3D computer graphics

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

3D đồ họa máy tính hay máy tính ba chiều đồ họa (trái ngược với 2D đồ họa máy tính), được họa đó sử dụng một ba chiều đại diện của dữ liệu hình học (thường Descartes) đó là lưu trữ trong máy tính cho các mục đích thực hiện tính toán và vẽ hình ảnh 2D. Hình ảnh như vậy có thể được lưu trữ để xem sau hoặc hiển thị trong thời gian thực.

3D đồ họa máy tính dựa trên của thuật toán là 2D máy tính véc tơ đồ họa trong khung dây người mẫu và 2D máy tính, đồ họa mành trong final trả lại hiển thị. Trong máy tính, đồ họa phần mềm, sự khác biệt giữa 2D và 3D là thỉnh thoảng mờ; 2D ứng dụng có thể sử dụng 3D kỹ thuật để đạt được hiệu ứng như ánh sáng, và 3D có thể sử dụng 2D vẽ kỹ thuật.

Đồ họa máy tính 3D này thường được gọi là 3D mô hình. Ngoài việc trả lại đồ họa, những người mẫu được chứa trong những họa dữ liệu, tập tin. Tuy nhiên, có sự khác biệt: một mô hình 3D là toán học đại diện của bất kỳ ba chiều đối tượng. Một người mẫu không phải là một kỹ thuật đồ họa cho đến khi nó được hiển thị. Một mô hình có thể được hiển thị giác như một hình ảnh hai chiều qua một quá trình được gọi là 3D hoặc sử dụng tại phi đồ họa mô phỏng máy tính và tính toán. Với in 3D, mô hình 3D có tương tự trả lại vào một 3D đại diện vật lý của các người mẫu, có giới hạn để làm chính xác những vẽ có thể phù hợp với mô hình ảo.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

William Sử đã được ghi với thế giới hạn máy tính, đồ họa vào năm 1961 để mô tả công việc của mình tại Boeing. Một trong những lần đầu tiên, hiển thị của máy tính được Futureworld (năm 1976), trong đó bao gồm một hoạt hình của một khuôn mặt con người và một bàn tay đó đã ban đầu xuất hiện trong những năm 1972 ngắn thử nghiệm Máy tính Động Tay, được tạo ra bởi Đại học của Utah sinh viên Edwin Catmull và Fred Parke.

3D máy tính, đồ họa phần mềm bắt đầu xuất hiện trong nhà máy ở cuối những năm 1970. Đầu tiên được biết đến ví dụ là 3D, Nghệ thuật, đồ Họa, một bộ đồ họa 3D máy tính hiệu ứng, được viết bởi Kazumasa Mitazawa và phát hành vào tháng sáu năm 1978 cho các quả Táo II.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

3D máy tính, đồ họa tạo ra rơi vào ba cơ bản giai đoạn:

  1. Mô hình 3D – quá trình hình thành một mô hình máy tính của một đối tượng hình dạng
  2. Và bố trí hoạt – các vị trí và chuyển động của đối tượng trong vòng một cảnh
  3. 3D – máy tính toán rằng, dựa trên ánh sáng vị trí, bề mặt loại, và những phẩm chất khác, tạo ra các hình ảnh

Mô hình[sửa | sửa mã nguồn]

Các người mẫu mô tả quá trình hình thành hình dạng của một đối tượng. Hai nguồn phổ biến nhất của mô hình 3D là những người mà một nghệ sĩ hay kỹ sư bắt nguồn từ trên máy tính, với một số loại công cụ mô hình 3D, và các mô hình quét vào một cái máy tính từ thế giới thực vật. Mô hình cũng có thể sản xuất được, nhưng hoặc qua vật chất mô phỏng. Về cơ bản, một mô hình 3D được hình thành từ điểm gọi là đỉnh (hoặc các đỉnh) xác định hình và mẫu đa giác. Một giác là một khu vực được hình thành từ ít nhất ba đỉnh (một tam giác). Một giác của n điểm là một n-gòn.[cần dẫn nguồn] Tổng toàn vẹn của người mẫu, và nó phù hợp để dùng trong phim hoạt hình phụ thuộc vào cấu trúc của các đa giác.

Vật Liệu và kết cấu[sửa | sửa mã nguồn]

Mô hình[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]