Ủy ban Tư pháp Cơ mật viện Anh
| Ủy ban Tư pháp Cơ mật viện Anh | |
|---|---|
| Judicial Committee of the Privy Council | |
| Thành lập | 14 tháng 8 năm 1833 |
| Vị trí | Middlesex Guildhall, Thành phố Westminster, Luân Đôn, Anh |
| Tọa độ | 51°30′1,3″B 0°07′41,3″T / 51,5°B 0,11667°T |
| Ủy quyền bởi |
|
| Website | jcpc |
Ủy ban Tư pháp Cơ mật viện Anh là cơ quan xét xử cao nhất của các Lãnh địa Vương quyền, các Lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh, một số quốc gia thuộc Khối Thịnh vượng chung và một số tổ chức ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Được thành lập vào ngày 14 tháng 8 năm 1833, Ủy ban Tư pháp Cơ mật viện tiếp quản quyền xét xử phúc thẩm của Hội đồng Quốc vương Cơ mật viện[2] và từng là tòa án tối cao của toàn bộ Đế quốc Anh, ngoại trừ chính mẫu quốc.[3]
Ủy ban Tư pháp là một ủy ban của Cơ mật viện Anh, gồm các thẩm phán cấp cao là thành viên Cơ mật viện, chủ yếu là các thẩm phán Tòa án Tối cao Vương quốc Anh và các thẩm phán cấp cao từ Khối Thịnh vượng chung. Tại những vương quốc Thịnh vượng chung cho phép kháng cáo lên Ủy ban Tư pháp, đơn kháng cáo trên danh nghĩa được đệ trình lên "Hội đồng Quốc vương Cơ mật viện" (tức là quân chủ hành động theo khuyến nghị của Cơ mật viện) và quốc vương chuyển vụ việc cho Ủy ban Tư pháp xem xét. Tại những nước cộng hòa thuộc Khối Thịnh vượng chung cho phép kháng cáo lên Ủy ban Tư pháp, đơn kháng cáo được đệ trình trực tiếp lên Ủy ban Tư pháp. Hội đồng xét xử thông thường gồm năm thành viên và theo thông lệ thì Hội đồng Quốc vương Cơ mật viện luôn chấp nhận khuyến nghị của Ủy ban Tư pháp.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Ủy ban Tư pháp Cơ mật viện bắt nguồn từ thể chế hội đồng vương thất (curia regis). Về lý thuyết, quốc vương là nguồn gốc của công lý và chịu trách nhiệm giải quyết các khiếu nại về những sai phạm phát sinh từ triều đình. Quyền tư pháp của quốc vương trong phạm vi nước Anh dần dần được chuyển giao cho Quốc hội (vốn phát triển từ hội đồng vương thất), nhưng Hội đồng Quốc vương Cơ mật viện (cũng phát triển từ hội đồng vương thất) vẫn duy trì thẩm quyền giải quyết các đơn thỉnh nguyện từ các lãnh địa ngoài Anh, chẳng hạn như Quần đảo Eo Biển, và sau này là từ các thuộc địa của Anh.
Thẩm quyền xét xử phúc thẩm được giao cho một loạt các ủy ban tồn tại trong thời gian ngắn của Cơ mật viện. Thẩm quyền xét xử phúc thẩm được giao cho Hội đồng Thương mại vào năm 1679, trước khi được giao cho một Ủy ban Phúc thẩm thường trực của Cơ mật vào năm 1696.[4] Ủy ban Phúc thẩm của Cơ mật viện là một trong những cơ quan tư pháp đầu tiên thực hiện quyền giám sát hiến pháp. Ủy ban Phúc thẩm xét xử một loạt các vụ án từ các thuộc địa Mỹ về tính hợp hiến của các đạo luật thuộc địa dựa trên các hiến chương vương thất quy định quyền hạn của chính quyền thuộc địa.
Vào đầu thế kỷ 19, sự bành trướng của Đế quốc Anh làm gia tăng đáng kể khối lượng công việc của Cơ mật viện.[4] Ủy ban Phúc thẩm phải xét xử các vụ việc phát sinh từ nhiều hệ thống pháp luật khác nhau ở các thuộc địa, chẳng hạn như luật Hindu, mà các thành viên của ủy ban không am hiểu.[4] Về mặt kỹ thuật, Ủy ban Phúc thẩm là một ủy ban toàn thể của Cơ mật viện và cần tối thiểu ba thành viên có mặt để tiến hành công việc.[4] Tất cả các thành viên Ủy ban Phúc thẩm đều có quyền biểu quyết, nhưng một thành viên Cơ mật viện tham gia xét xử không cần phải là luật sư, nên một số bên có thể đạt được phán quyết mong muốn bằng cách thuyết phục những thành viên Cơ mật viện không phải là luật sư tham gia xét xử đơn kháng cáo của họ.[4] Vì những lý do này, Ủy ban Phúc thẩm dần mất uy tín trong số luật sư, thẩm phán ở các thuộc địa.[4]
Theo sự vận động của Đại Chưởng ấn Henry Brougham, Quốc hội thông qua Luật Ủy ban Tư pháp năm 1883, thành lập Ủy ban Tư pháp thuộc Cơ mật viện như một ủy ban thường trực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm cho Hội đồng Quốc vương Cơ mật viện. Ngoài xét xử phúc thẩm đơn kháng cáo từ các thuộc địa, Ủy ban Tư pháp được giao thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với những vụ việc, vấn đề khác, chẳng hạn như bằng sáng chế, các vấn đề giáo hội và chiến lợi phẩm. Vào thời kỳ đỉnh cao, Ủy ban Tư pháp là cơ quan xét xử cao nhất của hơn một phần tư thế giới.
Vào thế kỷ 20, thẩm quyền của Ủy ban Tư pháp Cơ mật viện bị thu hẹp đáng kể khi các thuộc địa của Anh thành lập tòa án phúc thẩm riêng và giành được độc lập. Tuy nhiên, nhiều thuộc địa cũ của Anh gia duy trì quyền kháng cáo lên Cơ mật viện. Canada, Ấn Độ, Nam Phi, Úc và New Zealand bãi bỏ quyền kháng cáo lên Cơ mật viện. Tính đến năm 2025, 11 quốc gia thuộc Khối Thịnh vượng chung ngoài Vương quốc Anh duy trì quyền kháng cáo lên Cơ mật viện, bên cạnh một số vùng lãnh thổ của Anh và New Zealand. Sau khi Tòa án Tối cao Vương quốc Anh được thành lập vào năm 2009, Ủy ban Tư pháp vẫn duy trì thẩm quyền xét xử đối với một số vụ việc nội bộ ở Vương quốc Anh.
Thẩm quyền
[sửa | sửa mã nguồn]Thẩm quyền đối nội
[sửa | sửa mã nguồn]Vương quốc Anh không có một tòa án tối cao cấp quốc gia duy nhất. Trong hầu hết các trường hợp, Tòa án Tối cao Vương quốc Anh là cơ quan xét xử cao nhất. Tại Scotland, Tòa án hình sự cấp cao là cơ quan xét xử cao nhất về hình sự, trong khi Tòa án Tối cao xét xử chung thẩm về dân sự và những vụ việc phát sinh từ phân quyền tại Scotland. Ủy ban Tư pháp là cơ quan xét xử cao nhất đối với một số vụ việc và từng xử lý các vụ việc phát sinh từ phân quyền tại Scotland.
Ủy ban Tư pháp có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với những vụ việc sau:
- Đơn kháng cáo kế hoạch của Ủy ban Giáo hội (cơ quan quản lý tài sản của Giáo hội Anh).
- Đơn kháng cáo quyết định của tòa án giáo hội (Tòa án Arches của Canterbury và Tòa án Chancery của York) trong các vụ việc liên quan đến thẩm quyền không thuộc giáo lý.
- Đơn kháng cáo quyết định của Tòa án tối cao của Hiệp sĩ .
- Đơn kháng cáo quyết định của Tòa án Hàng hải của Liên minh Năm Cảng.
- Đơn kháng cáo quyết định của tòa án chiến lợi phẩm.
- Đơn kháng cáo quyết định của Ủy ban kỷ luật của Học viện Thú y Hoàng gia.[5]
- Tranh chấp theo Luật truất quyền thành viên Hạ viện năm 1975.
Ngoài ra, chính phủ có thể (thông qua quốc vương) chuyển bất kỳ vấn đề nào cho ủy ban "xem xét và báo cáo" theo Điều 4 Luật Ủy ban Tư pháp năm 1833.
Trước khi Luật Cải cách hiến pháp năm 2005 có hiệu lực, Cơ mật viện là cơ quan xét xử cao nhất về các vấn đề liên quan đến phân quyền. Từ ngày 1 tháng 10 năm 2009, thẩm quyền này được giao cho Tòa án Tối cao Vương quốc Anh.
Hiệu lực của quyết định Ủy ban Tư pháp đối với tòa án Anh
[sửa | sửa mã nguồn]Quyết định của Ủy ban Tư pháp không phải là án lệ ràng buộc các tòa án trong Vương quốc Anh, nhưng là án lệ ràng buộc tất cả các tòa án của bất cứ quốc gia nào khác thuộc Khối Thịnh vượng chung cho phép kháng cáo lên Ủy ban Tư pháp. Trường hợp án lệ của Tòa án Tối cao Vương quốc Anh, Ủy ban Tư pháp Thượng viện hoặc Tòa phúc thẩm mâu thuẫn với quyết định của Ủy ban Tư pháp về luật Anh thì tòa án Anh tuân theo án lệ của tòa án trong nước, trừ phi Ủy ban Tư pháp xác định tòa án trong nước phải tuân theo quyết định mới của Ủy ban Tư pháp.[6] Tuy nhiên, quyết định của Ủy ban Tư pháp có tính thuyết phục cực kỳ cao và thường được tòa án cấp dưới tuân theo do thành viên Ủy ban Tư pháp đồng thời là thẩm phán Tòa án Tối cao.
Thẩm quyền hải ngoại
[sửa | sửa mã nguồn]Ủy ban Tư pháp có thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án, vụ việc từ 32 khu vực sau đây (bao gồm 11 quốc gia độc lập):
Thẩm quyền bị bãi bỏ
[sửa | sửa mã nguồn]Những quốc gia sau đây đã bãi bỏ quyền kháng cáo lên Ủy ban Tư pháp Cơ mật viện:
| Quốc gia | Năm | Văn bản bãi bỏ | Tòa án tối cao mới | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| 1933 | Constitution (Amendment No. 22) Act 1933 | Tòa án Tối cao |
Quốc hiệu đổi thành Ireland theo Hiến pháp 1937. Rời khỏi Khối Thịnh vương chung theo Luật Cộng hòa Ireland vào năm 1949. Tòa án Tối cao được tái lập vào năm 1961.[8] | |
| 1949 | An Act to Amend the Supreme Court Act, S.C. 1949 (2nd sess.), c. 37, s. 3. | Tòa án Tối cao Canada | Quyền kháng cáo hình sự bị bãi bỏ vào năm 1933.[9] | |
| 1949 | Abolition of Privy Council Jurisdiction Act, 1949 | Tòa án Liên bang | Tòa án Tối cao thay thế Tòa án Liên bang vào ngày 28 tháng 1 năm 1950. | |
| 1949 | An Act to Amend the Supreme Court Act, S.C. 1949 (2nd sess.), c. 37, s. 3. | Tòa án Tối cao Canada | Right of appeal continued after Newfoundland joined Canada, until abolished by the federal government for all of Canada | |
| 1950 | Privy Council Appeals Act, 1950 | Supreme Court Appellate Division | Replaced by the Supreme Court of Appeal in 1997. | |
| 1950 | Privy Council (Abolition of Jurisdiction) Act, 1950 | Tòa án Liên bang | Tòa án Tối cao thay thế Tòa án Liên bang theo Hiến pháp 1956. | |
| 1960 | Constitution (Consequential Provisions) Act 1960 | Tòa án Tối cao | ||
| 1962 | Appellate Jurisdiction Act, 1962 | Tòa án Phúc thẩm Đông Phi | [10] | |
| 1963 | Hiến pháp 1963 | Tòa án Tối cao | ||
| 1964 | Constitution of Kenya (Amendment) Act, 1965[11] | Tòa án Phúc thẩm Đông Phi | ||
| 1965 | Constitution of Malawi (Amendment) Act, 1965 | Tòa án Phúc thẩm Tối cao Malawi | ||
| 1966 | Hiến pháp 1966 | Tòa án Phúc thẩm Đông Phi | Quyền kháng cáo hình sự, dân sự bị bãi bỏ vào năm 1964.[12] | |
| 1968 | Privy Council (Limitation of Appeals) Act 1968[13] | Tòa án Tối cao | Quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án liên bang, tòa án lãnh thổ bị bãi bỏ. | |
| 1970 | Court of Appeal and High Court Order 1970 | Tòa án Phúc thẩm Lesotho | [14][15] | |
| 1971 | Hiến pháp 1971[16] | Tòa án Tối cao | ||
| 1971 | Court of Appeal Act No. 44 of 1971[17] | Tòa án Phúc thẩm | ||
| 1972 | Constitution of Malta (Amendment) Act, 1972[18] | Tòa án Hiến pháp Malta | ||
| 1973 | Constitution (Amendment) Act 1973[19] | Tòa án Phúc thẩm Guyana | Quyền kháng cáo hình sự, dân sự bị bãi bỏ vào năm 1970.[20]
Từ năm 2005, Tòa án Công lý Caribe xét xử phúc thẩm quyết định của Tòa án Phúc thẩm. | |
| 1973 | Judicial Committee (Abolition of Appeals) Act 1973[21] | Tòa án Phúc thẩm | ||
| 1985 | Constitution (Amendment) Act 1983
Courts of Judicature (Amendment) Act 1984 |
Tòa án Tối cao | Tòa án Tối cao được gọi là Tòa án Liên bang cho đến năm 1985 và lấy lại tên cũ vào năm 1994. | |
| 1986 | Australia Act 1986 | Tòa án Tối cao | Quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án bang bị bãi bỏ. | |
| 1987 | Fiji Judicature Decree 1987[22] | Tòa án Phúc thẩm | ||
| 1994 | Judicial Committee (Repeal) Act 1994 | Tòa Phúc thẩm | ||
| 1998 | Hiến pháp 1997 | Tòa án Tối cao | A restructure of the Gambian judiciary by Yahya Jammeh, which made the Supreme Court of The Gambia the highest court instead of being below the Court of Appeal of the Gambia as was the case under the 1970 Constitution of the Gambia. | |
| 2004 | Supreme Court Act 2003 | Tòa án Tối cao | ||
| 2005 | Constitution (Amendment) Act, 2003 | Tòa án Công lý Caribe | ||
| 2010 | Belize Constitution (Seventh Amendment) Act, 2010 | |||
| 2015 | Constitution of Dominica (Amendment) Act, 2014 | |||
| 2023 | Constitution of Saint Lucia (Amendment) Act, 2023[23] |
Thành phần
[sửa | sửa mã nguồn]Phần này không có nguồn tham khảo nào. |
Ủy ban Tư pháp gồm những thành viên sau đây:
- Các thẩm phán Tòa án Tối cao Vương quốc Anh (được gọi là các thẩm phán Thượng nghị viện trước khi tòa án được thành lập vào năm 2009,).
- Những thẩm phán cấp cao khác của Vương quốc Anh
- Những thành viên Cơ mật viện là (hoặc từng là) thẩm phán Tòa Phúc thẩm Anh và Wales, thẩm phán Nội đình Tòa án dân sự tối cao Scotland hoặc thẩm phán Tòa Phúc thẩm Bắc Ireland.
- Những thẩm phán của một số tòa án cấp cao ở các nước thuộc Khối Thịnh vượng chung được bổ nhiệm làm thành viên Cơ mật viện để tham gia phiên họp của Ủy ban Tư pháp.
Các thẩm phán Tòa án Tối cao giải quyết phần lớn công việc của Ủy ban Tư pháp và được trả lương để làm việc toàn thời gian tại cả Tòa án Tối cao lẫn Ủy ban Tư pháp. Thẩm phán nước ngoài không được tham gia xét xử một số vụ việc nội bộ của Vương quốc Anh, nhưng thường sẽ tham gia xét xử vụ việc từ quốc gia của họ.
Thủ tục
[sửa | sửa mã nguồn]Hầu hết các đơn kháng cáo lên Ủy ban Tư pháp của Cơ mật viện đều được đệ trình lên "Hội đồng Quốc vương Cơ mật viện". Đơn kháng cáo từ Brunei được đệ trình lên sultan Brunei, trong khi đơn kháng cáo từ các nước cộng hòa thuộc Khối Thịnh vượng chung được đệ trình trực tiếp lên Ủy ban Tư pháp. Việc kháng cáo thường phải có sự cho phép của tòa án phúc thẩm địa phương, nhưng Ủy ban Tư pháp có quyền tùy ý chấp nhận kháng cáo.
Sau khi nghị án, hội đồng xét xử sẽ đưa ra quyết định bằng văn bản. Đối với đơn kháng cáo lên Hội đồng Quốc vương Cơ mật viện, hội đồng xét xử sẽ trình quyết định lên quốc vương xem xét. Theo thông lệ, quốc vương luôn chấp nhận quyết định của hội đồng xét xử và ban hành phán quyết thông qua một lệnh Cơ mật. Từ năm 1966, Ủy ban Tư pháp cho phép thành viên bày tỏ ý kiến bất đồng trong quyết định của Ủy ban Tư pháp.
Quyết định của Ủy ban Tư pháp không cấu thành án lệ. Ủy ban Tư pháp có thể phá tiền lệ trong trường hợp tuân theo quyết định trước đây gây bất công hoặc trái với chính sách công.[24]
Trụ sở
[sửa | sửa mã nguồn]
Trụ sở Ủy ban Tư pháp Cơ mật viện đặt tại Luân Đôn. Từ khi thành lập đến năm 2009, Ủy ban Tư pháp chủ yếu họp tại Hội trường Cơ mật viện ở phố Downing, mặc dù những tiểu ban của Ủy ban Tư pháp thường xuyên họp ở những nơi khác do khối lượng công việc của Ủy ban Tư pháp. Ngày 1 tháng 10 năm 2009, Ủy ban Tư pháp chuyển đến tòa nhà Middlesex Guildhall. Tòa nhà được tân trang lại vào năm 2007 để làm trụ sở cho Ủy ban Tư pháp và Tòa án Tối cao Vương quốc Anh. Cơ mật viện hợp tại Phòng 3 của tòa nhà.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "The Judicial Committee of the Privy Council". www.jcpc.uk. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Judicial Committee Act 1833". www.legislation.gov.uk (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Practice direction 1". The Judicial Committee of the Privy Council. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2024.
- 1 2 3 4 5 6 Howell, P.A. (2009). The Judicial Committee of the Privy Council: 1833–1876 Its Origins, Structure and Development. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 7–13. ISBN 9780521085595. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2020.
- 1 2 3 "Role of the JCPC". Judicial Committee of the Privy Council. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2024.
- ↑ "Judicial Committee Act 1833".
- ↑ "The Brunei (Appeals) Order 1989". Legislation.gov.uk. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2011.
- ↑
- "Courts (Establishment and Constitution) Act 1961, s.1". electronic Irish Statute Book (eISB) (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 8 năm 1961.
- "S.I. No. 217/1961 – Courts (Establishment and Constitution) Act, 1961 (Commencement) Order, 1961". electronic Irish Statute Book (eISB) (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 9 năm 1961.
- ↑ An Act to amend the Criminal Code, S.C. 1932–33, c. 53, s. 17.
- ↑ Feingold, Ellen R. (2018). Colonial Justice and Decolonization in the High Court of Tanzania, 1920–1971. Palgrave MacMillan. tr. 146, 161. ISBN 978-3-319-69690-4.
- ↑ "Constitution of Kenya (Amendment) Act, 1965" (PDF). kenyalaw.org. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
- ↑ Uganda (1964). "Appellate Jurisdiction (Amendment) Act, 1964". 1964 Statutes and Subsidiary Legislation.
- ↑ "Privy Council (Limitation of Appeals) Act 1968". Federal Register of Legislation.
- ↑ Poulter, Sebastian (tháng 11 năm 1977). "No.8: Dual Marriages in Lesotho" (PDF). National University of Lesotho, Faculty of Social Sciences, Staff Seminar Papers: 3. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2018.
- ↑ Pain, JH (tháng 7 năm 1978). "The reception of English and Roman-Dutch law in Africa with reference to Botswana, Lesotho and Swaziland". The Comparative and International Law Journal of Southern Africa. 11: 166.
- ↑ "Sierra Leone – Government and society". Britannica. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2021.
- ↑ "Court of Appeal Act (No. 44 of 1971) –Sect 18". CommonLII. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
- ↑ Busuttil, Edwin. "Malta" (PDF). International Encyclopedia of Comparative Law Online. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2021.
- ↑ "Constitution (Amendment) Bill 1973". Parliament of Guyana. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
- ↑ "Judicial Committee of The Privy Council (Termination of Appeals) Act 1970". Parliament of the Co-operative Republic of Guyana. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Judicial Committee (Abolition of Appeals) Act, 1973" (PDF). botswanalaws.com. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2020.
- ↑ "Fiji Judicature Decree 1987". Paclii. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "In Saint Lucia, parliament passes constitutional amendment to replace Privy Council with Caribbean Court of Justice as final court of appeal". ConstitutionNet. ngày 2 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Gibson v. United States of America (The Bahamas) [2007] UKPC 52 (23 July 2007)".