A-thuyết-thị
| Trưởng lão A-thuyết-thị Aśvajit Assaji | |
|---|---|
Phật thuyết pháp cho A-thuyết-thị và bốn đồng tu | |
| Tôn giáo | Phật giáo |
| Hoạt động tôn giáo | |
| Sư phụ | Phật Thích-ca Mâu-ni |
| Một phần trong loạt bài về |
| Phật giáo |
|---|
|
|
A-thuyết-thị (tiếng Phạn: Aśvajit; tiếng Pali: Assaji, tiếng Trung Quốc: 阿說示) là một trong năm A-la-hán đầu tiên của Phật Thích-ca Mâu-ni. Ông được biết đến vì đã cảm hóa Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, hai đệ tử nam thượng thủ của Phật, song đôi với các Tỳ kheo ni Khemā và Uppalavaṇṇā, là hai đệ tử nữ thượng thủ. Ông sống tại vùng nay là Uttar Pradesh và Bihar ở miền bắc Ấn Độ, vào thế kỷ 6 TCN.
Bối cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]A-thuyết-thị sinh trong một gia đình học giả. Cha ông là một trong tám học giả được Tịnh Phạn—quân chủ của vương quốc Thích-ca—mời đến Ca-tỳ-la-vệ để xem tướng cho con trai ông là Tất-đạt-đa. Cha của A-thuyết-thị và sáu người khác dự đoán rằng Tất-đạt-đa sẽ trở thành một lãnh tụ tôn giáo vĩ đại hoặc một quân vương kiệt xuất. A-nhã Kiều-trần-như, người trẻ nhất, là người duy nhất quả quyết rằng Tất-đạt-đa sẽ thành Phật. Do đó, khi Tất-đạt-đa xuất gia, A-nhã Kiều-trần-như và A-thuyết-thị, cũng như Bhaddiya, Vappa và Mahanama, ba người con của ba vị học giả, đã theo Tất-đạt-đa sống đời khổ hạnh. Năm người cùng tu khổ hạnh ở Uruvela. Khi Tất-đạt-đa từ bỏ lối tu này để theo Trung đạo, họ rời đi trong thất vọng, cho rằng ông đã buông thả.[1][2][3]
Chứng A-la-hán
[sửa | sửa mã nguồn]Sau khi giác ngộ, Phật đến gặp họ tại Sarnath, nơi họ đã lui về sau khi tách nhóm. Phật thuyết Tứ diệu đế và Kinh Chuyển Pháp Luân, và rồi nhóm năm người có A-thuyết-thị trở thành năm Tỳ kheo đầu tiên của Tăng đoàn. A-thuyết-thị là người cuối cùng lĩnh hội giáo pháp, nên Phật phải giảng giải thêm cho ông và Mahanama trong khi ba Tỳ kheo kia đi khất thực. Ông là người cuối cùng chứng đắc Tu-đà-hoàn, giai đoạn đầu của quả vị A-la-hán. Ông chứng A-la-hán, cùng với những người còn lại, khi nghe Phật thuyết Kinh Vô ngã tướng.[1]
Cải hóa Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên
[sửa | sửa mã nguồn]A-thuyết-thị đang khất thực ở Vương Xá thì Xá-lợi-phất, trong hành trình tìm giác ngộ, trông thấy ông. Ấn tượng với phong thái của A-thuyết-thị, Xá-lợi-phất đi theo cho đến khi ông khất thực xong. Khi A-thuyết-thị ngồi xuống, Xá-lợi-phất hỏi về bậc thầy và giáo pháp ông theo. Lúc đầu, A-thuyết-thị ngần ngại thuyết pháp, nói rằng mình chỉ mới xuất gia còn còn ít kinh nghiệm, nhưng đã thuận theo lời thỉnh cầu của Xá-lợi-phất. A-thuyết-thị nói một bài kệ ngắn:
| “ | Vạn vật từ duyên khởi; Bậc Giác Ngộ từng thuyết; Và rồi từ duyên diệt; Đại Đạo Sư đã truyền. |
” |
Xá-lợi-phất liễu tri, chứng quả Tu-đà-hoàn sau khi nghe giáo pháp hàm ý nói đến Tứ diệu đế. Ông liền đi báo cho Mục-kiền-liên, bạn từ thuở nhỏ, rằng mình đã thành công trên con đường tìm cầu giác ngộ như hai người đã hẹn nhau trước đó. Cả hai sau đó tìm đến tinh xá Trúc Lâm gặp Phật Thích-ca Mâu-ni xin xuất gia làm Tỳ kheo trong Tăng đoàn, và rồi trở thành hai đệ tử thượng thủ của Phật.[4] Bài kệ về sau được đặt tên là Kệ Duyên sinh.
A-thuyết-thị được Xá-lợi-phất đặc biệt kính trọng; ở bất kỳ phương nào A-thuyết-thị cư trú, Xá-lợi-phất đều chắp tay cung kính hướng về đó, và khi nằm nghỉ cũng quay đầu về hướng ấy.[1]
Một ngày nọ, khi A-thuyết-thị đi qua Tỳ-xá-ly để khất thực, Ni-kiền-tử Saccaka, người đang tìm các sa môn để tranh luận, đã chất vấn ông về Pháp của Phật vì A-thuyết-thị là một đệ tử nổi bật (ñātaññatara-sāvaka). A-thuyết-thị tóm lược giáo lý nêu trong Kinh Vô ngã tướng. Tự tin có thể bác bỏ những quan điểm này, Saccaka dẫn theo một đoàn đông thuộc bộ tộc Licchavi đến gặp Phật và nêu câu hỏi. Nhân đó, Phật thuyết Tiểu Kinh Saccaka (Cula-Saccaka Sutta).[1]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Chú giải
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b c d "Assaji". Buddhist Dictionary of Pali Proper Names. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2007.
- ^ "Pancavaggiya". Buddhist Dictionary of Pali Proper Names. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2007.
- ^ "Anna Kondanna". Buddhist Dictionary of Pali Proper Names. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2007.
- ^ "The Life of Sariputta". Buddhist Publication Society. ngày 23 tháng 9 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2007.