Ai Cập thuộc La Mã

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ai Cập thuộc La Mã
Provincia Aegypti
ἐπαρχία Αἰγύπτου
Tỉnh của Đế quốc La Mã

30 BC–641
Vị trí của Ai Cập
Ai Cập thuộc La Mã năm 117 sau Công Nguyên
Thủ phủ Alexandria
Thời đại lịch sử Thời kỳ cổ đại
 -  Chinh phục Ai Cập thuộc Hy Lạp 30 BC
 -  Hình thành Giáo phận Ai Cập 390
 -  Hồi Giáo chinh phục Ai Cập 641
Ngày nay là một phần của  Ai Cập

Sau khi thắng nữ hoàng Cleopatra ở trận hải chiến Actium ngoài khơi Hy Lạp năm 31 TCN, quân La Mã của tướng Octavian vào lãnh thổ Ai Cập và diệt vương triều của Cleopatra năm 30 TCN. Năm 27 TCN tướng Octavian lên ngôi hoàng đế, khai sinh đế quốc La Mã, đặt hiệu thành Augustus Caesar và khởi đầu một thời đại thanh bình mà sử gọi là cuộc Thái Bình La Mã (Pax Romana). Từ đó, đất Ai Cập cũng trở thành vựa lúa mì lớn nhất của đế quốc khổng lồ này.

Văn tự thất truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Người La Mã tuy là dân tộc thống trị, nhưng họ cũng theo thờ các thần linh Ai Cập, cho nên, buổi đầu, người Ai Cập cũng còn giữ được chữ viết cổ, vốn gắn liền với tôn giáo cổ. Sau đó, tiếng Ai Cập bị ảnh hưởng bởi tiếng Hy Lạp từ năm 332 TCN khi người Hy Lạp tới chinh phạt. Vào thế kỷ 2 thì tiếng Copt—một thứ tiếng Ai Cập mới, chịu nhiều ảnh hưởng từ tiếng Hy Lạp, được các tín hữu Cơ Đốc giáo sử dụng—đã trở thành thứ tiếng chính trong lãnh thổ. Đến thế kỷ 4 thì chữ viết Ai Cập cổ coi như hoàn toàn bị thất truyền trước khi được giải mã vào thế kỷ 19 do nhà khảo cổ Jean-François Champollion.

Từ thế kỷ thứ 7 trở đi, với sự chinh phạt của người Ả Rập, đất Ai Cập dần dần biến thành một đất nước nói tiếng Ả Rập. Ngày nay, thủ đô Cairo, với hơn 18 triệu dân, được xếp hạng là thành phố đông dân nhất trong khối Ả Rập. Tiếng Copt chỉ còn được lưu giữ lại trong phụng vụ của Cơ Đốc giáo.

Các biến cố chính trị và quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Người La Mã dùng rất ít quân để trấn giữ Ai Cập. Buổi đầu họ đặt ba sư đoàn lê-dương (legion) sau chỉ để lại hai, mỗi sư-đoàn đông cỡ 6.000 người, và một số đại đội cohort, mỗi đại đội khoảng 600 người trợ quân. Vị thống đốc đầu tiên của Ai Cập, Gaius Cornelius Gallus (30 TCN - 26 TCN), đánh chiếm các vùng đất phía nam đã rơi ngoài vòng kiểm soát của nhà Ptolemy. Vị thống đốc thứ nhì là Aelius Gallus (26 TCN - 24 TCN) đem quân xâm lăng vùng Petraea và vùng Felix của bán đảo Ả Rập, nhưng bị thua to. Mãi đến đời hoàng đế Claudius (41 - 54) vùng duyên hải Biển Đỏ của Ai Cập mới rơi vào vòng kiểm soát của La Mã.

Thời này Ai Cập thường được hưởng thanh bình. Chỉ có năm 64 thì thành phố Alexandria có cuộc nổi loạn của người Do Thái sang cư trú quá đông. Năm 117 các vùng đất Do Thái, Ai Cập, Lybia, Thổ Nhĩ Kỳ đều nổi dậy, Hoàng đế Traianus thân chinh kéo đại quân đi dẹp loạn, nhưng trên đường lâm trận thì ông ngã bệnh qua đời.[1][2] Năm 175 có Avidius Cassius xưng vương ở Ai Cập và Syria, nhưng bị chính quyền La Mã trấn áp.

Đồng tiền đời hoàng đế Hadrian vinh danh tỉnh Aegyptus (Ai Cập), đúc vào khoảng năm 135. Trên đồng tiền có hình nữ thần 'Egypt' ngồi dựa trên ghế dài, cầm nhạc khí Sistrum của nữ thần Hathor, sau lưng có thúng mễ cốc, trước mặt có con cò lừa đứng trên trụ ở chân bà.

Năm 212, hoàng đế Caracalla ban chiếu chỉ mang tên ông, cho phép dân chúng trong đế quốc, phàm ai là người tự do (không phải nô lệ) đều được là công dân La Mã. Người Ai Cập được có quốc tịch La Mã từ đó. Nhưng đặc ân này chỉ nhằm đánh thuế dân chúng nặng hơn.

Năm 267 có nữ hoàng Zenobia, một người đẹp có tài dụng binh, trị nước, tuyên bố xứ Palmyre ở Syria độc lập. Năm 270 Zenobia xưng là "nữ hoàng Đông Phương" và chiếm được Ai Cập. Quân La Mã sang tái chiếm, bị bà đẩy lui năm 272 ở Ai Cập, nhưng năm 273 bà thua trận, xứ Palmyre mất. Năm 295 có cuộc nổi dậy ở Ai Cập, nhưng lại bị La Mã dẹp được.

Đồng tiền của Zenobia in danh hiệu "nữ hoàng Ai Cập và danh hiệu" Augusta. Trên tiền thấy được nữ hoàng Zenobia đội vương miện, cầm vương trượng, có chim công đứng bên chân, và một ngôi sao sáng phía bên phải.

Kế đến, hai tướng trấn giữ Ai Cập là Probus và Domitius Domitianus nổi dậy xưng đế. Hoàng đế Diocletian chiếm được Alexandria trong tay Domitius năm 298 và sau đó tổ chức lại toàn tỉnh Ai Cập.

Năm 293, La Mã chuyển thể chế thành Tứ Đầu chế, tức có 4 lãnh tụ cai trị quốc gia. Thể chế này nhanh chóng đưa đến sự tranh quyền của các lãnh tụ. Từ năm 305 đến năm 311 La Mã vỡ thành 2, 3 rồi 4 thế lực đánh nhau. Sau 18 năm tranh chiến, Constantine Đại Đế thống nhất được đế quốc năm 323. Năm 330, ông thiên đô sang Byzantium và đổi tên thành phố này thành Constantinopolis. Năm 395, hậu duệ của ông là Theodosus chết, hai người con chia đôi đế quốc: Tây La Mã thủ đô ở Roma dùng tiếng Latin, Đông La Mã thủ đô ở Constantinople dùng tiếng Hy Lạp. Vua của hai bên đều giữ quốc hiệu là Roma, và đều xưng là Caesar. Ai Cập nằm trong địa phận của Đông La Mã.

Danh từ "Đế quốc Byzantine" là một danh từ được sử gia đời sau đặt ra, và không hề được dùng trong thời đế quốc này còn hiện hữu (330 - 1453). Ngay cả năm mà đế quốc Đông La Mã bắt đầu hiện hữu cũng không được các sử gia nhất trí: 306, 324, 330, 379, 395, v.v. Vì vậy bảo là Ai Cập thuộc La Mã từ 30 TCN đến 642 CN cũng được, mà ngăn thêm một thời kỳ Đông La Mã với một trong các năm 306, 324, 330, 379, 395, v.v. cũng có lý. Và các lý do đáng kể nhất của thời kỳ Đông La Mã là Ai Cập được cai trị bởi một chính quyền đồng ngôn ngữ (Hy Lạp) và đồng giáo phái (Chính thống giáo) - mặc dù giáo hội Ai Cập cũng ngày càng phát triển những sắc thái khác với Chính thống giáo ở thủ đô Constantinople.

Dân Ai Cập được khá yên ổn, ngoài những cuộc bách hại tín đồ Cơ Đốc giáo hoặc pagan giáo, cho đến thập niên 610. Năm 603, hoàng đế nhà Sassanid của Ba Tư là Khosrau II khởi binh tấn công Đông La Mã. Năm 608, quân Ba Tư đến được gần sát chân thành Constantinople, nhưng người Đông La Mã giữ vững được thủ đô. Một viên tướng trẻ, tên là Heraclius, vâng lệnh cha từ Bắc Phi về cứu nước, đã lên ngôi hoàng đế ở Constantinople năm 610, và dần dần khôi phục được nhiều đất đai. Nhưng năm 614, quân Ba Tư lại chiếm được thành Jerusalem. Năm 619, họ chiếm Alexandria, và đến năm 621 thì chiếm được toàn cõi Ai Cập. Năm 626, quân Ba Tư của Khosrau II họp với quân xứ AvarsĐông Âu bao vây thủ đô Constantinople rất ngặt. Lúc ấy lãnh thổ Đông La Mã chỉ còn lại thành phố Constantinople đang sắp mất. Phía Âu Châu phần lớn đất đai đã bị người Avars lấy mất, phía Á Châu và Ai Cập thì trong tay Ba Tư. Nhờ có quân KhazarsBulgaria đánh giúp, Heraclius đã phá được vòng vây và dần dần phục hồi được lãnh thổ. Năm 628, Heraclius phản công sâu vào trọng địa của Ba Tư, gần chiếm được thủ đô Ba Tư là Ctesiphon. Thấy Ba Tư đã hỗn loạn, Heraclius không đánh thêm mà lo quay về thâu hồi Ai Cập và ổn định các vùng mới tái chiếm. Năm 629 Heraclius chiếm lại được đất Ai Cập. Kể ra, từ 621 đến 629, Ai Cập bị nội thuộc Ba Tư 9 năm. Lúc ấy quốc giáo của Ba Tư là Hỏa giáo và đa số cư dân Ai Cập theo Cơ Đốc giáo, nên có lẽ những năm thuộc Ba Tư dân chúng đất Ai Cập cũng phải chịu một sức ép về mặt này. Sử ghi rằng, lúc chiếm Jerusalem, quân Ba Tư đã tàn sát phần lớn tín đồ Cơ Đốc giáo trong thành.

Trở về với Đông La Mã, người Cơ Đốc giáo Ai Cập lại bị một sức ép từ sự khác biệt giáo thuyết với giáo hội nhà nước Đông La Mã, đến mức bị bách hại vì sự khác biệt này. Trong khi đó, một cường quốc mới đang hưng khởi ở bán đảo Ả Rập kề bên: quốc gia của người Muslim (Hồi giáo). Năm 636, quân Ả Rập đánh bại quân chủ lực của hoàng đế Heraclius tại trận Yarmuk, gần biên giới Do Thái - Syria ngày nay, khiến Đông La Mã phải bỏ cả vùng Do Thái, Palestine, Syria và Jordania, và không còn đưa quân đến Ai Cập bằng đường bộ được nữa. Tháng 12 năm 639, tướng Ả Rập là Amr Ibn Al-Aas đem 4000 (bốn nghìn) quân vào Ai Cập. Người Ai Cập không ủng hộ mấy quân Đông La Mã, nên họ phải rút vào cố thủ trong các thành trì. Người Ả Rập tăng cường viện binh, và năm 641 thì họ chiếm được Alexandria, và được phần đông người Ai Cập đón tiếp nồng nhiệt. Năm 642 người Ả Rập kiểm soát toàn cõi Ai Cập. Hạm đội Đông La Mã tái chiếm Alexandria năm 645, nhưng họ thua trận năm 646 và lần này thì mất luôn thành phố nguy nga này.

Từ năm 30 TCN đến năm 642, trừ đi chín năm thuộc Ba Tư, và hai năm thuộc Palmyre, xứ Ai Cập bị lệ thuộc La Mã trên dưới 660 năm.

Các thống đốc La Mã tại Ai Cập:

  • Gaius Cornelius Gallus: 30 - 26 TCN
  • Aelius Gallus: 26 - 24 TCN
  • Publius Petronius: 24 - 21 TCN
  • Publius Rubrius Barbarus: ? - 12 TCN
  • Gaius Turranius: 7 - 4 TCN
  • Publius Octavius: 2-3
  • Quintus Ostorius Scapula: 3-10
  • Gaius Iulius Aquila: 10-11
  • Lucius Antonius Pedo: 11-12
  • Quintus Magnus Maximus: 12-14
  • Lucius Seius Strabo: 14-15
  • Aemilius Rectus: 15
  • Gaius Valerius: 16-31
  • Gaius Vitrasius Pollio: 31-32
  • Iulius iber (Severus): 32
  • Aulus Avilius Flaccus: 32-38
  • Caius Vitrasius Pollio: ? -41
  • Lucius Aemilius Rectus: 41-42
  • Marcus Aevius: 42-45
  • Gaius Julius Postumus: 45-48
  • Gnaeus Vergilius Capito: 48-52
  • Lucius Lusius Geta: 54
  • Tiberius Claudius Balbillus Modestus: 55-59
  • Lucius Julius Vestinus: 59-62
  • Gaius Caecina Tuscus: 63-65
  • Tiberius Julius Alexander: 66-69
  • Lucius Peducius Colo: 70
  • Tiberius Julius Lupus: 71-73
  • Valerius Paulinus: 73-74
  • Gaius Aeterius Fronto: 78-79
  • Gaius Tettius Priscus: 80-82
  • Lucius Laberius Maximus: 83
  • Lucius Julius Ursus: 83-84
  • Gaius Septimius Vegetus: 85-88
  • Marcus Mettius Rufus: 89-92
  • Titus Petronius Secundus: 92-93
  • Marcus Junius Rufus: 94-98
  • Gaius Pompeius Planta: 98-100
  • Gaius Minucius Italus: 100-103
  • Gaius Vibius Maximus: 103-107
  • Servius Sulpicius Similis: 107-112
  • Marcus Rutilius Lupus: 113-117
  • Quintus Rammius Martialis: 117-119
  • Titus Haterius Nepos: 120-124
  • Petronius Quadratus: 126
  • Titus Flavius ​​Titianus: 126-133
  • Marcus Petronius Mamertinus: 133-137
  • Gaius Avidius Heliodorus: 137-142
  • Gaius Valerius Eudemon: 142-143
  • Lucius Valerius Proculus: 144-147
  • Marcus Petronius Honoratus: 147-148
  • Lucius Munacius Felix: 149-154
  • Marcus Sempronius Liberalis: 154-159
  • Titus Furius Victorinus: 159-161
  • Lucius Volusius Maecianus: 161
  • Marcus Annaeus Siriacus: 161-164
  • Titus Flavius ​​Titianus: 164-167
  • Quintus Baienus Blasianus: 167-168
  • Marcus Bassius Rufus: 168-169
  • Gaius Calvisius Statianus: 170-174
  • Claudius Julianus: 174
  • Gaius Calvisius Statianus: 174-175
  • Gaius Caecilius Salvianus: 175-176
  • Titus Pactumius Magnus: 176-177
  • Titus Taius Sanctus: 178-180
  • Titus Flavius ​​Piso: 181
  • Decimus Veturius Macrinus: 181-183
  • Titus Longaeus Rufus: 185
  • Pomponius Faustinianus: 185-187
  • Marcus Aurelius Verrianus: 188
  • Tinius Demetrius: 189-190
  • Claudius Lucilianus: 190
  • Larcius Memor: 192
  • Lucius Mantennius Sabinus: 192-194
  • Marcus Ulpius Primianus: 195-196
  • Quintus Aemilius Saturninus: 197-200
  • Alfenus Appolinarius: 200
  • Quintus Maecius Laetus: 200-203
  • Claudius Julianus: 203-206
  • Tiberius Claudius Aquila: 206-211
  • Lucius Baebius Aurelius Juncinus: 212-215
  • Marcus Aurelius Heraclitus: 215
  • Aurelius Antinous: 215-216
  • Lucius Valerius Datus: 216-217
  • Julius Basilianus: 218
  • Callistianus: 218-219
  • Geminius Chrestus: 219-221
  • Lucius Domitius Honoratus: 222
  • Marcus Aedinius Julianus: 222-223
  • Marcus Aurelius Epagatus: 224
  • Claudius Masculinus: 229-231
  • Marcus Aurelius Zeno Januarius: 231
  • Maebius Honoratianus: 232-236
  • Lucius Lucretius Annianus: 236-240
  • Gnaeus Domitius Priscus: 241-242
  • Aurelius Basileus: 242-245
  • Gaius Valerius Firmus: 245-248
  • Aurelius Appius Sabinus: 249-250
  • Faltonius Restitutianus: 251-252
  • Lissenius Proculus: 252-253
  • Lucius Titinius Clodianus: 253
  • Titus Magnus Crescinianus: 253-256
  • Mussius Aemilianus: 258-261
  • Tenagino Probus: 268-270
  • Statilius Aemilianus: 270-273
  • Pomponius Januarianus: 283-284
  • Flavius ​​Philagrius: 335-340
  • Longinus: 341-343; lãnh sự La Mã tại Ai Cập
  • Paladius: 344-345
  • Nesturius: 345- ?
  • Sebastianus: 352-354
  • Maximus: 355-356
  • Catafronius: 356-357
  • Hermoginus Parnasius: 357-359
  • Faustinus: 359-361
  • Gerontius: 361-362
  • Icdicius Olympus: 362-363
  • Herius: 364
  • Maximus: 364
  • Flavianus: 364-366
  • Procolitianus: 366-367
  • Flavius ​​Itulimius: 367-370
  • Olympus Paladius: 370-371
  • Elius Paladius: 371-374
  • Hadrianus: 379-380
  • Julius Julianus: 380-382
  • Paladius: 382-383
  • Hebatius: 383
  • Anthonius: 383-384
  • Optatus: 384
  • Florintius: 384-386
  • Euzipius: 386
  • Paulinus: 386-387
  • Flavius ​​Olpius Artherius
  • Tudurus
  • Flurus
  • Alexander
  • Poethus
  • Anthimius
  • Theoctisius
  • Theognostus
  • Pergamius
  • Apollonius
  • Arsinius
  • Eustathius
  • Neodusius
  • Deoscurus
  • Rudun
  • Liberius: 538-542
  • Alexander
  • Evagrius
  • Hebatius
  • Potamius
  • Evagrius
  • Genadius
  • Remegius
  • Archilaus
  • Pentadius
  • Pothalius
  • Aurestus
  • Calistus
  • Cleopatar
  • Carmosinus
  • John Laxarion
  • Hefastus
  • Germanus Gestinius
  • John
  • Paulus
  • Shahrbaraz of Sassanid (Ba Tư): 618-621
  • Sahralanyozan: 621- ?
  • Shahrbaraz: 626-628
  • John: 628
  • Costantinus
  • Menas
  • Petrus Gestinius
  • John
  • Nectias
  • Cyrus of Alexandria: 630
  • Theodore: 630
  • Cyrus of Alexandria: 630-640

Cơ Đốc giáo tại Ai Cập[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thống, Cơ Đốc giáo bắt đầu được truyền sang Ai Cập ngay từ thập niên 40 của thế kỷ thứ nhất bởi Thánh sử Máccô. Nhà sử học Helmut Koester cho rằng các tín hữu Ai Cập ban đầu chịu ảnh hưởng mạnh từ thuyết ngộ đạo cho tới khi Thượng phụ Demetrius I thành Alexandria dẫn dắt đa số tín hữu đi theo giáo lý chính thống.

Tôn giáo cổ đại của Ai Cập gây ra ít cản trở cách đáng ngạc nhiên đối với sự truyền bá Cơ Đốc giáo. Có lẽ lịch sử lâu dài của tôn giáo cũ trong việc cộng tác với những người cai trị La Mã và Hy Lạp đã khiến các lãnh đạo tôn giáo này mất thẩm quyền. Bên cạnh đó, tôn giáo bản địa có thể đã bắt đầu mất sức hút giữa các tầng lớp thấp hơn khi gánh nặng sưu thuế và các buổi tế lễ do hoàng đế yêu cầu đã làm giảm sút chất lượng cuộc sống. Trong khi đó, với việc quan tâm tới sự khó nghèo và khiêm nhượng, Cơ Đốc giáo đã nhận ra cảm thức thiếu vắng trong dân chúng Ai Cập. Đến khoảng năm 200 thì Cơ Đốc giáo trở thành tôn giáo chính trên đất Ai Cập; thành phố Alexandria là một trong những trung tâm lớn của Cơ Đốc giáo và là nơi có Trường Giáo lý đầu tiên. Truyền thống đan tu cũng được khai sinh từ các sa mạc của Ai Cập.

Trong gần ba trăm năm, những người Cơ Đốc giáo nhiều lúc phải hành đạo một cách lén lút dưới sự cấm đoán của chính quyền La Mã. Một số hoàng đế như Nero ra lệnh bách hại giáo dân trong khắp đế quốc. Nhưng đợt Bách hại Lớn bắt đầu năm 303 dưới thời hoàng đế Diocletianus có lẽ là tàn khốc nhất. Ngày nay Giáo hội Copt ở Ai Cập còn lưu truyền nhiều câu chuyện tử đạo của đợt bách hại này.

Năm 313, Constantinus Đại đế, lúc ấy còn chưa thống nhất được đế quốc, đã hòa với kình địch của ông là Licinius để bãi bỏ sắc lệnh cấm đạo của Diocletianus và cho phép Cơ Đốc giáo được tồn tại hợp pháp trong lãnh thổ của ông.

Một xung đột lớn xảy ra khi Arius, một giáo sĩ tại Alexandria, giảng rằng Giê-su chỉ là một tạo vật của Thiên Chúa và không đồng bản thể (consubstantial) với Chúa Cha. Rất đông giáo sĩ và giáo dân trong đế quốc nghe theo thuyết của ông. Sợ có chia rẽ lớn trong giáo hội, Constantinus Đại đế mời các giám mục trong đế quốc dự Công đồng Nicaea, diễn ra năm 325. Số đông biểu quyết chống, Arius bị đày đi Illyria và sau đó ông sửa đổi thuyết của ông khác đi một chút. Thuyết của ông bị loại bỏ trong khắp đế quốc. Cơ Đốc giáo thoát được một cuộc chia rẽ lớn, mặc dù sau đó có hai hoàng đế La Mã là Constantinus II và Valens tin theo giáo thuyết Arian của ông.

Từ năm 331 đến năm 334, Constantinus Đại đế ra lệnh đóng cửa tất cả các đền thờ không thuộc tín ngưỡng Cơ Đốc giáo. Tình thế đảo ngược trong một thời gian ngắn: đời hoàng đế Julianus, hỗn danh Kẻ bội giáo (361-363), Cơ Đốc giáo lại bị cấm và giáo dân lại bị bách hại. Cuối cùng, vào năm 380 với Chiếu chỉ Thessalonica, Cơ Đốc giáo được hoàng đế Theodosius tuyên bố là quốc giáo. Cũng trong chiếu chỉ này, các tôn giáo khác bị coi là tà giáo và bị cấm. Có lẽ ít lâu sau thời điểm này, tín ngưỡng thờ các thần linh Ai Cập bị mất hẳn.

Giáo hội Copt[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 451, hoàng đế Marcianus chủ trì Công đồng Chalcedon, quy tụ hơn 500 vị giám mục. Công đồng này đưa đến phân ly giữa các Giáo hội Chính thống giáo Cựu Đông phương với các Giáo hội Chính thống giáo Hy Lạp (tại Đông Âu và Cận Đông) và Công giáo Rôma (tại Tây Âu). Giáo hội Chính thống giáo Copt trở nên độc lập, nằm trong khối hiệp thông Chính thống giáo Cựu Đông phương cùng với các giáo hội khác tại Armenia, Syria và Ethiopia.

Các tín hữu theo hệ phái Copt không cầu xin ở các vị thánh điều gì, ngoại trừ việc chuyển cầu, nghĩa là làm trung gian cho lời cầu nguyện của họ. Các ngày lễ trọng trong năm là Truyền tin, Giáng sinh, Hiển linh, Thương khó, Phục sinh, Thăng thiên và Ngũ tuần. Mỗi năm họ ăn chay từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn trong 210 ngày. Họ cầu nguyện cho sự thống nhất của tất cả các giáo hội Cơ Đốc giáo. Họ cầu nguyện cho sông Nil, cho đất nước Ai Cập, cho hòa bình trên thế giới và cho sự an vui của nhân loại. (Trích www.coptic.net)

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Sự buôn bán giữa La Mã và Ấn Độ bắt đầu từ đất Ai Cập theo sách Periplus of the Erythraean Sea, thế kỷ 1. Từ đó suy ra thuyền buôn La Mã đến Óc Eo cũng phải phát xuất từ Ai Cập.

Các tài nguyên kinh tế của Ai Cập vẫn không khác thời nhà Ptolemy (323 TCN - 30 TCN) nhưng người La Mã đã mang đến một hệ thống thuế khóa phức tạp hơn nhiều. Những loại thuế nhỏ có nhiều đến chóng mặt. Ngũ cốc được chở xuôi dòng sông Nil xuống cung cấp cho cảng Alexandria và để xuất khẩu đi Rome. Mặc dù có rất nhiều vụ dân chúng kêu nài bị quan lại sở tại áp bức bắt đóng thuế nặng quá, nhưng không có chứng tích rõ rệt là giá thuế chính thức có quá cao hay không. Chính quyền La Mã vốn khuyến khích tư hữu hóa đất đai và phát triển các xí nghiệp tư nhân trong các ngành sản xuất, buôn bán, nên nếu thuế quá nặng thì các ngành nghề ấy không phát triển được. Những người nghèo hơn sống nhờ làm tá điền trên các đất thuộc sở hữu của nhà nước hoặc của tư nhân giàu có và họ sống tương đối chật vật vì tiền thuê đất khá nặng.

Nói chung, mức độ dùng tiền tệ và sự phức tạp của kinh tế, ngay ở cấp làng xã, cũng rất cao. Hàng hóa được vận chuyển, trao đổi bằng tiền đồng (thời này chưa có tiền giấy) trên quy mô lớn và, tại các thị trấn và các làng mạc lớn, những hoạt động kỹ nghệ và thương nghiệp phát triển sát theo căn bản nông nghiệp. Vị thống đốc thứ ba là Gaius Petronius (24 TCN - 20 TCN) đốc suất nạo vét các kênh đào từ lâu không được bảo trì, khiến nông nghiệp được chấn hưng trở lại. Khối lượng buôn bán, trong và ngoài lãnh thổ, đều đạt đến đỉnh cao vào thế kỷ 1 và 2. Nhưng đến cuối thế kỷ 3 thì có nhiều vấn đề hiển nhiên. Tiền của hoàng đế ấn hành bị mất giá, thêm quá nhiều thứ thuế làm kiệt quệ người tiêu thụ. Các hội đồng hành chính địa phương thì bất cẩn và ít hữu hiệu. Tình trạng đó đưa đến nhu cầu cải cách dưới thời các hoàng đế DiocletianConstantine I.

Văn minh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 25 TCN, có nhà địa lý học Strabo ở Alexandria vẽ bản đồ thế giới. "Thế giới" đây bao gồm tất cả các vùng đất mà người Hy Lạp và La Mã thời ấy biết được.

Nhà bác học Heron, cũng người thành Alexabdria, sống từ năm 75 CN đến năm 150 CN, đã cống hiến cho nhân loại một bộ bách khoa tự điển toán và vật lý, trong đó ông có nói về cách chế tạo khoảng 100 thứ máy móc hay đồ chơi: ống si-phông, máy mở cửa đền chạy bằng lửa đốt trên bàn thờ, đồng hồ nước, máy tháo hơi, máy nhấc đồ nặng, một loại máy hơi nước kiêm nhiệt kế thô sơ, v.v.

Nhà thiên văn và lượng giác học Claudius Ptolemaeus, hội viên Đại học Alexandria từ năm 125 đến 160 CN, đã vẽ một bản đồ sao gồm 1028 ngôi sao, và viết sách nói về các hành tinh. Ông cũng có viết sách về địa lý, quang học, âm nhạc, v.v.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài tổng quát Lịch sử Ai Cập

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Histoire de Byzance, John Julius Norwich, 1996. Traduction française par Dominique Peters, Editions Perrin 2002.
  • Annales de Tacite, traduction d'après Burnouf par H. Bornecque. Ed. Garnier Flammarion 1965.
  • Saladin - Rassembleur de l'Islam, Geneviève Chauvel, Editions Pygmalion/Gérard Watelet, Paris 1991.
  • Bowman, Alan Keir. 1996. Egypt After the Pharaohs: 332 TCN–AD 642; From Alexander to the Arab Conquest. 2nd ed. Berkeley: University of California Press
  • Chauveau, Michel. 2000. Egypt in the Age of Cleopatra: History and Society under the Ptolemies. Translated by David Lorton. Ithaca: Cornell University Press
  • Ellis, Simon P. 1992. Graeco-Roman Egypt. Shire Egyptology 17, ser. ed. Barbara G. Adams. Aylesbury: Shire Publications Ltd.
  • Hill, John E. 2003. "Annotated Translation of the Chapter on the Western Regions according to the Hou Hanshu." 2nd Draft Edition. [1]
  • Hill, John E. 2004. The Peoples of the West from the Weilue 魏略 by Yu Huan 魚豢: A Third Century Chinese Account Composed between 239 and 265 CE Draft annotated English translation. [2]
  • Hölbl, Günther. 2001. A History of the Ptolemaic Empire. Translated by Tina Saavedra. London: Routledge Ltd.
  • Lloyd, Alan Brian. 2000. "The Ptolemaic Period (332–30 TCN)". In The Oxford History of Ancient Egypt, edited by Ian Shaw. Oxford and New York: Oxford University Press. 395–421
  • Peacock, David. 2000. "The Roman Period (30 TCN–AD 311)". In The Oxford History of Ancient Egypt, edited by Ian Shaw. Oxford and New York: Oxford University Press. 422–445
  • Shelagh Jameson: Chronology of the campaigns of Aelius Gallus and C. Petronius. In: The Journal of Roman Studies, 58 (1968), S. 71–84.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Julian Bennett, Trajan: optimus princeps: a life and times, trang 206
  2. ^ Julian Bennett, Trajan: optimus princeps: a life and times, trang 326

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]