Agnieszka Radwańska

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Agnieszka Radwańska
Agnieszka Radwanska (18846757799).jpg
Quốc gia  Ba Lan
Nơi cư trú Kraków, Ba Lan
Ngày sinh 6 tháng 3, 1989 (26 tuổi)
Nơi sinh Kraków, Ba Lan
Chiều cao 1,72 m (5 ft 8 in)
Cân nặng 56 kg (123 lb)
Năm chơi chuyên nghiệp 2005
Tay thuận Tay phải, revers hai tay
Tiền thưởng 18,600,143 USD
Đánh đơn
Thắng - Thua 478–210
Vô địch 14 WTA, 2 ITF
Thứ hạng cao nhất No. 2 (9 tháng 7, 2012)
Thứ hạng hiện tại No. 7 (14 tháng 7, 2015)
Thành tích tốt nhất tại Gland Slam
Úc Mở rộng SF (2014)
Pháp mở rộng QF (2013)
Wimbledon F (2012)
Mỹ Mở rộng 4R (2007, 2008, 2012, 2013)
Championships SF (2012, 2014)
Thế vận hội Vòng 2 (2008)
Đánh đôi
Thắng - Thua 113–87
Vô địch 2 WTA, 2 ITF titles
Thứ hạng cao nhất No. 16 (10 tháng 10 năm 2011)
Thứ hạng hiện tại No. 207 (27 tháng 5 năm 2013)
Thành tích tốt nhất tại Gland Slam
Úc Mở rộng SF (2010)
Pháp mở rộng QF (2009, 2010)
Wimbledon 3R (2007, 2011, 2012)
Mỹ Mở rộng SF (2011)

Agnieszka "Aga" Radwańska là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Ba Lan. Radwańska đạt thứ hạng cao nhất là số 2 thế giới vào tháng 7 năm 2012. Được biết đến là một tay vợt biết cách xây dựng chiến thuật thi đấu cũng như lối chơi thông minh, phòng ngự và phản công tốt ở cuối sân,[1] Radwanska đã có được 14 danh hiệu đơn trong sự nghiệp.

Radwanska đã từng tiến sâu vào 1 giải Grand Slam đó là tại giải Wimbledon 2012 và đã để thua Serena Williams. Ngoài ra còn vào được bán kết của Úc Mở rộng và tứ kết Roland Garros.

Ngoài ra, cô còn chơi ở nội dung đôi, từng đánh cặp với Maria KirilenkoDaniela Hantuchová, nhưng sau năm 2010, Radwanska tập trung cho nội dung đơn và ít khi tham gia đánh đôi.

Radwanska được bình chọn là tay vợt nữ được yêu thích nhất của WTA trong bốn năm liên tiếp (2011-2014).[2] Với thành tích của mình trong thể thao, năm 2013 cô đã được Tổng thống Ba Lan Bronisław Komorowski trao tặng huy hiệu chữ thập vàng.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra tại Kraków, Radwanska bắt đầu tập chơi tennis từ năm 4 tuổi. Khi đó, cha cô đã giúp cô làm quen với tennis cũng như các môn thể thao khác. Em gái cô là Urszula Radwanska cũng là 1 vận động viên quần vợt. Cô hâm mộ Martina HingisPete Sampras và lấy đó làm nguồn cảm hứng chơi tennis cho mình. Ngoài chơi tennis, Radwanska còn theo học ngành du lịch tại trường đại học tại Kraków.[3][4] Cô cũng là một tín đồ Công giáo La Mã, và từng tham gia vào chiến dịch "Nie wstydzę się Jezusa!" (Tôi chẳng lấy làm hổ thẹn vì đấng Kitô!) của Công giáo Ba Lan. Trong chiến dịch này, cô phát hành một video kêu gọi người hâm mộ "đừng hổ thẹn vì đức tin của mình" và dùng những quả bóng tennis để xếp thành dòng chữ "JEZUS" ("JESUS").[5]

Theo Forbes, vào năm 2012 cô là vận động viên nữ có thu nhập cao thứ 9 trên thế giới.[6]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2005-2006: Những năm đầu trong sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Radwanska giành được danh hiệu tại giải trẻ Wimbledon 2005, đánh bại Tamira Paszek và tiếp tục có được danh hiệu tại giải trẻ Roland Garros 2006 sau chiến thắng trước Anastasia Pavlyuchenkova. Cô tham dự giải đấu WTA đầu tiên của mình là tại J & S Cup vào năm 2006 (sau này là Warsaw Open) ở Warsaw, đánh bại Anastasia Myskina trong trận đấu ra quân đầu tiên của mình và để thua trước Elena Dementieva ở trận tứ kết trong vòng 3 set đấu.[7]

Tại Wimbledon năm 2006, cô thua Kim Clijsters tại vòng 4, và sau đó thua tại vòng 2 của U.S Open. Tại giải đấu ở Luxembourg, Radwanska đã vượt qua cựu số 1 thế giới Venus Williams ở vòng 2 và Elena Dementieva tại tứ kết nhưng thua Francesca Schiavone ở bán kết.[7]

2007-2008: Danh hiệu WTA đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Radwanska tham dự Úc Mở rộng 2007 nhưng cô thua Ana Ivanovic tại vòng 2. Tại Sony Ericsson Open năm 2007, cô đã đánh bại thần tượng của mình là Hingis[4] tại vòng 3. Nhưng cô phải rời khỏi giải đấu vì thua Tathiana Garbin tại vòng 4.[8] Tháng 8 năm 2007, Radwanska có thêm chức vô địch WTA tại Nordea Nordic Light sau khi thắng Vera Dushevina trong trận chung kết. Tại Mỹ Mở rộng 2007, Radwanska đã đánh bại tay vợt đương kim vô địch là Maria Sharapova tại vòng 3 nhưng sau đó để thua trước Shahar Pe'er ở vòng 4. Tại Úc Mở rộng 2008, cô đã lọt đến tứ kết sau khi thua Daniela Hantuchova. Tại Pháp Mở rộng, Radwanska thua Jelena Jankovic tại vòng 4. Tại Wimbledon, cô thua. Ở Mỹ Mở rộng, cô cũng thua tại vòng 4 trước Venus Williams. Tại WTA Championships, Radwanska được chọn để thay thế cho Ana Ivanovic bị chấn thương, có trận thắng sau 2 set trước Svetlana Kuznetsova. Radwanska kết thúc năm ở vị trí thứ 10. Tại Olympics Bắc Kinh, Radwanska đại diện cho nước Ba Lan để chơi tại đây, thua trước Schiavone tại vòng 2.

2009-2010[sửa | sửa mã nguồn]

Radwanska tại US Open 2009.

Tại giải Úc mở rộng, Radwańska bị loại tại vòng 1 sau khi thua Kateryna Bondarenko. Tại Pháp Mở rộng, cô thất bại tại vòng 4, thua Svetlana Kuznetsova. Cô và em gái Urszula tham dự nội dung đôi Pháp Mở rộng và cũng lọt đến tứ kết. Tại Wimbledon, Radwanska thua Venus Williams tại tứ kết. Radwańska có trận bán kết đôi đầu tiên là tại Tokyo, thua trước Maria Sharapova. Vào đến chung kết giải tại Trung Quốc, thua Kuznetsova. Agnieszka Radwanska tham dự nội dung đánh đôi tại Úc Mở rộng cùng với Maria Kirilenko, lọt đến bán kết, thua bộ đôi hạt giống số 1 và cũng là bộ đôi số 1 thế giới vào thời điểm đó Cara BlackLiezel Huber. Tại Pháp Mở rộng, cô cũng đánh đôi với Kirilenko, bộ đôi này cũng lọt đến tứ kết và thua SerenaVenus Williams. Tại Wimbledon, Radwańska lọt đến vòng 4, thua Li Na, người mà cô cũng từng đánh bại trong giai đoạn cùng kì năm trước. Do chấn thương, Radwanska phải kết thúc mùa giải 2010 sớm, sau trận thua Angelique Kerber tại giải China Open[9] và kết thúc năm ở ngoài top 10.

2011[sửa | sửa mã nguồn]

Radwanska tại Toray Pan Pacific Open 2011

Agnieszka lọt đến tứ kết Úc Mở rộng, nơi cô thua trước nhà vô địch năm đó Kim Clijsters với tỉ số 3–6 6–74–7. Tại Pháp Mở rộng, cô lại một lần nữa dừng bước ở vòng 4 sau trận thua trước Maria Sharapova. Tại Wimbledon, thua Petra Cetkovska của Cộng hòa Séc tại vòng 2. Ở US Open, cô thua Angelique Kerber tại vòng 2 sau khi đánh bại cô em Urszula Radwańska của mình ở vòng 1. Radwanska có danh hiệu WTA tại Tokyo sau chiến thắng trước Vera Zvonareva. Tại China Open, Radwanska có được chức vô địch sau khi thắng Andrea Petkovic 7–5 0–6 6–4 trong trận chung kết. Radwanska giành được 1 suất tham dự WTA Championships với cương vị hạt giống số 8, dừng bước tại vòng bảng. Agnieszka Radwanska kết thúc năm 2011 ở vị trí số 8 thế giới.

2012: Lần đầu vào chung kết Grand Slam, vị trí số 2 thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Radwańska tại Olympics 2012

Năm 2012 được coi như 1 bước ngoặc trong sự nghiệp cua Agnieszka Radwanska. Tại Úc Mở rộng, Radwanska lần thứ 3 phải dừng bước tại tứ kết, thua Victoria Azarenka sau 3 set. Radwanska có danh hiệu WTA tại Dubai sau chiến thắng trước Julia Goerges và danh hiệu tại Miami sau chiến thắng bất ngờ 7–5 6–4 trước Maria Sharapova. Trên mặt sân đất nện, Radwanska có danh hiệu WTA tại Brussels, (Bỉ) sau chiến thắng trước Simona Halep 7–5 6–0 ở trận chung kết. Tại Pháp Mở rộng, sau khi đánh bại Venus Williams tại vòng 2, Radwanska phải dừng bước tại vòng 3 sau trận thua trước Kuznetsova. Tại Wimbledon, Radwanska lần đầu tiên có mặt tại trận chung kết của giải và cũng là trận chung kết Grand Slam đầu tiên trong sự nghiệp, thua trước Serena Williams 1–6 7–5 2–6 trong trận chung kết. Tại Olympics London 2012, Radwanska đại diện cho nước Ba Lan tham dự với cương vị hạt giống số 2 nhưng cô lại thua 1 cách bất ngờ trước Julia Goerges 5–7 7–65–7 6–4 tại vòng một.[10] Tại US Open, Radwanska được xếp hạt giống số 2 nhưng lại thua trước hạt giống số 20 Roberta Vinci tại vòng 4 khiến cô rơi xuống vị trí số 4 thế giới. Tại WTA Championships, Radwanska lọt đến trận bán kết, thua Serena Williams 6–2 6–1. Radwanska kết thúc mùa giải 2012 ở vị trí số 4.

2013[sửa | sửa mã nguồn]

Radwańska đánh bóng qua 2 chân tại Southern California Open 2013.

Radwanska có 2 danh hiệu WTA liên tiếp tại Auckland sau chiến thắng trước Yanina Wickmayer 6–4 6–4 và tại Sydney, thắng Dominika Cibulkova 6–0 6–0 trong trận chung kết. Tại Úc Mở rộng, Radwanska có lần thứ 3 liên tiếp thất bại tại trận tứ kết, năm nay người đánh bại cô là Li Na, á quân năm đó. Tại Pháp Mở rộng, Radwanska lần đầu tiên vào tứ kết nhưng cô lại thua á quân năm 2012 Sara Errani 4–6 6–76–8. Tại Wimbledon, cô thua Sabine Lisicki trong trận bán kết 4–6 6–2 7–9. Khi Azarenka, Sharapova và cả Serena Williams chơi không tốt tại giải, thì Radwanska cũng không bắt đuọc cơ hội để có chức vô địch grand slam đầu tiên trong sự nghiệp. Radwanska cũng có những trận đấu chuẩn bị khá tốt trước thềm US Open. Đi đến bán kết Rogers Cup, thua Serena Williams 6–73–7 4–6. Radwanska bỏ cuộc tại tứ kết Cincinnati trong trận đấu gặp Li Na. Agnieszka Radwanska tiến đến Mỹ Mở rộng khi được xếp hạt giống số 3 (sau khi Maria Sharapova rút lui do chấn thương) nhưng cô lại 1 lần nữa không thoát khỏi ngưỡng cửa vòng 4 để lọt vào tứ kết, lần này, Radwanska thua tay vợt Nga Ekaterina Makarova 4–6 4–6. Sau Mỹ Mở rộng, Radwanska có được danh hiệu WTA thứ 3 trong mùa giải, giải đấu tại Seoul, Hàn Quốc sau chiến thắng 6–76–8 6–3 6–4 trước Anastasia Pavlyuchenkova. Cô còn tham dự China Open – giải đấu mà trước đây cô đã từng vô địch, dừng bước tại bán kết (thua Serena Williams 6–2 6–2). Radwanska tham dự WTA Championships với 1 tâm lý có vẻ không ổn định khiến cô thua cả 3 trận vòng bảng, thua Petra Kvitova 4–6 4–6, Serena Willams 2–6 4–6 và thua Angelique Kerber 2–6 2–6, điều đó khiến cô rơi khỏi top 4, kết thúc năm ở vị trí số 5 thế giới.

2014-2015[sửa | sửa mã nguồn]

Radwańska tại Aegon International, Eastbourne, tháng 6, 2015.

Radwanska mở đầu năm 2014 khi cùng đồng đội là Grzegorz Panfil đại diện cho Ba Lan tham dự Hopman Cup, được xếp hạt giống số 1 và vào được trận chung kết. Tại chung kết gặp Pháp, cô đánh bại được Alize Cornet nhưng thua tại trận đôi nam nữ trước đội Pháp.[11] Tại Úc Mở rộng, Radwanska lần đầu tiên vào bán kết sau 5 năm thất bại tại tứ kết khi bất ngờ đánh bại nhà đương kim vô địch Victoria Azarenka 6–1 5–7 6–2 tại tứ kết, cô đã tạo nên 1 kết quả mà ít ai nghĩ tới. Tại Roger Cup (Montreal, Canada), Radwanska dành được chức vô địch khi đánh bại Venus Williams trong trận chung kết. Tại WTA Final, cô để thua trước Maria SharapovaCaroline Wozniacki nhưng đã giành chiến thắng trước Petra Kvitová để lọt vào bán kết rồi dừng bước trước Simona Halep. Radwanska kết thúc năm 2014 với vị trí thứ 6.

Radwanska khởi đầu năm 2015 cùng đồng đội Jerzy Janowicz đại diện cho Ba Lan tham dự Hopman Cup, tại chung kết cô giành chiến thắng trước Serena Williams[12] và trong trận đánh đôi để giành chức vô địch cho đội Ba Lan.

Phong cách thi đấu, trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Radwańska hạ trọng tâm, trả bóng

Radwanska là một tay vợt có chiến thuật thi đấu, khả năng phòng ngự và phản công tốt ở cuối sân.[13] Cô có khả năng di chuyển linh hoạt, chơi bóng bền, xu hướng dự đoán hành vi của đối thủ[14][15]

Một trong những điểm yếu quan trọng của Radwanska là những cú giao bóng và trả giao bóng. Những cú phát bóng của cô có tốc độ khá chậm và dễ bị phản công. Các cú đánh của cô cũng khá thiếu lực.[16][17] Radwanska từng nói: "Tôi không nghĩ mình có thể phát bóng với tốc độ 200 km/h vì giới hạn cơ thể của mình", "Tôi phải làm điều gì khác. Tôi sinh ra để chơi theo kiểu này.[18]. Radwanska chỉ thở mạnh ra khi cô đánh bóng, thay vì la hét lớn như nhiều đồng nghiệp của cô. Cô không nhồi bóng quá bốn lần trước khi phát bóng.

Radwanska sử dụng vợt Babolat Pure Drive Lite, và trang phục thi đấu của Lotto. Ngoài ra cô cũng có hợp tác với các hãng Lexus, Rado, Amica, Cheesecake Factory, Vanquis Bank, ..., logo của các hãng này xuất hiện trên trang phục thi đấu của cô tùy theo mùa giải.

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Radwanska bắt đầu sự nghiệp quần vợt dưới sự hướng dẫn của cha cô - Robert Radwański.[19]

Trong năm 2011, Radwanska bắt đầu làm việc với huấn luyện viên Tomasz Wiktorowski.

Cuối năm 2014, Radwanska mời huyền thoại quần vợt nữ Martina Navratilova vào đội ngũ huấn luyện của mình. Trong tháng 4 năm 2015, họ chia tay sau khi Navratilova nói rằng cô quá bận rộn và không thể tiếp tục công việc.[20]

Thành tích tại các giải Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

W = vô địch

F = á quân

SF = bán kết

QF = tứ kết

1R, 2R, 3R, 4R = vòng 1, vòng 2, vòng 3, vòng 4

Nội dung đánh đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tournament 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 SR W–L
Grand Slam Tournaments
Australian Open A 2R QF 1R 3R QF QF QF SF 4R 0 / 9 27–9
French Open A 1R 4R 4R 2R 4R 3R QF 3R 1R 0 / 9 18–9
Wimbledon 4R 3R QF QF 4R 2R F SF 4R SF 0 / 10 36–10
US Open 2R 4R 4R 2R 2R 2R 4R 4R 2R 0 / 9 17–9
Thắng-Thua 4–2 6–4 14–4 8–4 7–4 9–4 15–4 16–4 11–4 8–3 0 / 37 98–37

Chung kết: 1 (Á quân)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ tại chung kết Tỉ số
2012 Wimbledon Championships Flag of the United States.svg Serena Williams 6–1 5–7 6–2

Nội dung đánh đôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tournament 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 SR W–L
Grand Slam Tournaments
Australian Open 1R 1R 2R SF 3R 3R A A A 0 / 6 9–6
French Open 3R 1R QF QF 1R 2R A A A 0 / 6 9–6
Wimbledon 3R 2R 1R 2R 3R 3R A A A 0 / 6 8–6
US Open 2R 1R 1R 3R SF A A A 0 / 5 7–5
Thắng-Thua 5–4 1–4 4–4 10–4 8–4 5–3 0–0 0–0 0–0 0 / 23 33–23

Các trận chung kết WTA Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh đơn: 21 (14 vô địch, 7 á quân)[sửa | sửa mã nguồn]

Winner — Legend (pre/post 2010)
Grand Slam tournaments (0–1)
WTA Tour Championships (0–0)
Tier I / Premier Mandatory & Premier 5 (4–3)
Tier II / Premier (5–3)
Tier III, IV & V / International (5–0)
Số danh hiệu trên các mặt sân
Cứng (11–5)
Cỏ (1–2)
Đất nện (2–0)
Thảm (0–0)
Kết quả No. Ngày Giải đấu Mặt sân Đối thủ Tỉ số
Vô địch 1. 5 tháng 8, 2007 Nordea Nordic Light Open, Stockholm, Sweden Cứng Nga Vera Dushevina 6–1, 6–1
Vô địch 2. 10 tháng 2, 2008 Pattaya Women's Open, Pattaya, Thailand Cứng Hoa Kỳ Jill Craybas 6–2, 1–6, 7–6(7–4)
Vô địch 3. 19 tháng 5, 2008 İstanbul Cup, Istanbul, Turkey Đất nện Nga Elena Dementieva 6–3, 6–2
Vô địch 4. 21 tháng 6, 2008 International Women's Open, Eastbourne, United Kingdom Cỏ Nga Nadia Petrova 6–4, 6–7(11–13), 6–4
Á quân 1. 11 tháng 10, 2009 China Open, Beijing, China Cứng Nga Svetlana Kuznetsova 2–6, 4–6
Á quân 2. 8 tháng 8, 2010 Mercury Insurance Open, San Diego, United States Cứng Nga Svetlana Kuznetsova 4–6, 7–6(9–7), 3–6
Vô địch 5. 7 tháng 8, 2011 Mercury Insurance Open, San Diego, United States Cứng Nga Vera Zvonareva 6–3, 6–4
Vô địch 6. 1 tháng 10, 2011 Toray Pan Pacific Open, Tokyo, Japan Cứng Nga Vera Zvonareva 6–3, 6–2
Vô địch 7. 9 tháng 10, 2011 China Open, Beijing, China Cứng Đức Andrea Petkovic 7–5, 0–6, 6–4
Vô địch 8. 25 tháng 2, 2012 Dubai Tennis Championships, Dubai, United Arab Emirates Cứng Đức Julia Görges 7–5, 6–4
Vô địch 9. 30 tháng 3, 2012 Sony Ericsson Open, Miami, United States Cứng Nga Maria Sharapova 7–5, 6–4
Vô địch 10. 26 tháng 5, 2012 Brussels Open, Brussels, Belgium Đất nện România Simona Halep 7–5, 6–0
Á quân 3. 7 tháng 7, 2012 Wimbledon Championships, London, United Kingdom Cỏ Hoa Kỳ Serena Williams 1–6, 7–5, 2–6
Á quân 4. 29 tháng 9, 2012 Toray Pan Pacific Open, Tokyo, Japan Cứng Nga Nadia Petrova 0–6, 6–1, 3–6
Vô địch 11. 6 tháng 1, 2013 ASB Classic, Auckland, New Zealand Cứng Bỉ Yanina Wickmayer 6–4, 6–4
Vô địch 12. 11 tháng 1, 2013 Apia International Sydney, Sydney, Australia Cứng Slovakia Dominika Cibulková 6–0, 6–0
Á quân 5. 29 tháng 7, 2013 Bank of the West Classic, Stanford, United States Cứng Slovakia Dominika Cibulková 6–3, 4–6, 4–6
Vô địch 13. 22 tháng 9, 2013 KDB Korea Open, Seoul, South Korea Cứng Nga Anastasia Pavlyuchenkova 6–7(6–8), 6–3, 6–4
Á quân 6. 16 tháng 3, 2014 BNP Paribas Open, Indian Wells, United States Cứng Ý Flavia Pennetta 2–6, 1–6
Vô địch 14. 10 tháng 8, 2014 Rogers Cup, Montreal, Canada Cứng Hoa Kỳ Venus Williams 6–4, 6–2
Á quân 7. 27 tháng 6, 2015 Aegon International, Eastbourne, United Kingdom Cỏ Thụy Sĩ Belinda Bencic 4–6, 6–4, 0–6

Đánh đôi: 4 (2 vô địch, 2 á quân)[sửa | sửa mã nguồn]

Winner — Legend (pre/post 2010)
Grand Slam tournaments (0–0)
WTA Tour Championships (0–0)
Tier I / Premier Mandatory & Premier 5 (1–1)
Tier II / Premier (0–1)
Tier III, IV & V / International (1–0)
Số danh hiệu trên các mặt sân
Cứng (1–2)
Cỏ (0–0)
Đất nện (1–0)
Thảm (0–0)
Kết quả No. Ngày Giải đấu Mặt sân Đồng đội Đối thủ Tỉ số
Vô địch 1. 21 tháng 5, 2007 İstanbul Cup, Istanbul, Turkey Đất nện Ba Lan Urszula Radwańska Trung Hoa Đài Bắc Chan Yung-jan
Ấn Độ Sania Mirza
6–1, 6–3
Á quân 1. 22 tháng 2, 2009 Dubai Tennis Championships, Dubai, United Arab Emirates Cứng Nga Maria Kirilenko Zimbabwe Cara Black
Hoa Kỳ Liezel Huber
3–6, 3–6
Á quân 2. 9 tháng 8, 2009 LA Women's Tennis Championships, Los Angeles, United States Cứng Nga Maria Kirilenko Trung Hoa Đài Bắc Chuang Chia-jung
Trung Quốc Yan Zi
0–6, 6–4, [7–10]
Vô địch 2. 3 tháng 4, 2011 Sony Ericsson Open, Miami, United States Cứng Slovakia Daniela Hantuchová Hoa Kỳ Liezel Huber
Nga Nadia Petrova
7–6(7–5), 2–6, [10–8]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sengupta, Jaydip (ngày 16 tháng 2 năm 2012). “Agnieszka Radwanska: The fan favourite”. Gulf News. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2012. 
  2. ^ “WTA Awrads”. wtatennis.com. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ “WTA Profile”. wtatennis.com. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2012. 
  4. ^ a ă Bodo, Pete (ngày 31 tháng 3 năm 2012). “Born This Way”. tennis.com. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2012. 
  5. ^ “Radwańska lepsza niż dyplomacja Tuska”. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013. 
  6. ^ Badenhausen, Kurt. “The World's Highest-Paid Female Athletes”. Forbes. 
  7. ^ a ă “2006 Results”. tennis.com. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2012. 
  8. ^ “2007 Results”. ESPN. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2011. 
  9. ^ Tennis – Yahoo! Eurosport. Uk.eurosport.yahoo.com. Retrieved 24 April 2011.
  10. ^ “Radwanska makes shock exit”. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2012. 
  11. ^ “France prevails in thriller over Poland at Hopman Cup final”. couriermail.com.au. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2014. 
  12. ^ Roopanarine, Les (10 tháng 1 năm 2015). “Serena Williams beaten by Agnieszka Radwanska as Poland win Hopman Cup”. The Guardian. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2015. 
  13. ^ Perrotta, Tom (2 tháng 7 năm 2012). “The Subtlest Player at Wimbledon”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2012. 
  14. ^ “Agnieszka Radwanska – Victoria Azarenka Live”. Yahoo.com. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  15. ^ Tandon, Kamakshi (22 tháng 1 năm 2014). “Plenty to watch in women's semis”. ESPN. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  16. ^ “The Toss: Can Agnieszka Radwanska take her game to next level?”. SI. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012. 
  17. ^ “AO SWOT #8 Agnieszka Radwanska”. Australian Open. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2012. 
  18. ^ “The Subtlest Player at Wimbledon”. The Wall Street Journal. 
  19. ^ http://www.tennis.com/pro-game/2012/03/radwanskas-dad-goes-from-coach-to-tourist/35216/#.VQWQbmd0yM8
  20. ^ http://edition.cnn.com/2015/04/25/tennis/martina-navratilova-radwanska-tennis/

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng
Tiền nhiệm:
Ấn Độ Sania Mirza
Giải Thành viên mới của Hiệp hội quần vợt nữ
2006
Kế nhiệm:
Hungary Ágnes Szávay
Tiền nhiệm:
Nga Maria Sharapova
Giải Tay vợt đơn được nhiều người yêu thích nhất
của Hiệp hội quần vợt nữ

2011, 2012, 2013, 2014
Kế nhiệm:
đương nhiệm
Vị trí thể thao
Tiền nhiệm:
Marek Twardowski
Mang cờ cho  Ba Lan
Luân Đôn 2012
Kế nhiệm:
đương nhiệm