Ống thông mũi họng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Ống thông mũi họng (còn gọi là ống dẫn nước mắt, ống lệ) mang nước mắt từ túi lệ của mắt vào khoang mũi. Ống này bắt đầu trong hốc mắt giữa hàm trênxương lệ, từ đó đi xuống và lùi vào phía sau. Việc mở ống thông mũi vào vùng mũi dưới của khoang mũi được che phủ một phần bởi nếp gấp niêm mạc (van Hasner hoặc plica lacrimalis). Nước mắt dư thừa chảy qua ống thông mũi họng chảy vào phần lỗ mũi.

Đây là lý do mũi bắt đầu chảy nước khi một người khóc hoặc chảy nước mắt do dị ứng, và tại sao đôi khi người ta có thể nếm được thuốc nhỏ mắt. Vì lý do tương tự khi áp dụng một số loại thuốc nhỏ mắt, người ta thường khuyên nên đóng ống thông mũi họng bằng cách ấn nó bằng ngón tay để ngăn thuốc thoát khỏi mắt và gây tác dụng phụ không mong muốn ở nơi khác trong cơ thể.

Giống như túi lệ, ống này được lót bởi biểu mô cột phân tầng có chứa các tế bào tiết chất nhầy và được bao bọc với mô liên kết.

Ý nghĩa lâm sàng[sửa | sửa mã nguồn]

Tắc nghẽn ống thông mũi họng có thể xảy ra.[1] Điều này dẫn đến sự tràn quá mức của nước mắt được gọi là epiphora. Tắc nghẽn bẩm sinh có thể gây ra sự mở rộng nang của ống dẫn và được gọi là dacryocystocele hoặc u nang Timo. Những người có tình trạng khô mắt có thể được gắn nút ống thông mũi để bịt kín các ống dẫn nhằm hạn chế lượng chất lỏng thoát ra và giữ độ ẩm.

Trong quá trình nhiễm trùng tai, chất nhầy dư thừa có thể chảy qua ống thông mũi họng theo cách ngược lại chảy nước mắt.

Kênh chứa ống thông mũi họng được gọi là kênh mũi họng.

Ở người, ống dẫn nước mắt ở nam có xu hướng lớn hơn ống dẫn này ở nữ.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]