông qua một loạt cuộc chinh phạt từ năm 1902. Ả Rập Saudi từ đó là một quốc gia quân chủ chuyên chế, thực chất là một chế độ độc tài thế tập do các dòng Hồi giáo cai trị.[4][5] Phong trào tôn giáo Wahhabi cực bảo thủ thuộc phái Hồi giáo Sunni được gọi là "đặc điểm nổi bật của văn hóa Ả Rập Saudi", được truyền bá toàn cầu phần lớn nhờ tài trợ từ mậu dịch dầu khí.[4][5] Ả Rập Saudi đôi khi được gọi là "Vùng đất Hai Thánh đường" để ám chỉ Al-Masjid al-Haram (tại Mecca), và Al-Masjid an-Nabawi (tại Medina), hai địa điểm linh thiêng nhất trong Hồi giáo. Ả Rập Saudi có tổng dân số là 28,7 triệu, trong đó 20 triệu người là công dân Ả Rập Saudi và 8 triệu người là ngoại kiều.[6] Ngôn ngữ chính thức quốc gia là tiếng Ả Rập.

Dầu mỏ được phát hiện vào ngày 3 tháng 3 năm 1938, sau đó có một số phát hiện khác tại Tỉnh Đông.[7] Ả Rập Saudi từ đó trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới, có trữ lượng dầu lớn thứ nhì và trữ lượng khí đốt lớn thứ sáu thế giới.[8] Quốc gia này được Ngân hàng Thế giới phân loại là nền kinh tế thu nhập cao với chỉ số phát triển con người ở mức cao,[9] và là quốc gia Ả Rập duy nhất trong G-20.[10] Tuy nhiên, kinh tế Ả Rập Saudi kém đa dạng nhất trong Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh, không có bất kỳ dịch vụ hay lĩnh vực sản xuất nào đáng kể (ngoài khai thác tài nguyên).[11] Quốc gia này bị chỉ trích vì cách thức đối xử với nữ giới và sử dụng hình phạt tử hình.[12] Ả Rập Saudi là quốc gia chi tiêu quân sự nhiều thứ tư trên thế giới,[13][14] và trong giai đoạn 2010–14, SIPRI nhận thấy Ả Rập Saudi là quốc gia nhập khẩu vũ khí lớn thứ nhì trên thế giới.[15] Ả Rập Saudi được nhìn nhận là một cường quốc khu vực và cường quốc bậc trung.[16] Ngoài Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh, quốc gia này còn là một thành viên tích cực trong Tổ chức Hợp tác Hồi giáoTổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa.[17]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Có bằng chứng cho thấy loài người cư trú tại bán đảo Ả Rập từ khoảng 125.000 năm trước.[18] Trong thời cổ đại, bán đảo Ả Rập đóng vai trò là một hành lang mậu dịch và biểu lộ một số nền văn minh. Tôn giáo của cư dân bán đảo Ả Rập thời kỳ tiền Hồi giáo gồm có các đức tin đa thần bản địa, Cơ Đốc giáo Ả Rập, Cảnh giáo, Do Thái giáo và Hỏa giáo.[19] Văn minh Al-Magar thời tiền sử hình thành tại trung tâm của bán đảo Ả Rập, đặc biệt là tại Najd. Al-Magar là nơi đầu tiên diễn ra thuần hóa động vật trong thời kỳ đồ đá mới, đặc biệt là ngựa.[20] Dilmun là một trong các nền văn minh cổ đại tại Trung Đông và tại bán đảo Ả Rập.[21][22] Đây là một trung tâm mậu dịch lớn, và vào lúc tối thịnh nó kiểm soát các tuyến mậu dịch qua vịnh Ba Tư.[23][24] Văn minh Dilmun bao phủ phần phía đông của bán đảo Ả Rập, đặc biệt là Tỉnh Đông của Ả Rập Saudi. Một trong số các câu khắc sớm nhất ghi tên Dilmun là của Quốc vương Ur-Nanshe xứ Lagash (khoảng 2300 TCN)[25]

Văn minh Thamud tại Hejaz được cho là kéo dài từ thiên niên kỷ thứ nhất TCN đến gần thời kỳ Muhammad. Ghi nhận được trên 9.000 câu khắc Thamud tại tây nam Ả Rập Saudi.[26] Vương quốc Lihyan (لحيان) hay Dedan là một quốc gia Bắc Ả Rập cổ đại, nằm tại tây bắc của lãnh thổ Ả Rập Saudi ngày nay, có các câu khắc cổ đại có niên đại từ khoảng thế kỷ 6 đến 4 TCN.[27] Kindah là một vương quốc bộ lạc được thành lập tại khu vực Najd, các quốc vương nước này có ảnh hưởng đến một số bộ lạc liên kết song dựa trên thanh thế cá nhân hơn là quyền uy giải quyết cưỡng chế. Thủ đô đầu tiên của Kindah là Qaryat Dhāt Kāhil, nay gọi là Qaryat al-Fāw.[28]

Thời kỳ Hồi giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ tiền Hồi giáo, bên cạnh một số ít các khu định cư mậu dịch đô thị (như MeccaMedina), hầu hết Ả Rập Saudi ngày nay có cư dân thuộc các xã hội bộ lạc du mục trong hoang mạc khắc nghiệt.[29] Nhà tiên tri Hồi giáo Muhammad sinh tại Mecca vào khoảng năm 571. Đến đầu thế kỷ 7, Muhammad thống nhất các bộ lạc khác nhau trên bán đảo và lập nên một chính thể tôn giáo Hồi giáo duy nhấ.[30]

Trận Badr có tính then chốt trong thời kỳ đầu của Hồi giáo, diễn ra ngày 13 tháng 3 năm 624.

Sau khi Muhammad từ trần vào năm 632, các môn đồ của ông nhanh chóng bành trướng lãnh thổ Hồi giáo ra ngoài bán đảo Ả Rập, chinh phục được lãnh thổ rộng lớn (từ bán đảo Iberia ở phía tây đến Pakistan ngày nay ở phía đông) trong khoảng vài thập niên. Kết quả là bán đảo Ả Rập nhanh chóng trở thành một khu vực ngoại biên về chính trị của thế giới Hồi giáo do trọng tâm được chuyển đến các vùng đất bị chinh phục song phát triển hơn.[30] Từ thế kỷ 10 đến đầu thế kỷ 20, Mecca và Medina nằm dưới quyền kiểm soát của một quân chủ Ả Rập bản địa mang hiệu là Sharif của Mecca, tuy nhiên Sharif trong hầu hết giai đoạn này đều trung thành với một đế quốc Hồi giáo lớn đặt tại Baghdad, Cairo hoặc Istanbul. Hầu hết phần còn lại của Ả Rập Saudi ngày nay quay lại quyền cai trị bộ lạc truyền thống.[31][32]

Trong hầu hết thế kỷ 10, giáo phái Qarmat thuộc hệ Shia Isma'il là thế lực quyền lực nhất tại vịnh Ba Tư. Năm 930, giáo phái Qarmat cướp phá Mecca, xúc phạm thế giới Hồi giáo, đặc biệt là khi họ trộm Đá Đen.[33]

Trong thế kỷ 16, Đế quốc Ottoman sáp nhập khu vực duyên hải biển Đỏ và vịnh Ba Tư (Hejaz, Asir và Al-Ahsa) và yêu sách quyền bá chủ đối với khu vực nội lục. Một nguyên nhân là nhằm ngăn cản nỗ lực của Bồ Đào Nha nhằm tấn công biển Đỏ và Ấn Độ Dương.[34] Mức độ kiểm soát của Ottoman đối với các vùng đất này thay đổi trong bốn trăm năm sau đó cùng với biến động mạnh yếu của quyền lực trung ương đế quốc.[35]

Thành lập triều đại Saud[sửa | sửa mã nguồn]

Bán đảo Ả Rập năm 1914.

Hoàng tộc Al Saud hiện nay khởi nguồn tại Nejd thuộc trung tâm bán đảo Ả Rập vào năm 1744, khi người sáng lập triều đại là Muhammad bin Saud hội quân với người sáng lập phong trào Wahhabi là Muhammad ibn Abd al-Wahhab,[36] Wahhabi là một hình thức đạo đức khắt khe thuộc hệ Hồi giáo Sunni.[37] Liên minh này hình thành trong thế kỷ 18 giúp cung cấp động lực tư tưởng để gia tộc Saud bành trướng và vẫn là cơ sở của quyền lực triều đại Ả Rập Saudi ngày nay.[38]

Quốc gia đầu tiên của gia tộc Saud được thành lập vào năm 1744 tại khu vực quanh Riyadh, quốc gia này bành trướng nhanh chóng và trong thời gian ngắn từng kiểm soát hầu hết lãnh thổ hiện nay của Ả Rập Saudi,[39] song đến năm 1818 thì bị Phó vương Ai Cập của Ottoman là Mohammed Ali Pasha tiêu diệt.[40] Quốc gia thứ nhì của gia tộc Saud có quy mô nhỏ hơn nhiều được thành lập vào năm 1824 và chủ yếu nằm tại Nejd. Trong suốt thời gian còn lại của thế kỷ 19, gia tộc Saud tranh giành quyền kiểm soát khu vực nội lục của Ả Rập Saudi ngày nay với một gia tộc thống trị Ả Rập khác là Rashid. Đến năm 1891, gia tộc Rashid giành thắng lợi và gia tộc Saud bị đẩy đi lưu vong tại Kuwait.[31]

Abdul Aziz Ibn Saud là quốc vương đầu tiên của Ả Rập Saudi.

Vào lúc khởi đầu thế kỷ 20, Đế quốc Ottoman tiếp tục kiểm soát hoặc có quyền bá chủ đối với hầu hết bán đảo. Dưới quyền bá chủ này, bán đảo Ả Rập nằm dưới quyền cai trị của nhiều người thống trị bộ lạc,[41][42] trong đó Sharif của Mecca có ưu thế và cai trị Hejaz.[43] Năm 1902, Abdul Aziz—sau này gọi là Ibn Saud—tái chiếm Riyadh khiến gia tộc Saud trở về Nejd.[31] Ibn Saud giành được ủng hộ của Ikhwan, một đội quân bộ lạc lấy cảm hứng từ giáo phái Wahhabi và do Faisal Al-Dawish lãnh đạo, đội quân này phát triển nhanh chóng sau khi thành lập vào năm 1912.[44] With the aid of the Ikhwan, Ibn Saud captured Al-Ahsa from the Ottomans in 1913.

Năm 1916, được Anh khuyến khích và hỗ trợ (Anh giao tranh với Ottoman trong Chiến tranh thế giới thứ nhất), Sharif của Mecca là Hussein bin Ali lãnh đạo của một khởi nghĩa liên Ả Rập chống lại Đế quốc Ottoman nhằm lập nên một quốc gia Ả Rập thống nhất.[45] Mặc dù khởi nghĩa Ả Rập 1916-1918 thất bại về mục tiêu, song thắng lợi của Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất dẫn đến kết thúc quyền bá chủ và kiểm soát của Ottoman tại bán đảo Ả Rập.[46]

Ibn Saud tránh can dự vào khởi nghĩa Ả Rập, thay vào đó ông tiếp tục đấu tranh với gia tộc Rashid. Sau chiến thắng cuối cùng trước gia tộc này, ông lấy hiệu là Sultan của Nejd vào năm 1921. Nhờ giúp đỡ từ Ikhwan, ông chinh phục Hejaz vào năm 1924–25 và vào ngày 10 tháng 1 năm 1926, Ibn Saud tự xưng là Quốc vương Hejaz.[47] Một năm sau, ông lấy thêm hiệu là Quốc vương Nejd. Trong 5 năm sau đó, ông cai trị hai bộ phận này với vị thế là các thực thể riêng biệt.[31]

Sau khi chinh phục Hejaz, mục tiêu của giới lãnh đạo Ikhwan chuyển sang bành trướng lãnh địa Wahhabi đến các xứ bảo hộ của Anh là Ngoại Jordan, Iraq và Kuwait, và họ bắt đầu tấn công các lãnh thổ này. Tuy nhiên, Ibn Saud phản đối việc này do nhận thức được nguy hiểm từ một cuộc xung đột trực tiếp với Anh. Trong khi đó, Ikhwan trở nên vỡ mộng trước các chính sách đối nội của Ibn Saud mà theo đó ủng hộ hiện đại hóa và tăng số lượng người ngoại quốc phi Hồi giáo trong nước. Do đó, họ quay sang chống lại Ibn Saud, và sau hai năm giao tranh họ thất bại trong trận Sabilla vào năm 1929.[48] Năm 1932, hai vương quốc Hejaz và Nejd thống nhất thành Vương quốc Ả Rập Saudi.[31]

Hậu thống nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc khi thành lập là một trong các quốc gia nghèo nhất trên thế giới, dựa vào thu nhập hạn chế từ nông nghiệp và hành hương.[49] Năm 1938, phát hiện trữ lượng dầu mot lớn tại khu vực Al-Ahsa dọc duyên hải vịnh Ba Tư, và phát triển toàn diện các mỏ dầu bắt đầu vào năm 1941 dưới quyền Công ty Aramco do Hoa Kỳ kiểm soát. Dầu mỏ mang lại cho Ả Rập Saudi thịnh vượng kinh tế và đòn bẩy chính trị đáng kể trên trường quốc tế.[31]

Sinh hoạt văn hóa phát triển nhanh chóng, chủ yếu là tại Hejaz, nơi đây là trung tâm của báo chí và đài phát thanh. Tuy nhiên, dòng chảy lớn các công nhân ngoại quốc tại Ả Rập Saudi trong ngành công nghiệp dầu khí làm gia tăng xu hướng bài ngoại tồn tại từ trước đó. Đồng thời, chính phủ trở nên lãng phí và xa xỉ. Đến thập niên 1950, điều này dẫn đến thâm hụt ngân sách chính phủ lớn và vay nợ nước ngoài quá mức.[31]

Năm 1953, Saud kế vị cha làm quốc vương, song đến năm 1964 ông bị phế truất và hoàng vị về tay người em khác mẹ của ông là Faisal sau một cuộc kình địch khốc liệt, được thúc đẩy từ nghi ngờ trong hoàng tộc về năng lực của Saud. Năm 1972, Ả Rập Saudi giành được 20% quyền kiểm soát tại Aramco, làm giảm đi kiểm soát của Hoa Kỳ đối với dầu mỏ quốc gia.

Năm 1973, Ả Rập Saudi lãnh đạo một cuộc tẩy chay bằng dầu mỏ chống lại các quốc gia Phương Tây ủng hộ Israel trong chiến tranh Yom Kippur. Giá dầu tăng gấp bốn lần.[31] Năm 1975, Faisal bị một cháu trai tên là Faisal bin Musaid ám sát và người kế vị ông là em trai khác mẹ Khalid.[50]

Đến năm 1976, Ả Rập Saudi trở thành quốc gia sản xuất dầu lớn nhất trên thế giới.[51] Trong thời gian Khalid cai trị, Ả Rập Saudi trải qua phát triển cực kỳ nhanh chóng về kinh tế và xã hội, biến đổi hệ thống hạ tầng và giáo dục của quốc gia;[31] in foreign policy, close ties with the US were developed.[50] Năm 1979, có hai sự kiện khiến chính phủ lo ngại rất nhiều,[52] và có ảnh hưởng lâu dài đến chính sách đối ngoại và đối nội của Ả Rập Saudi. Thứ nhất là Cách mạng Hồi giáo Iran, chính phủ lo ngại rằng cộng đồng Shia thiểu số tại Tỉnh Đông (nơi có các mỏ dầu) có thể nổi loạn do ảnh hưởng từ các đạo hữu Iran của họ. Thực tế đã diễn ra một số cuộc khởi nghĩa chống chính phủ trong khu vực như khởi nghĩa Qatif 1979.[53] Sự kiện thứ nhì là các phần tử quá khích Hồi giáo chiếm giữ Đại Thánh đường tại Mecca. Các chiến binh tham gia một phần là do tức giận trước điều mà họ cho là bản chất tham nhũng và phi Hồi giáo của chính phủ Ả Rập Saudi.[53] Chính phủ giành lại quyền kiểm soát thành đường sau mưới ngày. Hoàng gia Ả Rập Saudi phản ứng bằng việc thực thi nghiêm ngặt hơn các quy tắc tôn giáo và xã hội truyền thống và trao cho Ulema (học giả Hồi giáo) vai trò lớn hơn trong chính phủ.[54] Tuy nhiên, chủ nghĩa Hồi giáo tiếp tục phát triển mạnh mẽ.[55] Năm 1980, Ả Rập Saudi mua lại cổ phần của Hoa Kỳ trong Aramco.[56] Quốc vương Khalid từ trần vào năm 1982, người kế vị là em trai ông Fahd. Fahd tiếp tục phát triển quan hệ mật thiết với Hoa Kỳ và tăng cường mua thiết bị quân sự của Hoa Kỳ và Anh.[31]

Dammam số 7, giếng dầu thương mại đầu tiên tại Ả Rập Saudi, khai thác dầu từ 4 tháng 3 năm 1938

Lượng của cải lớn bắt nguồn từ thu nhập dầu mỏ bắt đầu có tác động lớn hơn lên xã hội Ả Rập Saudi. Nó dẫn đến hiện đại hóa kỹ thuật, đô thị hóa, giáo dục đại chúng và tạo ra các phương tiện truyền thông mới một cách nhanh chóng. Điều này cộng với việc lượng lớn công nhân ngoại quốc hiện diện ngày càng tăng đã gây ảnh hưởng lớn đến quy tắc và giá trị Ả Rập Saudi truyền thống. Mặc dù có thay đổi lớn trong sinh hoạt xã hội và kinh tế trong nước, song quyền lực vẫn do hoàng gia nắm độc quyền[31] dẫn đến bất mãn trong nhiều công dân và họ bắt đầu tìm cách tham gia rộng rãi hơn trong chính phủ.[57]

Trong thập niên 1980, Ả Rập Saudi đã chi 25 tỷ USD để hỗ trợ Saddam Hussein trong Chiến tranh Iran–Iraq.[58] Tuy nhiên, Ả Rập Saudi lên án Iraq xâm lược Kuwait vào năm 1990 và yêu cầu Hoa Kỳ can thiệp.[31] Quốc vương Fahd cho phép binh sĩ Hoa Kỳ vê liên quân được đồn trú tại Ả Rập Saudi. Ông mời chính phủ Kuwait và nhiều công dân nước này đến sống tại Ả Rập Saudi, song trục xuất các công dân Yemen và Jordan do chính phủ hai nước đó ủng hộ Iraq. Năm 1991, quân đội Ả Rập Saudi tham gia oanh tạc Iraq cũng như tiến công trên bộ nhằm giúp giải phóng Kuwait.

Quan hệ giữa Ả Rập Saudi và Phương Tây bắt đầu gây lo ngại ngày càng lớn cho một số ulema và người nghiên cứu luật sharia, và là một trong các vấn đề dẫn đến gia tăng các hoạt động khủng bố Hồi giáo tại Ả Rập Saudi, cũng như các cuộc tấn công khủng bố Hồi giáo tại Phương Tây của công dân Ả Rập Saudi. Osama bin Laden là một công dân Ả Rập Saudi (cho đến khi bị tước quốc tịch vào năm 1994); 15 trong số 19 phần tử khủng bố tham gia các cuộc tấn công 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ là công dân Ả Rập Saudi.[59]

Các đơờng ống dầu và khí tại Trung Đông

Chủ nghĩa Hồi giáo không phải là nguồn gốc thù địch duy nhất đối với chính phủ. Mặc dù vương quốc cực kỳ giàu có, song kinh tế quốc gia gần như đình đốn. Thuế cao và gia tăng thất nghiệp góp phần vào bất mãn, thể hiện trong gia tăng bất ổn dân sự, và bất mãn với hoàng tộc. Để đối phó, Quốc vương Fahd khởi xướng một số "cải cách" hạn chế. Trong tháng 3 năm 1992, ông cho thi hành "Luật Cơ bản", trong đó nhấn mạnh các nghĩa vụ và trách nhiệm của một quân chủ. Trong tháng 12 năm 1993, Hội đồng Cố vấn được thành lập, song thành viên đều do Quốc vương lựa chọn. Fahd làm rõ rằng tâm trí mình không có dân chủ: "Một hệ thống dựa trên tuyển cử không phù hợp với tín ngưỡng Hồi giáo của chúng ta."[31]

Năm 1995, Fahd bị đột quỵ, Thái tử Abdullah đảm nhiệm vai trò nhiếp chính trên thực tế. Tuy nhiên, quyền lực của ông bị cản trở do xung đột với các em trai cùng mẹ của Fahd.[60] Từ thập niên 1990, các dấu hiệu bất mãn tiếp tục, bao gồm một loạt cuộc đánh bom và xung đột vũ trang tại Riyadh, Jeddah, Yanbu và Khobar năm 2003-2004.[61] Năm 2005, các cuộc bầu cử cấp đô thị toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức, song nữ giới không đơợc phép tham gia.[31]

Năm 2005, Fahd từ trần và Abdullah kế vị, ông tiếp tục chính sách cải cách tối thiểu và kiểm soát chặt chẽ các phản đối. Quốc vương thi hành một số cải cách kinh tế nhằm khiến quốc gia giảm phụ thuộc vào thu nhập từ dầu mỏ: bãi bỏ quy định ở quy mô hạn chế, khuyến khích đầu tư nước ngoài, và tư hữu hóa. Năm 2009, Abdullah công bố một loạt thay đổi cấp chính phủ về tư pháp, lực lượng vũ trang, và nhiều bộ nhằm hiện đại hóa các thể chế này.[31]

Ngày 29 tháng 1 năm 2011, hàng trăm người biểu tình tụ tập tại thành phố Jeddah trong một cuộc biểu dương hiếm hoi nhằm chỉ trích cơ sở hạ tầng yếu kém tại thành phố sau khi các trận lụt quét qua thành phố làm 11 người chết.[62] Cảnh sát ngưng cuộc tuần hành và bắt giữ nhiều người tham gia.[63] Kể từ năm 2011, Ả Rập Saudi chịu ảnh hưởng từ các cuộc kháng nghị "Mùa xuân Ả Rập".[64] Nhằm đối phó, Abdullah vào ngày 22 tháng 2 năm 2011 tuyên bố một loạt quyền lợi cho công dân trị giá 36 tỷ USD, trong đó 10,7 tỷ USD dành cho nhà ở.[65] Ngày 18 tháng 3 cùng năm, Abdullah tuyên bố một gói trị giá 93 tỷ USD, bao gồm 500.000 căn nhà mới với chi phí 67 tỷ USD, và tạo thêm 60.000 công việc an ninh mới.[66][67] Abdullah cho phép nữ giới bầu cử và ứng cử trong bầu cử cấp đô thị năm 2015, và nữ giới cũng được đề cử vào Hội đồng Cố vấn.[68] Ngày 23 tháng 1 năm 2015, Abdullah từ trần, người kế vị là em trai khác mẹ Salman.[69]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Ả Rập Saudi là một quốc gia quân chủ chuyên chế.[70] Tuy nhiên, theo Luật Cơ bản được phê chuẩn vào năm 1992, quốc vương cần phải tuân theo luật Sharia và kinh Quran, trong khi Quran và Sunnah (lời dạy của Muhammad) được tuyên bố là hiến pháp của quốc gia.[71] Không có các chính đảng, và không có bầu cử cấp quốc gia tại Ả Rập Saudi.[70] Các nhà phê bình xem đây là một chế độ độc tài chuyên chế.[72]The Economist xếp hạng chính phủ Ả Rập Saudi là chính phủ chuyên chế đứng thứ 5/167 trong Chỉ số dân chủ 2012 của họ,</ref>[73] còn Freedom House xếp hạng vương quốc này là không tự do", với điểm số thấp nhất vào năm 2013.[74]

Chính trị tại Ả Rập Saudi diễn ra trên hai đấu trường riêng biệt: nội bộ hoàng tộc Saud, và giữa hoàng tộc với phần còn lại trong xã hội quốc gia.[75] Ngoài hoàng tộc Saud, quyền tham gia tiến trình chính trị bị hạn chế trong một nhóm tương đối nhỏ dân chúng và dưới hình thức cố vấn cho hoàng tộc trong các quyết định trọng đại, bao gồm ulema, các sheikh (tù trưởng) bộ lạc và thành viên của các gia đình thương nghiệp quan trọng.[76]

Theo tục lệ, toàn bộ nam giới đến tuổi thành niên có quyền kiến nghị trực tiếp đến quốc vương thông qua hội nghị bộ lạc truyền thống được gọi là majlis.[77] Trên nhiều mặt, cách tiếp cận với chính phủ ít khác biệt với hệ thống cai trị bộ lạc truyền thống. Bản sắc bộ lạc vẫn còn mạnh, và ngoài hoàng tộc thì ảnh hưởng chính trị thường được xác định theo liên hệ bộ lạc, theo đó sheikh của các bộ lạc duy trì mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với các sự kiện địa phương và quốc gia.[76] Trong thời gian gần đây, chính phủ có các bước đi hạn chế nhằm mở rộng quyền tham gia chính trị, chẳng hạn như lập Hội đồng Cố vấn vào đầu thập niên 1990 và lập Diễn đàn Đối thoại Quốc gia vào năm 2003.[78]

Quyền cai trị của gia tộc Saud đối diện với phản đối chính trị từ bốn nhóm: các nhà hoạt động theo chủ nghĩa Hồi giáo Sunni; các nhà phê bình theo chủ nghĩa tự do; cộng đồng thiểu số Hồi giáo Shia—đặc biệt là tại Tỉnh Đông; các đối thủ trường kỳ đặc thù có tính bộ lạc và theo chủ nghĩa địa phương (chẳng hạn tại Hejaz).[79] Trong đó, các nhà hoạt động theo chủ nghĩa Hồi giáo là mối đe doạ đáng chú ý nhất và trong thời gian gần đây đã gây ra một số hành động bạo lực hoặc khủng bố tại Ả Rập Saudi.[61]

Ả Rập Saudi là quốc gia duy nhất trên thế giới ngăn cấm nữ giới lái xe trên thực tế; mặc dù không có luật thành văn song trên thực tế nữ giới bị cản trở trong việc cấp bằng lái xe.[80] Ngày 25 tháng 9 năm 2011, Quốc vương Abdullah tuyên bố rằng nữ giới sẽ có quyền ứng cử và bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử cấp đô thị kỳ sau và tham gia hội đồng Shura với vị thế thành viên đầy đủ.[81]

Chế độ quân chủ và hoàng tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc vương nắm giữ quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp[76] và chiếu chỉ tạo thành cơ sở cho pháp luật quốc gia.[82] Quốc vương đồng thời là thủ tướng, và chủ trì Hội đồng Bộ trưởng (Majlis al-Wuzarāʾ).

Hoàng tộc chi phối hệ thống chính trị. Do hoàng tộc có số lượng thành viên đông đảo nên họ có thể kiểm soát hầu hết các chức vụ quan trọng của quốc gia, tham gia và hiện diện trọng mọi cấp độ chính phủ.[83] Số lượng thân vương ước tính lên tới 7.000 (khoảng năm 2010), trong đó có quyền lực và ảnh hưởng nhất là hậu duệ nam giới của quốc vương khai quốc Ibn Saud.[84] Các chức vụ bộ trưởng quan trọng thường được dành cho hoàng tộc,[70] cũng như là 13 chức vụ thống đốc vùng.[85]

Các chức vụ chính trị và chính phủ dài hạn dẫn đến hình thành "các đất phong quyền lực" cho các thân vương cấp cao,[86] như Quốc vương Abdullah từng là Tư lệnh Vệ binh Quốc gia từ năm 1963 (cho đến năm 2010, khi ông bổ nhiệm con trai mình thay thế),[87] Quốc vương Salman giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng và Hàng không giai đoạn 2011-2015, và giữ chức Thống đốc tỉnh Riyadh từ năm 1962 đến năm 2011.[88] Con trai Quốc vương Salman là Mohammad bin Salman Al Saud kế nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng.[89]

Quốc vương Salman bin Abdulaziz Al Saud kế thừa quyền lực vào năm 2015.

Hoàng tộc trên phương diện chính trị bị phân thành các phái hệ dựa trên lòng trung thành theo dòng dõi, tham vọng cá nhân và tư tưởng.[75] Phái hệ dòng dõi có quyền lực nhất được gọi là 'Sudairi Bảy', gồm các anh em cùng cha cùng mẹ với Quốc vương Fahd và các hậu duệ của họ.[90] Phân chia tư tưởng bao gồm các vấn đề về tốc độ và phương hướng cải cách,[91] và vai trò của ulema nên được tăng lên hay giảm xuống. Tồn tại phân tranh trong hoàng tộc về vấn đề người kế vị.[90][92] Trong nhiều năm, chính phủ Ả Rập Saudi và hoàng tộc thường xuyên bị cáo buộc tham nhũng.[93] Tại một quốc gia được cho là "thuộc về" hoàng tộc và quốc hiệu đặt theo họ của hoàng tộc,[3] ranh giới giữa tài sản quốc gia và của cải cá nhân của các thân vương cấp cao là điều mập mờ.[84]

Al ash-Sheikh và vai trò của ulema[sửa | sửa mã nguồn]

Ả Rập Saudi hầu như là quốc gia duy nhất trao cho ulema (thể chế gồm các thủ lĩnh tôn giáo và luật gia Hồi giáo) vai trò trực tiếp trong chính phủ,[94] quốc gia duy nhất tương tự là Iran.[95] Ulema có ảnh hưởng then chốt trong các quyết định trọng đại của chính phủ, như áp đặt cấm vận dầu mỏ vào năm 1973 và mời binh sĩ ngoại quốc đến Ả Rập Saudi vào năm 1990.[96] Ngoài ra, họ có vai trò quan trọng trong hệ thống tư pháp và giáo dục[97] và có độc quyền về quyền lực trong phạm vi đạo đức tôn giáo và xã hội.[98]

Cho đến thập niên 1970, do thịnh vượng từ dầu mỏ và quốc gia được hiện đại hoá, xã hội Ả Rập Saudi diễn ra các biến chuyển quan trọng và quyền lực của ulema bị suy thoái.[99] Tuy nhiên, tình hình thay đổi sau khi các phần tử Hồi giáo cấp tiến chiếm giữ Đại Thánh đường tại Mecca vào năm 1979.[100] Chính phủ phản ứng bằng cách củng cố quyền lực của ulema và gia tăng hỗ trợ tài chính cho họ:[54] họ được trao quyền kiểm soát lớn hơn đối với hệ thống giáo dục[100] và được phép thực thi nghiêm khắc hơn các quy tắc Wahhabi về đạo đức và hành vi xã hội.[54] Sau khi đăng cơ vào năm 2005, Quốc vương Abdullah thực hiện các bước đi nhằm giảm quyền lực của ulema, chẳng hạn chuyển quyền kiểm soát giáo dục trẻ em gái sang Bộ Giáo dục.[101]

Ulema có truyền thống do gia tộc Al ash-Sheikh lãnh đạo,[102] đây là gia tộc tôn giáo đứng đầu quốc gia.[98] Thành viên gia tộc Al ash-Sheikh là hậu duệ của Muhammad ibn Abd al-Wahhab (1703 – 1792), là người sáng lập giáo phái Wahhabi thuộc hệ Hồi giáo Sunni, giáo phái này hiện chi phối Ả Rập Saudi.[103] Gia tộc này có thanh thế chỉ đứng sau hoàng tộc[104] hai gia tộc hình thành một "hiệp ước tương hỗ"[105] và dàn xếp chia sẻ quyền lực trong gần 300 năm qua.[96] Hiệp ước vẫn còn cho đến nay,[105] được dựa trên việc hoàng tộc duy trì quyền lực của gia tộc Al ash-Sheikh trong các vấn đề tôn giáo, ủng hộ và truyền bá thuyết Wahhabi. Đổi lại, gia tộc Al ash-Sheikh ủng hộ quyền lực chính trị của hoàng tộc[106] do đó sử dụng quyền lực tôn giáo-đạo đức của họ để hợp pháp hoá quyền cai trị của hoàng tộc.[107] Mặc dù thế chi phối của gia tộc Al ash-Sheikh trong ulema bị giảm bớt trong các thập niên qua,[108] song họ vẫn giữ các chức vụ tôn giáo quan trọng nhất và liên kết mật thiết với hoàng tộc thông qua liên hôn ở mức độ lớn.[98]

Hệ thống tư pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Các đoạn trong kinh Quran. Quran là hiến pháp chính thức của quốc gia và là nguồn chủ yếu của luật pháp. Ả Rập Saudi là quốc gia duy nhất tôn vinh một văn bản tôn giáo thành một tài liệu chính trị.[109]

Nguồn chủ yếu của pháp luật Ả Rập Saudi là Sharia bắt nguồn từ lời giáo huấn trong Qur'anSunnah (lời dạy của Muhammed).[82] Ả Rập Saudi là quốc gia Hồi giáo hiện đại duy nhất không hệ thống hoá Sharia và không có hệ thống án lệ pháp lý, trao cho thẩm phán quyền sử dụng lập luận pháp luật độc lập để phán quyết. Các thẩm phán Ả Rập Saudi có xu hướng theo các nguyên tắc của trường phái luật học Hanbali (hay fiqh) thấy trong các văn bản tiền hiện đại[110] và được chú ý do diễn giải theo nghĩa đen Qur'an và hadith.[111]

Thẩm phán có quyền bỏ qua phán quyết trước đó (của bản thân hoặc thẩm phán khác) và có thể áp dụng cách diễn giải cá nhân của mình đối với Sharia trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào, do đó có các bản án khác nhau cho dù các vụ án có vẻ giống nhau,[112] nên khó khăn trong việc dự đoán diễn giải pháp lý.[113] Hệ thống toà án Sharia là bộ máy tư pháp cơ bản của Ả Rập Saudi, các thẩm phán (qadi) và luật sư thuộc ulema.

Chiếu chỉ là nguồn pháp luật chủ yếu khác; song được gọi là điều lệnh thay vì luật do phụ thuộc Sharia.[82] Các chiếu chỉ bổ sung cho Sharia trong các lĩnh vực như lao động, thương nghiệp và công ty. Ngoài ra, luật bộ lạc truyền thống và phong tục vẫn còn quan trọng.[114] Các toà án chính phủ ngoài Sharia thường giải quyết tranh chấp liên quan đến các chiếu chỉ cụ thể.[115] Quyền kháng cáo cuối cùng từ toà án Sharia và toà án chính phủ thuộc về Quốc vương, và toàn bộ các toà án theo các quy tắc Sharia về chứng cứ và thủ tục.[116]

Hệ thống tư pháp Ả Rập Saudi bị chỉ trích vì "các thẩm phán theo chủ nghĩa đạo đức cực đoan", họ thường khắc nghiệt trong việc tuyên án, song cũng đôi khi khoan dung và trì hoãn quá độ, như nhiều phụ nữ không thể ly hôn.[117][118] Năm 2007, Quốc vương Abdullah ban chiếu chỉ cải cách hệ thống tư pháp và tạo ra một hệ thống toà án mới,[112] và đến năm 2009, ông tiến hành một số cải biến đáng kể đối với nhân sự ở cấp cao nhất khi bổ nhiệm một thế hệ trẻ tuổi.[119]

Quảng trường Deera tại trung tâm Riyadh là nơi hành quyết công cộng.[120]

Các toà án Ả Rập Saudi có thể tuyên án tử hình và trừng phạt thân thể, như chặt đầu, ném đá (đến chết), cắt cụt chi, đóng đinh, đánh roi, số lượng tuyệt đối các vụ hành quyết bị chỉ trích mạnh.[121] Tử hình có thể được tuyên cho nhiều tội như giết người, hiếp dâm, cướp có vũ trang, sử dụng ma tuý nhiều lần, bội giáo, thông gian, yêu thuật và ma thuật.[122][123][124] Hành vi tình dục đồng giới bị trừng phạt bằng cách đánh roi hoặc tử hình.[122][124][125] Gia đình nạn nhân bị giết có thể lựa chọn yêu cầu tử hình thủ phạm, hoặc quyết định khoan hồng để đổi lấy một khoản tiền diyya (tiền máu).[126]

Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc vương Salman và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, Riyadh, 27 tháng 1 năm 2015

Ả Rập Saudi gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1945[127][128] và là một thành viên sáng lập của Liên đoàn Ả Rập, Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh, Liên đoàn Thế giới Hồi giáo, và Tổ chức Hội nghị Hồi giáo (nay là Tổ chức Hợp tác Hồi giáo).[129] Quốc gia này giữ một vai trò nổi bật trong Quỹ Tiền tệ Quốc tếNgân hàng Thế giới, và tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2005.[127] Ả Rập Saudi ủng hộ hình thành Liên minh Thuế quan Ả Rập vào năm 2015 và một thị trường trung Ả Rập[130] vào năm 2020.[131] Kể từ năm 1960, với vị thế là thành viên sáng lập của OPEC, chính sách giá dầu mỏ của Ả Rập Saudi về tổng thể là giúp ổn định thị trường dầu mỏ thế giới và nỗ lực điều chỉnh biến động giá mạnh nhằm không gây hại cho các nền kinh tế phương Tây.[127][132]

Từ giữa thập niên 1970 đến năm 2002, Ả Rập Saudi đã chi ra trên 70 tỷ USD "viện trợ phát triển hải ngoại" (ODA). Tuy nhiên, có bằng chứng rằng đại đa số chúng trên thực tế được dành cho truyền bá và khuếch trương giáo phái Wahhabi, điều này gây bất lợi cho các giáo phái Hồi giáo khác.[133] Tồn tại tranh luận mãnh liệt về việc liệu viện trợ của Ả Rập Saudi và giáo phái Wahhabi đã kích động chủ nghĩa cực đoan tại các quốc gia tiếp nhận hay không.[134] Hai luận điệu chính là về bản chất giáo phái Wahhabi khuyến khích tính không khoan dung và xúc tiến chủ nghĩa khủng bố.[135] Chỉ tính tại các quốc gia có đa số cư dân không theo Hồi giáo, trong bốn thập niên sau khi Faisal đăng cơ, Ả Rập Saudi đã trả tiền xây dựng 1.359 thánh đường, 210 trung tâm Hồi giáo.[136]

Ả Rập Saudi và Hoa Kỳ là các đồng minh chiến lược,[137][138] và từ khi Barack Obama nhậm chức vào năm 2009 đến tháng 8 năm 2016, Hoa Kỳ đã bán lượng vũ khí trị giá 110 tỷ USD cho Ả Rập Saudi.[139][140] Quan hệ giữa hai quốc gia trở nên căng thẳng sau các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001.[141] Các chính trị gia và truyền thông Hoa Kỳ cáo buộc chính phủ Ả Rập Saudi ủng hộ chủ nghĩa khủng bố và dung thứ văn hoá jihad (thánh chiến).[142] Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton từng cho rằng Ả Rập Saudi ủng hộ tài chính cho al-Qaida, Taliban, LeT và các tổ chức khủng bố khác.[143] Chính phủ Ả Rập bác bỏ các cáo buộc này, cùng các cáo buộc rằng họ xuất khẩu chủ nghĩa cực đoan tôn giáo hoặc văn hoá.[144]

Thánh đường Faisal Mosque tại Islamabad, Pakistan được đặt tên theo một quốc vương của Ả Rập Saudi. Ả Rập Saudi là một đồng minh nhiệt tình của Pakistan, WikiLeaks tuyên bố rằng Ả Rập Saudi từ lâu đã có vai trò quan trọng trong chính sự Pakistan."[145]

Trong thế giới Ả Rập và Hồi giáo, Ả Rập Saudi được nhìn nhận là quốc gia thân phương Tây và thân Mỹ,[146] và họ dĩ nhiên là một đồng minh trường kỳ của Hoa Kỳ.[147] Tuy nhiên, điều này[148] và vai trò của Ả Rập Saudi trong chiến tranh vùng Vịnh 1991, đặc biệt là cho phép binh sĩ Hoa Kỳ đồn trú trên lãnh thổ Ả Rập Saudi từ năm 1991, xúc tiến chủ nghĩa Hồi giáo thù địch phát triển trong nước.[149] Do đó, Ả Rập Saudi trong một chừng mực nhất định đã tự tách mình khỏi Hoa Kỳ, chẳng hạn như từ chối ủng hộ hoặc tham gia cuộc xâm lược Iraq do Hoa Kỳ lãnh đạo vào năm 2003.[76]

Hậu quả của cuộc xâm lược năm 2003 và Mùa xuân Ả Rập khiến chế độ quân chủ Ả Rập Saudi gia tăng báo động về ảnh hưởng của Iran trong khu vực.[150] Các lo ngại này được phản ánh qua lời của Quốc vương Abdullah,[101] ông từng bí mật thuyết phục Hoa Kỳ tấn công Iran và "cắt cổ con rắn".[151] Nhằm bảo vệ hoàng tộc Khalifa của Bahrain, Ả Rập Saudi phái quân xâm nhập Bahrain để đàn áp cuộc khởi nghĩa của nhân dân Bahrain vào ngày 14 tháng 3 năm 2011.[152] Chính phủ Ả Rập Saudi nhìn nhận cuộc khởi nghĩa là một "mối đe doạ an ninh" do người Shia vốn chiếm đa số cư dân Bahrain đặt ra.[152] Ngày 25 tháng 3 năm 2015, Ả Rập Saudi, dẫn đầu một liên minh các quốc gia Hồi giáo Sunni,[153] khởi đầu can thiệp quân sự tại Yemen chống lại phái Houthi thuộc hệ Hồi giáo Shia và lực lượng trung thành với cựu Tổng thống Ali Abdullah Saleh.[154]

Ả Rập Saudi được nhìn nhận là có ảnh hưởng ôn hoà trong xung đột Ả Rập-Israel, định kỳ đưa ra kế hoạch hoà bình giữa Israel và người Palestine, và lên án Hezbollah.[155] Trong Mùa xuân Ả Rập, Ả Rập Saudi cấp quyền tị nạn cho Tổng thống Zine El Abidine Ben Ali của Tunisia và Quốc vương Abdullah điện đàm với Tổng thống Hosni Mubarak của Ai Cập (trước khi bị phế truất) để đề nghị giúp đỡ.[156] Năm 2014, quan hệ giữa Ả Rập Saudi và Qatar trở nên căng thẳng do Qatar ủng hộ Anh em Hồi giáo.[157] Ả Rập Saudi từng công khai ủng hộ Đội quân Chinh phục,[158] một nhóm thuộc lực lượng chống chính phủ trong Nội chiến Syria mà theo báo cáo bao gồm cả Mặt trận al-Nusra có liên kết với al-Qaeda.[159]

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Eurofighter Typhoon và Sikorsky UH-60 Black Hawk của Không quân Ả Rập Saudi. Eurofighter Typhoon và Sikorsky UH-60 Black Hawk của Không quân Ả Rập Saudi.
Eurofighter TyphoonSikorsky UH-60 Black Hawk của Không quân Ả Rập Saudi.

Ả Rập Saudi là một trong các quốc gia có tỷ lệ chi tiêu quân sự cao nhất thế giới, 10% GDP của quốc gia này được dành cho quân sự. Quân đội Ả Rập Saudi gồm có lục quân, không quân, hải quân, phòng không, vệ binh quốc gia (SANG), và các lực lượng dân quân, tổng cộng có gần 200.000 nhân viên tại ngũ. Năm 2005, nhân viên lực lượng vũ trang: lục quân có 75.000; không quân có 18.000; phòng không có 16.000; hải quân có 15.500 (bao gồm 3.000 thuỷ quân lục chiến); và SANG có 75.000 binh sĩ tại ngũ và 25.000 dân quân bộ lạc.[160] Ngoài ra, còn có cơ quan tình báo quân sự Al Mukhabarat Al A'amah.

Ả Rập Saudi có quan hệ quân sự lâu năm với Pakistan, và từ lâu có suy đoán rằng Ả Rập Saudi bí mật tài trợ cho chương trình bom nguyên tử của Pakistan và tìm cách mua vũ khí nguyên tử từ Pakistan.[161][162] Vệ binh Quốc gia Ả Rập Saudi không phải lực lượng dự bị mà là một lực lượng tiền tuyến hoạt động đầy đủ, và bắt nguồn từ lực lượng quân sự-tôn giáo bộ lạc của Ibn Saud là Ikhwan. Vệ binh Quốc gia Ả Rập Saudi dưới dạng hiện nay bắt nguồn từ đội quân cá nhân của Abdullah từ thập niên 1960. Vệ binh Quốc gia Ả Rập Saudi từng là một đối trọng với phái Sudairi trong hoàng tộc.[163]

Thiết bị quân sự của Ả Rập Saudi chủ yếu do Hoa Kỳ, Pháp và Anh cung cấp.[160] Hoa Kỳ bán trên 80 tỷ USD phần cứng quân sự cho quân đội Ả Rập Saudi trong giai đoạn 1951-2006.[164] Năm 2013, chi tiêu quân sự của Ả Rập Saudi tăng lên 67 tỷ USD, vượt qua Anh, Pháp và Nhật Bản để chiếm vị trí thứ tư toàn cầu.[165] Theo Viện Nghiên cứu Hoà bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), trong giai đoạn 2010–14 Ả Rập Saudi trở thành quốc gia nhập khẩu vũ khí nhiều thứ nhì trên thế giới, tiếp nhận gấp bốn lần so với giai đoạn 2005–2009.[15] Ả Rập Saudi chiếm 41% xuất khẩu vũ khí của Anh trong giai đoạn 2010–14.[166] Pháp cho phép bán 18 tỷ USD vũ khí cho Ả Rập Saudi chỉ trong năm 2015.[140] Thương vụ vũ khí trị giá 15 tỷ USD với Ả Rập Saudi vào năm 2016 được cho là thương vụ vũ khí lớn nhất trong lịch sử Canada.[167]

Đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ả Rập Saudi được phân thành 13 vùng[168] (tiếng Ả Rập: مناطق إدارية; manatiq idāriyya, số ít منطقة إدارية; mintaqah idariyya). Các vùng được chia tiếp thành 118 tỉnh (tiếng Ả Rập: محافظات; muhafazat, số ít محافظة; muhafazah). Con số này bao gồm 13 thủ phủ vùng, có vị thế khác biệt là đô thị (tiếng Ả Rập: أمانة; amanah) do thị trưởng (tiếng Ả Rập: أمين; amin) quản lý. Các tỉnh được chia tiếp thành huyện (tiếng Ả Rập: مراكز; marakiz, số ít مركز; markaz).

STT Vùng Thủ phủ
Các tỉnh của Ả Rập Saudi
1 Al Jawf Sakaka
2 Biên giới Phương Bắc Arar
3 Tabuk Tabuk
4 Ha'il Ha'il
5 Al Madinah Medina
6 Al Qasim Buraidah
7 Makkah Mecca
8 Al Riyadh Riyadh
9 Tỉnh Đông Dammam
10 Al Bahah (hay Baha) Al Bahah
11 Asir Abha
12 Jizan Jizan
13 Najran Najran

Các thành phố lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ địa hình Ả Rập Saudi (theo độ cao)

Ả Rập Saudi chiếm khoảng 80% bán đảo Ả Rập (bán đảo lớn nhất thế giới),[169] nằm giữa vĩ tuyến 16° Bắc và 33° Bắc, giữa kinh tuyến 34° Đông và 56° Đông. Do biên giới phía nam của quốc gia với Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Oman không được phân giới chính xác, kích thước thực tế của vương quốc này chưa được xác định.[169] CIA World Factbook ước tính diện tích Ả Rập Saudi là 2.149.690 km2 (830.000 sq mi) và xếp hạng là quốc gia rộng thứ 13 thế giới.[170] Về phương diện địa lý, đây là quốc gia lớn nhất trên mảng Ả Rập.[171]

Sa mạc Ả Rập cùng các bán hoang mạc và vùng cây bụi có liên hệ với nó chi phối địa lý Ả Rập Saudi. Thực tế, sa mạc Ả Rập là một số sa mạc liên kết với nhau và bao gồm 647.500 km² Rub' al Khali ("miền hoang vu") tại phần phía nam của vương quốc, là sa mạc với các đụn cát liền kề lớn nhất thế giới.[76][172] Hầu như không có sông hồ tại Ả Rập Saudi, song có một số wadi (thung lũng sông thường xuyên khô hạn). Một vài khu vực phì nhiêu hình thành nhờ bồi tích tại các wadi, bồn địa, và ốc đảo.[76] Đặc điểm địa hình chính là cao nguyên trung tâm, cao lên đột ngột từ biển Đỏ và dần thấp xuống Nejd và hướng ra vịnh Ba Tư. Tại duyên hải biển Đỏ, có một đồng bằng duyên hải hẹp gọi là Tihamah. Vùng Asir thuộc miền tây nam có địa hình núi non, tại đó có núi Sawda cao 3.133 m, là đỉnh cao nhất toàn quốc.[76]

Ngoại trừ vùng Asir, Ả Rập Saudi có khí hậu sa mạc với nhiệt độ ban ngày cực kỳ cao và giảm nhiệt độ đột ngột vào ban đêm. Nhiệt độ trung bình vào mùa hè là khoảng 45 °C, song có thể cao đến 54 °C. Trong mùa đông, nhiệt độ hiếm khi xuống dưới 0 °C. Trong mùa xuân và mùa thu, sức nóng dịu đi với nhiệt độ trung bình khoảng 29 °C. Lượng mưa hàng năm cực kỳ thấp. Riêng vùng Asir chịu ảnh hưởng từ gió mùa Ấn Độ Dương thường xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 3. Lượng mưa trung bình của vùng trong giai đoạn này là 300 mm, chiếm khoảng 60% lượng mưa hàng năm.[173]

Đời sống động vật gồm các loài như chó sói Ả Rập, linh cẩu vằn, cầy Mangut, khỉ đầu chó, thỏ sa mạc, cuột cát, chuột nhảy. Các loài động vật lớn như linh dương Gazelle, linh dương sừng kiếm, và báo có số lượng tương đối nhiều cho đến thập niên 1950, song săn bắn bằng ô tô làm giảm số lượng các loài này đến mức gần tuyệt chủng. Các loài chim bao gồm chim cắt (bị bắt và huấn luyện để săn bắt), đại bàng, diều hâu, kền kền, gà gô cátchào mào. Ả Rập Saudi có một số loài rắn trong đó nhiều loài có độc, và một số loài thằn lằn. Hệ sinh vật biển tại vịnh Ba Tư đa dạng. Các động vật được thuần hoá gồm lạc đà một bướu, dê, cừu, lừa và gà. Do có điều kiện sa mạc, hệ thực vật Ả Rập Saudi hầu hết là các cây thân thảo và cây bụi nhỏ cần ít nước. Cũng có một số khu vực đồng cỏ và cây với quy mô nhỏ tại miền nam Asir. Chà là là loài cây phổ biến.[76]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Quốc vương Fahd tại Riyadh

Ả Rập Saudi có nền kinh tế chỉ huy, dựa trên dầu mỏ với khoảng 75% thu ngân sách và 90% thu nhập xuất khẩu đến từ công nghiệp dầu mỏ. Quốc gia này phụ thuộc nhiều vào công nhân ngoại quốc, khoảng 80% người lao động trong khu vực tư nhân không phải là công dân Ả Rập Saudi.[174][175] Một số thách thức đối với kinh tế Ả Rập Saudi là ngăn chặn hoặc đảo nghịch việc suy giảm thu nhập bình quân, cải thiện giáo dục để chuẩn bị cho thanh niên trở thành lực lượng lao động và cung cấp cho họ việc làm, đa dạng hoá kinh tế, khuyến khích khu vực tư nhân và xây dựng nhà ở, giảm bớt tham nhũng và bất bình đẳng.

Ngành công nghiệp dầu mỏ chiếm khoảng 45% tổng sản phầm quốc nội danh nghĩa của Ả Rập Saudi, trong khi khu vực tư nhân chiếm 40%. Ả Rập Saudi theo số liệu chính thức có trữ lượng dầu mỏ 260 tỷ thùng (4,1×1010 m3), chiếm khoảng một phần năm trữ lượng dầu mỏ được kiểm chứng của thế giới.[176] Trong thập niên 1990, thu nhập từ dầu mỏ của Ả Rập Saudi bị tụt giảm đáng kể, kết hợp với tỷ lệ gia tăng dân số cao khiến thu nhập bình quân giảm từ mức 11.700 USD vào đỉnh điểm bùng nổ dầu mỏ vào năm 1981 xuống còn 6.300 USD vào năm 1998.[177] Giá dầu mỏ tăng lên khiến GDP bình quân tăng lên, đạt 17.000 USD vào năm 2007 (khoảng 7.400 USD điều chỉnh theo lạm phát),[178] song giảm xuống do giá dầu mỏ giảm từ giữa năm 2014.[179]

Văn phòng Saudi Aramco, là công ty có giá trị lớn nhất Ả Rập Saudi và là nguồn thu nhập chính của quốc gia.

Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) hạn chế sản lượng dầu mỏ của các thành viên dựa trên "trữ lượng được chứng minh" của họ. Trữ lượng công bố của Ả Rập Saudi có ít biến động kể từ năm 1980, ngoại lệ chính là lần tăng khoảng 100 tỷ thùng (1,6×1010 m3) giai đoạn 1987-1988.[180]

Trong giai đoạn 2003–2013, một số dịch vụ trọng yếu được tư hữu hoá: cung cấp nước đô thị, điện lực, viễn thông; và một phần hệ thống giáo dục và y tế, kiểm soát giao thông và tường trình tai nạn ô tô cũng được tư hữu hoá. Tuy nhiên, có ý kiến lo ngại về hoạt động của các thực thể được tư hữu hoá này.[181] Tháng 11 năm 2005, Ả Rập Saudi được phê chuẩn trở thành một thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới. Ả Rập Saudi duy trì việc cấm đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực, song chính phủ có kế hoạch mở cửa một số lĩnh vực như viễn thông, bảo hiểm, truyền tải điện. Chính phủ cũng tiến hành nỗ lực nhằm bản địa hoá kinh tế, tức thay thế công nhân ngoại quốc bằng công dân Ả Rập Saudi song chỉ có thành công hạn chế.[182]

Ả Rập có các kế hoạch phát triển 5 năm kể từ năm 1970. Trong số các kế hoạch này có triển khai "các thành phố kinh tế" (như King Abdullah Economic City) được hoàn thành cho đến năm 2020, nhằm đa dạng hoá kinh tế và cung cấp việc làm. Tính đến năm 2013 có bốn thành phố được lập kế hoạch.[183] Quốc vương tuyên bố rằng thu nhập bình quân sẽ tăng lên đến 33.500 USD vào năm 2020.[184] Các thành phố phân bố khắp Ả Rập Saudi nhằm xúc tiến đa dạng hoá tại mỗi khu vực.

Ngoài dầu mỏ và khí đốt, Ả Rập Saudi còn có ngành khai thác vàng quy mô nhỏ tại khu vực Mahd adh Dhahab và các ngành khai khoáng khác, lĩnh vực nông nghiệp (đặc biệt là tại tây nam) dựa vào chà là và gia súc, và một số công việc tạm thời được tạo ra trong mỗi dịp hành hương hajj.[185] Ả Rập Saudi khuyến khích nông nghiệp sa mạc bằng cách cung cấp trợ cấp đáng kể cũng như tiêu tốn 300 tỷ m³ nước mà hầu hết là nguồn nước không tái tạo để trồng cỏ linh lăng, ngũ cốc, thịt và sữa tại sa mạc Ả Rập.[186] Ước tính việc tiêu thụ nguồn nước ngầm không tái tạo khiến cho 4/5 trữ lượng nước ngầm biến mất cho đến năm 2012.[187]

Ả Rập Saudi đầu tư đáng kể vào việc khử muối nước biển, cung cấp nước, hệ thống thoát nước và xử lý nước, làm tăng đáng kể tỷ lệ dân chúng được tiếp cận nước uống và cải thiện điều kiện vệ sinh trong các thập niên qua. Khoảng 50% nước uống có nguồn gốc từ nước khử muối, 40% đến từ khai thác nước ngầm và 10% đến từ nước bề mặt (đặc biệt tại vùng núi non tây nam). Thủ đô Riyard được cung cấp nước khử muối bơm từ vịnh Ba Tư với khoảng cách 467 km. Nhờ thu nhập từ dầu mỏ, nước được cung cấp gần như miễn phí. Mặc dù chất lượng dịch vụ được cải thiện song vẫn còn thấp, chẳng hạn tại Riyadh chỉ có nước một lần trong mỗi 2,5 ngày vào năm 2011, còn tại Jeddah chỉ có nước 9 ngày một lần.[188]

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số Ả Rập Saudi năm 2005 được ước tính khoảng 26.4 triệu người, gồm khoảng 5.6 triệu người nước ngoài sống thường trú. Cho tới thập kỷ 1960, đa số dân vẫn là những người du mục hay bán du mục; nhờ tăng trưởng kinh tế cao và tăng đô thị hóa, hơn 95% dân số hiện đã sống định cư. Tỷ lệ sinh là 29.56 trên 1.000 dân. Tỷ lệ tử chỉ 2.62 trên 1.000 dân. Một số thành phố và ốc đảo có mật độ hơn 1.000 người trên km² (2.600/sq dặm vuông).

Đa số dân Ả Rập Saudi là người Ả Rập. Một số là người có nguồn gốc lai và là con cháu của người Tây Á, người Iran, người Mã Lai, và các dân tộc khác, đa số họ đã di cư kiểu hành hương và ở lại vùng Hijaz dọc theo bờ Biển Đỏ. Nhiều người Ả Rập từ các nước lân cận tới làm việc ở vương quốc này. Cũng có một số lượng khá lớn những người di cư từ NamĐông Nam Á, đa số từ Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Indonesia, và Philippines. Có khoảng 100.000 người phương Tây ở Ả Rập Saudi, đa số họ sống ở các khu riêng biệt hay các khu kín cổng cao tường.

Theo CIA World Fact Book, 100% công dân Ả Rập Saudi là người Hồi giáo. [1]

Visa vào và ra khỏi Ả Rập Saudi yêu cầu người xin phải xác định tôn giáo của mình và nước này chính thức cấm nhập cảnh đối với tất cả mọi người từ nhà nước Israel.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn hóa Ả Rập Saudi
Người hành hương đang cầu khấn tại Masjid Al Haram. Mecca

Văn hóa Ả Rập Saudi hầu như xoay quanh Hồi giáo. Hai thành phố linh thiêng nhất của Đạo Hồi, Méc-caMê-đi-na, đều nằm ở nước này. Năm lần trong ngày, tất cả các ngày trong năm, tất cả những người theo Đạo Hồi được yêu cầu tới cầu nguyện tại các nhà thờ Hồi giáo trên khắp đất nước. Ngày cuối tuần gồm thứ Năm và thứ Sáu. Việc thực hiện nghi thức của bất cứ tôn giáo nào khác ngoài Đạo Hồi, gồm Thiên chúa giáo vào Do thái giáo, sự hiện diện của các nhà thờ, sự sở hữu những đồ vật Thiên chúa giáo đều bị đặt ngoài vòng pháp luật ở nước này. Cuốn sách linh thiêng của Hồi giáo là Kinh Côran là hiến pháp của Ả Rập Saudi, và luật Hồi giáo (Shari'ah) là nền tảng luật pháp của họ. Xem Tình trạng tự do tôn giáo tại Ả Rập Saudi.

Một trong những nghi lễ dân tộc tôn nghiêm nhất của Ả Rập Saudi là Ardha, điệu múa dân tộc của đất nước. Điệu múa kiếm này dựa trên các truyền thống Bedouin cổ xưa: những người đánh trống đánh trống thành nhịp điệu và những thi sĩ đọc những câu thơ thánh ca trong khi những người đàn ông mang kiếm nhảy múa vai kề vai. Âm nhạc dân gian Al-sihba, từ Hijaz, có nguồn gốc ở Ả Rập Andalusia, một vùng Tây Ban Nha trung cổ. Tại Méc-ca, Mê-đi-naGiê-đa, nhảy múa và ca hát kết hợp chặt chẽ với âm thanh của al-mizmar, một nhạc cụ gỗ kiểu oboe. Trống cũng là một nhạc cụ quan trọng theo truyền thống và phong tục địa phương.

Trang phục Ả Rập Saudi có tính biểu tượng cao, thể hiện mối liên kết chặt chẽ của con người với đất đai, quá khứ và Đạo Hồi. Trang phục với đặc điểm nội trội ở tính chất rộng rãi và lỏng lẻo nhưng trùm kín phản ánh tính thiết thực của cuộc sống trong một đất nước sa mạc cũng như sự nhấn mạnh của Hồi giáo trên chất liệu len hay cô-tông(được gọi là thawb), với một shimagh (một mảnh vải cô-tông vuông kẻ carô lớn được giữ chặt bởi một sợi dây) hay một ghutra (một mảnh vải vuông đơn giản màu trắng được làm bằng vải cô-tông mịn hơn, cũng được giữ bằng một sợi dây) phủ trên đầu. Trong những ngày giá lạnh hiếm hoi, đàn ông Ả Rập Saudi mặc một áo khoác không tay bằng lông lạc đà (bisht) trùm kín người. Trang phục phụ nữ được trang trí bằng những motif bản địa, những đồng xu, đồng tiền vàng, những mảnh kim loại, và những vật treo. Tuy nhiên, phụ nữ Ả Rập Saudi phải mặc một cái áo khoác không tay dài (abaya) và khăn che mặt (niqab) khi họ ra khỏi nhà để bảo vệ tính e lệ của họ. Luật pháp không áp dụng cho người nước ngoài nhưng cả đàn ông và phụ nữ đều được khuyến cáo nên ăn mặc có mức độ.

Đạo Hồi cấm ăn thịt lợn và uống rượu, và luật này được tuân thủ nghiêm túc trên toàn bộ lãnh thổ Ả Rập Saudi. Món bánh mì Ả Rập, hay khobz, thường được ăn trong hầu hết các bữa. Các sản phẩm khác gồm thịt cừu nấu chín, nướng, felafel (hạt đậu xanh nấu nhừ), shwarma (thịt cừu xiên nướng), và fuul (một miếng đậu fava, tỏichanh). Những quán cà phê truyền thống có ở khắp nơi, nhưng hiện bị những quán cà phê kiểu kiêm cả đồ ăn lấn lướt. Trà Ả Rập cũng là một đồ uống quen thuộc của họ, nó được dùng trong cả những dịp lễ nghi và thông thường như khi gặp gỡ giữa bạn bè, gia đình và thậm chí cả người lạ. Trà màu đen (không đường) và có hương vị thảo mộc ở nhiều mức độ khác nhau.

Các rạp hát công cộng và rạp chiếu phim bị cấm hoạt động, theo truyền thống Wahabbi những thứ đó không thích hợp với Đạo Hồi. Tuy nhiên, trong những khu vực tư nhân như DhahranRas Tanura các nhà hát công cộng có thể hoạt động, nhưng thường là nơi để trình diễn nhạc dân tộc, nghệ thuật và các sản phẩm sân khấu hơn là để trưng bày những hình ảnh động. Những kế hoạch gần đây về việc mở cửa một số rạp chiếu phim cho phép chiếu các bộ phim hoạt hình Ả Rập cho phụ nữ và trẻ em đã được công bố.

Di sản văn hóa được kỷ niệm tại festival văn hóa Jenadriyah hàng năm.

Mutaween, hay cảnh sát tôn giáo, cũng được gọi là Cơ quan tăng cường đức hạnh và ngăn chặn sự đồi bại gồm 3.500 sĩ quan và được hỗ trợ bởi hàng ngàn người tình nguyện,[189] nhiệm vụ của họ là buộc mọi người tôn trọng học thuyết tôn giáo (luật Shari'a của Đạo Hồi như chính phủ Ả Rập Saudi quy định) và loại bỏ các hành động "không phải Hồi giáo". Họ có quyền bắt giữ tất cả đàn ông và phụ nữ không có họ hàng với nhau nhưng có hành động trao đổi xã hội bình thường với nhau, và cấm mua bán các sản phẩm và các sản phẩm truyền thông đại chúng như trò chơi và đồ chơi, các đĩa nhạc phương Tây, và các show truyền hình. Mutaween gần đây đã mở ra một website nơi mọi người có thể đưa lên những lời bình luận về những hành động "không phải Hồi giáo"[190]. Mặc dù gần đây ảnh hưởng và quyền lực của họ đã giảm sút, họ đã quan tâm một chút tới những lo ngại về vấn đề nhân quyền.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Baer, Robert, Sleeping With The Devil: How Washington Sold Our Soul for Saudi Crude (Crown, 2003) ISBN 1400050219
  • Gold, Dore, Hatred's Kingdom: How Saudi Arabia Supports the New Global Terrorism (Regnery Publishing, Inc. 2004) ISBN 0895260611
  • Lippman, Thomas W. "Inside the Mirage: America's Fragile Partnership with Saudi Arabia" (Westview 2004) ISBN 0813340527
  • Mackey, Sandra, The Saudis: Inside the Desert Kingdom (Houghton Mifflin, 1987) ISBN 0395411653
  • Ménoret, Pascal, The Saudi Enigma: A History (Zed Books, 2005) ISBN 1842776053
  • al-Rasheed, Madawi, A History of Saudi Arabia (Cambridge University Press, 2002) ISBN 052164335
  • Matthew R. Simmons, Twilight in the Desert The Coming Saudi Oil Shock and the World Economy, John Wiley & Sons, 2005, ISBN 047173876X

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Madawi Al-Rasheed (2013). A Most Masculine State: Gender, Politics and Religion in Saudi Arabia. tr. 65. 
  2. ^ Peter W. Wilson; Douglas Graham (1994). Saudi Arabia: the coming storm. tr. 46. ISBN 1-56324-394-6. 
  3. ^ a ă Mehran Kamrava (2011). The Modern Middle East: A Political History Since the First World War. tr. 67. ISBN 978-0-520-26774-9. 
  4. ^ a ă Tripp, Culture Shock, 2003: p.14
  5. ^ a ă Malbouisson, p. 23
  6. ^
  7. ^
    • Caryl, Sue. “1938: Oil Discovered in Saudi Arabia”. National Geographic. National Geographic Society. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2016. 
    • Learsy, Raymond (2011). Oil and Finance: The Epic Corruption. tr. 89. 
  8. ^ “International – U.S. Energy Information Administration (EIA)”. eia.gov. 
  9. ^ Human Development Report 2014 (PDF). United Nations. 2013. tr. 159. 
  10. ^
  11. ^ “UAE has most diversified GCC economy”. emirates247.com. 6 tháng 1 năm 2014. 
  12. ^ “The death penalty in Saudi Arabia: Facts and Figure”. Amnesty International. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016. 
  13. ^ The Military Balance 2014: Top 15 Defence Budgets 2013 (IISS)
  14. ^ “The 15 countries with the highest military expenditure in 2013 (table)” (PDF). Stockholm International Peace Research Institute. 
  15. ^ a ă “Trends in International Arms Transfer, 2014”. www.sipri.org. Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015. 
  16. ^ Barry Buzan (2004). The United States and the Great Powers. Cambridge, United Kingdom: Polity Press. tr. 71. ISBN 0-7456-3375-7. 
  17. ^ “The erosion of Saudi Arabia's image among its neighbours”. Middleeastmonitor.com. 7 tháng 11 năm 2013. 
  18. ^ “Early human migration written in stone tools: Nature News”. Nature. 27 tháng 1 năm 2011. 
  19. ^ Christian Julien Robin,'Arabia and Ethiopia,'in Scott Johnson (ed.) The Oxford Handbook of Late Antiquity, Oxford University Press 2012 pp.247-333.p.282
  20. ^
  21. ^ “Bahrain digs unveil one of oldest civilisations”. BBC. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014. 
  22. ^ “Qal'at al-Bahrain – Ancient Harbour and Capital of Dilmun”. UNESCO. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2011. 
  23. ^ Jesper Eidema, Flemming Højlundb (1993). “Trade or diplomacy? Assyria and Dilmun in the eighteenth century BC”. World Archaeology 24 (3): 441–448. doi:10.1080/00438243.1993.9980218. 
  24. ^ “Dilmun and Its Gulf Neighbours”. Harriet E. W. Crawford. 1998. tr. 9. 
  25. ^ Samuel Noah Kramer (1963). The Sumerians: their history, culture, and character. tr. 308. 
  26. ^ Brian Doe, Southern Arabia, Thames and Hudson, 1971, pp. 21-22.
  27. ^ The kingdom of Dadan, Al-`Ula, Arabia.
  28. ^ History of Arabia – Kindah. Encyclopedia Britannica. Retrieved 11 February 2012.
  29. ^ Matthew Gordon (2005). The Rise of Islam. tr. 4. ISBN 0-313-32522-7. 
  30. ^ a ă James E. Lindsay (2005). Daily Life in the Medieval Islamic World. tr. 33. ISBN 0-313-32270-8. 
  31. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m “History of Arabia”. Encyclopædia Britannica. 
  32. ^ William Gordon East (1971). The changing map of Asia. tr. 75–76. ISBN 978-0-416-16850-1. 
  33. ^ Glassé, Cyril. 2008. The New Encyclopedia of Islam. Walnut Creek CA: AltaMira Press p. 369
  34. ^ William J. Bernstein (2008) A Splendid Exchange: How Trade Shaped the World. Grove Press. pp. 191 ff
  35. ^
    • Bowen, p. 68
    • Nikshoy C. Chatterji (1973). Muddle of the Middle East, Volume 2. tr. 168. ISBN 0-391-00304-6. 
  36. ^ Bowen, pp. 69–70
  37. ^ Ian Harris; Stuart Mews; Paul Morris; John Shepherd (1992). Contemporary Religions: A World Guide. tr. 369. ISBN 978-0-582-08695-1. 
  38. ^ Mahmud A. Faksh (1997). The Future of Islam in the Middle East. tr. 89–90. ISBN 978-0-275-95128-3. 
  39. ^ D. Gold (6 April 2003) "Reining in Riyadh". NYpost (JCPA)
  40. ^ "The Saud Family and Wahhabi Islam". Library of Congress Country Studies.
  41. ^ David Murphy (2008). The Arab Revolt 1916–18: Lawrence Sets Arabia Ablaze. tr. 5–8. ISBN 978-1-84603-339-1. 
  42. ^ Madawi Al Rasheed (1997). Politics in an Arabian Oasis: The Rashidis of Saudi Arabia. tr. 81. ISBN 1-86064-193-8. 
  43. ^ Ewan W. Anderson; William Bayne Fisher (2000). The Middle East: Geography and Geopolitics. tr. 106. ISBN 978-0-415-07667-8. 
  44. ^ R. Hrair Dekmejian (1994). Islam in Revolution: Fundamentalism in the Arab World. tr. 131. ISBN 978-0-8156-2635-0. 
  45. ^ Spencer Tucker; Priscilla Mary Roberts (205). The Encyclopedia of World War I. tr. 565. ISBN 978-1-85109-420-2. 
  46. ^ Albert Hourani (2005). A History of the Arab Peoples. tr. 315–319. ISBN 978-0-571-22664-1. 
  47. ^ James Wynbrandt; Fawaz A. Gerges (2010). A Brief History of Saudi Arabia. tr. 182. ISBN 978-0-8160-7876-9. 
  48. ^ Robert Lacey (2009). Inside the Kingdom. tr. 15–16. ISBN 978-0-09-953905-6. 
  49. ^ Mohamad Riad El Ghonemy (1998). Affluence and Poverty in the Middle East. tr. 56. ISBN 978-0-415-10033-5. 
  50. ^ a ă Al-Rasheed, pp. 136–137
  51. ^ Joy Winkie Viola (1986). Human Resources Development in Saudi Arabia: Multinationals and Saudization. tr. 37. ISBN 978-0-88746-070-8. 
  52. ^ Angel Rabasa; Cheryl Benard; Peter Chalk (2005). The Muslim world after 9/11. tr. 42. ISBN 978-0-8330-3712-1. 
  53. ^ a ă Toby Craig Jones (2010). Desert Kingdom: How Oil and Water Forged Modern Saudi Arabia. tr. 218–219. ISBN 978-0-674-04985-7. 
  54. ^ a ă â Hegghammer, p. 24
  55. ^ Anthony H. Cordesman (2003). Saudi Arabia Enters the 21st Century. tr. 174. ISBN 978-0-275-98091-7. 
  56. ^ Mahmoud A. El-Gamal & Amy Myers Jaffe (2010). Oil, Dollars, Debt, and Crises: The Global Curse of Black Gold. Cambridge University Press. tr. 41. ISBN 0521720702. 
  57. ^ Abir (1993), p. 114
  58. ^ Robert Fisk (2005) The Great War For Civilisation. Fourth Estate. p. 23. ISBN 1-4000-7517-3
  59. ^ Christopher Blanchard (2009). Saudi Arabia: Background and U.S. Relations. United States Congressional Research Service. tr. 5–6. 
  60. ^ Al-Rasheed, p. 212
  61. ^ a ă Anthony H. Cordesman (2009). Saudi Arabia: National Security in a Troubled Region. tr. 50–52. ISBN 978-0-313-38076-1. 
  62. ^ “Flood sparks rare action”. Reuters via Montreal Gazette. 29 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2011. 
  63. ^ “Dozens detained in Saudi over flood protests”. The Peninsula (Qatar)/Thomson-Reuters. 29 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  64. ^ Robert Fisk (5 tháng 5 năm 2011). “Saudis mobilise thousands of troops to quell growing revolt”. The Independent (London). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  65. ^
  66. ^ “Saudi Arabia's king announces huge jobs and housing package”. The Guardian. Associated Press. 18 tháng 3 năm 2011. 
  67. ^ Donna Abu (18 tháng 3 năm 2011). “Saudi King to Spend $67 Billion on Housing, Jobs in Bid to Pacify Citizens”. Bloomberg. 
  68. ^ “Saudis vote in municipal elections, results on Sunday”. Oman Observer. Agence France-Presse. 30 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  69. ^ “Saudi King Abdullah dies, succeeded by half-brother”. China Daily. 23 tháng 1 năm 2011. 
  70. ^ a ă â Marshall Cavendish (2007). World and Its Peoples: the Arabian Peninsula. tr. 78. ISBN 978-0-7614-7571-2. 
  71. ^ Gerhard Robbers (2007). Encyclopedia of world constitutions, Volume 1. tr. 791. ISBN 0-8160-6078-9. 
  72. ^
  73. ^ Democracy index 2012 Democracy at a standstill (PDF). The Economist Intelligence Unit. 2012. 
  74. ^ “Freedom House. Saudi Arabia”. freedomhouse.org. 
  75. ^ a ă Oystein Noreng (2005). Crude power: politics and the oil market. tr. 97. ISBN 978-1-84511-023-9. 
  76. ^ a ă â b c d đ e “Encyclopaedia Britannica Online: Saudi Arabia”. Encyclopædia Britannica. 
  77. ^ Marshall Cavendish (2007). World and Its Peoples: the Arabian Peninsula. tr. 92–93. ISBN 978-0-7614-7571-2. 
  78. ^ Al-Rasheed, pp. 180, 242–243, 248, 257–258
  79. ^ Ondrej Barenek (2009). “Divided We Survive: A Landscape of Fragmentation in Saudi Arabia” (PDF). Middle East Brief (Brandeis University Crown Center for Middle East Studies) (33). 
  80. ^ Agarwal, Nitin; Lim, Merlyna; Wigand, Rolf T. (2012). "Online Collective Action and the Role of Social Media in Mobilizing Opinions: A Case Study on Women's Right-to-Drive Campaigns in Saudi Arabia". In Christopher G. Reddick and Stephen K. Aikins (eds.). Web 2.0 Technologies and Democratic Governance: Political, Policy and Management Implications. New York: Springer. ISBN 9781461414483. p. 99 ff.; here: p. 103.
  81. ^ “Saudi Arabia gives women right to vote”. The Guardian (London). 25 tháng 9 năm 2011. 
  82. ^ a ă â Christian Campbell (2007). Legal Aspects of Doing Business in the Middle East. tr. 265. ISBN 978-1-4303-1914-6. 
  83. ^ Library of Congress, Federal Research Division (2006). “Country Profile: Saudi Arabia” (PDF). 
  84. ^ a ă “The House of Saud: rulers of modern Saudi Arabia”. Financial Times. 30 tháng 9 năm 2010. 
  85. ^ Bowen, p. 15
  86. ^ Roger Owen (2000). State, power and politics in the making of the modern Middle East. tr. 56. ISBN 978-0-415-19674-1. 
  87. ^ “Saudi King Abdullah to go to US for medical treatment”. BBC News. 21 tháng 11 năm 2010. 
  88. ^ “Prince Salman resumes duties at governorate”. Arab News. 23 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2010. 
  89. ^ “Mohammed bin Nayef kingpin in new Saudi Arabia: country experts”. Middle East Eye. 1 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2015. 
  90. ^ a ă “When kings and princes grow old”. The Economist. 15 tháng 7 năm 2010. 
  91. ^ Joseph Kostiner (2009). Conflict and cooperation in the Persian Gulf region. tr. 236. ISBN 978-3-531-16205-8. 
  92. ^ Steven R. David (2008). Catastrophic consequences: civil wars and American interests. tr. 33–34. ISBN 978-0-8018-8989-9. 
  93. ^
  94. ^ Natalie Goldstein (2010). Religion and the State. tr. 118. ISBN 978-0-8160-8090-8. 
  95. ^ Federal Research Division (2004). Saudi Arabia A Country Study. tr. 232. ISBN 978-1-4191-4621-3. 
  96. ^ a ă Nawaf E. Obaid (tháng 9 năm 1999). “The Power of Saudi Arabia's Islamic Leaders”. Middle East Quarterly VI (3): 51–58. 
  97. ^ Fouad Farsy (1992). Modernity and tradition: the Saudi equation. tr. 29. ISBN 978-1-874132-03-5. 
  98. ^ a ă â Ron Eduard Hassner (2009). War on sacred grounds. tr. 143. ISBN 978-0-8014-4806-5. 
  99. ^ Abir (1987), p. 30
  100. ^ a ă Abir (1993), p. 21
  101. ^ a ă Nada Bakri (29 tháng 11 năm 2010). “Abdullah, King of Saudi Arabia”. The New York Times. 
  102. ^ Abir (1987), p. 4
  103. ^ Peter W. Wilson; Douglas Graham (1994). Saudi Arabia: the coming storm. tr. 16. ISBN 1-56324-394-6. 
  104. ^ Long, p. 11
  105. ^ a ă International Business Publications (2011). Saudi Arabia King Fahd Bin Abdul Aziz Al-Saud Handbook. ISBN 0-7397-2740-0. 
  106. ^ Richard F. Nyrop (2008). Area Handbook for the Persian Gulf States. tr. 50. ISBN 978-1-4344-6210-7. 
  107. ^ Bligh, Alexander (1985). “The Saudi religious elite (Ulama) as participant in the political system of the kingdom”. International Journal of Middle East Studies 17: 37–50. doi:10.1017/S0020743800028750. 
  108. ^ Philip Mattar (2004). Encyclopedia of the Modern Middle East & North Africa: Vol.1 A-C. tr. 101. ISBN 978-0-02-865770-7. 
  109. ^ Bowen, p. 13
  110. ^ Robert W. Hefner (2011). Shari'a Politics: Islamic Law and Society in the Modern World. tr. 58. ISBN 978-0-253-22310-4. 
  111. ^ Juan Eduardo Campo (2006). Encyclopedia of Islam. tr. 288. ISBN 978-0-8160-5454-1. 
  112. ^ a ă Otto, pp. 161–162
  113. ^ Oxford Business Group (2009). The Report: Saudi Arabia 2009. tr. 202. ISBN 978-1-902339-00-9. it is not always possible to reach a conclusion on how a Saudi court or judicial committee would view a particular case [because] decisions of a court or a judicial committee have no binding authority with respect to another case, [and] in general there is also no system of court reporting in the Kingdom. 
  114. ^ Otto, p. 157
  115. ^ John L. Esposito (1998). Islam and politics. tr. 110–112. ISBN 978-0-8156-2774-6. 
  116. ^ Christian Campbell (2007). Legal Aspects of Doing Business in the Middle East. tr. 268–269. ISBN 978-1-4303-1914-6. 
  117. ^ “International: Law of God versus law of man; Saudi Arabia”. The Economist. 13 tháng 10 năm 2007. 
  118. ^ “Saudi Arabian justice: Cruel, or just unusual?”. The Economist. 14 tháng 6 năm 2001. 
  119. ^ “Tentative steps in Saudi Arabia: The king of Saudi Arabia shows some reformist credentials”. The Economist. 17 tháng 2 năm 2009. 
  120. ^ “Saudi Justice?”. CBS News. 5 tháng 12 năm 2007. 
  121. ^ Otto, p. 175
  122. ^ a ă Federal Research Division (2004). Saudi Arabia A Country Study. tr. 304. ISBN 978-1-4191-4621-3. 
  123. ^ “Saudi executioner tells all”. BBC News. 5 tháng 6 năm 2003. 
  124. ^ a ă Terance D. Miethe; Hong Lu (2004). Punishment: a comparative historical perspective. tr. 63. ISBN 978-0-521-60516-8. 
  125. ^
  126. ^ “Saudis Face Soaring Blood-Money Sums”. The Washington Post. 27 tháng 7 năm 2008. 
  127. ^ a ă â “Background Note: Saudi Arabia”. U.S. State Department. 
  128. ^ “United Nations Member States”. United Nations. 
  129. ^ “The foreign policy of the Kingdom of Saudi Arabia”. Ministry of Foreign Affairs, Saudi Arabia. 5 tháng 7 năm 2005. 
  130. ^ “No politics for Ben Ali in Kingdom”. Arab News. 19 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2011. 
  131. ^ “Arab leaders issue resolutions, emphasize Gaza reconstruction efforts”. Kuwait News Agency. 20 tháng 1 năm 2009. 
  132. ^ “OPEC: Brief History”. OPEC.org. Organization of the Petroleum Exporting Countries. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015. 
  133. ^ J Jonsson David (2006). Islamic Economics and the Final Jihad. tr. 249–250. ISBN 978-1-59781-980-0. 
  134. ^ “Jihad and the Saudi petrodollar”. BBC News. 15 tháng 11 năm 2007. 
  135. ^ Malbouisson, p. 26
  136. ^ "Saudis and Extremism: ‘Both the Arsonists and the Firefighters’". The New York Times. 25. August 2016.
  137. ^ “How strained are US-Saudi relations?”. BBC News. 20 tháng 4 năm 2016. 
  138. ^ “Old friends US and Saudi Arabia feel the rift growing, seek new partners”. Asia Times. 2 tháng 5 năm 2016. 
  139. ^ "America Is Complicit in the Carnage in Yemen". The New York Times. 17. August 2016.
  140. ^ a ă "Rights group blasts U.S. “hypocrisy” in “vast flood of weapons” to Saudi Arabia, despite war crimes". Salon. 30. August 2016.
  141. ^ Madawi Al-Rasheed (2010). A History of Saudi Arabia. tr. 233. ISBN 978-0-521-74754-7. 
  142. ^ Markus Kaim (2008). Great powers and regional orders: the United States and the Persian Gulf. tr. 68. ISBN 978-0-7546-7197-8. 
  143. ^ Declan Walsh (5 tháng 12 năm 2010). “WikiLeaks cables portray Saudi Arabia as a cash machine for terrorists”. The Guardian (London). 
  144. ^ Malbouisson, p. 27
  145. ^ Ishaan Tharoor (6 tháng 12 năm 2010). “WikiLeaks: The Saudis' Close but Strained Ties with Pakistan”. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  146. ^ Pascal Ménoret (2005). The Saudi enigma: a history. tr. 22. ISBN 978-1-84277-605-6. 
  147. ^ Peter Walker (22 tháng 11 năm 2007). “Iraq's foreign militants 'come from US allies'. The Guardian (London). 
  148. ^ Peter J. Burnell; Vicky Randall (2007). Politics in the developing world. tr. 449. ISBN 978-0-19-929608-8. 
  149. ^ Quintan Wiktorowicz (2004). Islamic activism: a social movement theory approach. tr. 255. ISBN 978-0-253-34281-2. 
  150. ^ "WikiLeaks Shows a Saudi Obsession With Iran". The New York Times. 16 July 2015.
  151. ^ Ian Black; Simon Tisdall (28 tháng 11 năm 2010). “Saudi Arabia urges US attack on Iran to stop nuclear programme”. The Guardian (London). 
  152. ^ a ă Chulov, Martin. “Saudi Arabian troops enter Bahrain as regime asks for help to quell uprising”. the Guardian. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2015. 
  153. ^ "U.S. Backs Saudi-Led Yemeni Bombing With Logistics, Spying". Bloomberg. 26 March 2015.
  154. ^ "Saudi-led coalition strikes rebels in Yemen, inflaming tensions in region". CNN. 27 March 2015.
  155. ^ Mark Watson (2008). Prophets and princes: Saudi Arabia from Muhammad to the present. tr. 2. ISBN 978-0-470-18257-4. 
  156. ^ Ian Black (31 tháng 1 năm 2011). “Egypt Protests could spread to other countries”. The Guardian (London). 
  157. ^ “Top Saudi Officials Head to Qatar in Effort to Heal Rift”. Saudi Arabia News.Net. 27 tháng 8 năm 2014. 
  158. ^
  159. ^ Kim Sengupta (12 tháng 5 năm 2015). “Turkey and Saudi Arabia alarm the West by backing Islamist extremists the Americans had bombed in Syria”. The Independent. 
  160. ^ a ă “Country Profile: Saudi Arabia, Sept. 2006 Library of Congress” (PDF). 
  161. ^ Al J. Venter (2007). Allah's Bomb: The Islamic Quest for Nuclear Weapons. Globe Pequot. tr. 150–53. ISBN 1-59921-205-6. 
  162. ^ “Saudi Arabia's nuclear gambit”. Asia Times. 7 tháng 11 năm 2003. 
  163. ^ John Pike (27 tháng 4 năm 2005). “Saudi Arabian National Guard”. Globalsecurity.org. 
  164. ^ “Saudi Arabia”. fas.org. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  165. ^ "Saudis lead Middle East military spending". 14 April 2014. Al Jazeera.
  166. ^ "Saudi, UAE Influence Grows With Purchases". Defense News. 22 March 2015.
  167. ^
  168. ^ “Saudi Arabia: Administrative divisions”. arab.net. 
  169. ^ a ă Jamie Stokes (2009). Encyclopedia of the Peoples of Africa and the Middle East, Volume 1. tr. 605. ISBN 978-0-8160-7158-6. 
  170. ^ “CIA World Factbook – Rank Order: Area”. The World Factbook. 26 tháng 1 năm 2012. 
  171. ^ University Microfilms (2004). Dissertation Abstracts International: The sciences and engineering. tr. 23. 
  172. ^ Peter Vincent (2008). Saudi Arabia: an environmental overview. Taylor & Francis. tr. 141. ISBN 978-0-415-41387-9. 
  173. ^ “Saudi Arabia”. Weather Online. 
  174. ^ Peter Coy (16 tháng 7 năm 2014). “Online Education Targets Saudi Arabia's Labor Problem, Starting With Women”. Bloomberg Businessweek. Saudi citizens account for two-thirds of employment in the high-paying, comfortable public sector, but only one-fifth of employment in the more dynamic private sector, according to the International Monetary Fund (PDF). 
  175. ^ Economists "estimate only 30–40 percent of working-age Saudis hold jobs or actively seek work," the official employment rate of around 12 percent notwithstanding: Angus McDowall (19 tháng 1 năm 2014). “Saudi Arabia doubles private sector jobs in 30-month period”. Reuters. 
  176. ^ “World Proved Reserves of Oil and Natural Gas, Most Recent Estimates”. Eia.doe.gov. 
  177. ^ “Country Profile Study on Poverty: Saudi Arabia” (PDF). jica.go.jp. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  178. ^ “CPI Inflation Calculator”. Data.bls.gov. 
  179. ^ “Crude Oil WTI (NYMEX) Price”. nasdaq.com. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015. 
  180. ^ “Crude Oil Reserves”. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2010. 
  181. ^ Abdel Aziz Aluwaisheg (29 tháng 9 năm 2014). “When privatization goes wrong”. Arab News. 
  182. ^ House, p. 161: "Over the past decade, the government has announced one plan after another to 'Saudize' the economy, but to no avail. The foreign workforce grows, and so does unemployment among Saudis..... The previous plan called for slashing unemployment to 2.8% only to see it rise to 10.5% in 2009, the end of that plan period. Government plans in Saudi are like those in the old Soviet Union, grandiose but unmet. (Also, as in the old Soviet Union, nearly all Saudi official statistics are unreliable, so economists believe the real Saudi unemployment rate is closer to 40%)"
  183. ^ “Saudi Arabia's Four New Economic Cities”. The Metropolitan Corporate Counsel. 6 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015. 
  184. ^ “Construction boom of Saudi Arabia and the UAE”. tdctrade.com. 2 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  185. ^ Tripp, Culture Shock, 2009: p.150
  186. ^ Elhadj, Elie (tháng 5 năm 2004). “Camels Don't Fly, Deserts Don't Bloom: an Assessment of Saudi Arabia's Experiment in Desert Agriculture” (PDF). SOAS Water Group Publications. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015. 
  187. ^ “Saudi Arabia Stakes a Claim on the Nile – Water Grabbers – National Geographic”. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015. 
  188. ^ Global Water Intelligence:Becoming a world-class water utility, April 2011
  189. ^ Saudi minister rebukes religious police BBC, Monday, 4 November, 2002
  190. ^ Saudi police 'stopped' fire rescue, BBC, Friday, 15 March, 2002

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Viết tắt

Chính phủ

Tổng quan

Hướng dẫn

Tin tức

Khác

Bản mẫu:Tây nam Á