Aleksandr Golovin (cầu thủ bóng đá)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Aleksandr Golovin
Aleksandr Golovin.jpg
Aleksandr Golovin trong một trận đấu tại Cúp Liên đoàn các châu lục năm 2017
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Aleksandr Sergeyevich Golovin
Ngày sinh 30 tháng 5, 1996 (23 tuổi)
Nơi sinh Kaltan, Nga
Chiều cao 1,80 m (5 ft 11 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
AS Monaco
Số áo 17
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2001–2009 DYuSSh Kaltan
2009–2011 Metallurg Novokuznetsk
2012–2015 CSKA Moscow
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2014–2018 CSKA Moscow 81 (9)
2018– Monaco 41 (6)
Đội tuyển quốc gia
2013–2014 U-17 Nga 9 (1)
2015 U-21 Nga 3 (0)
2015– Nga 33 (5)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 4 tháng 11 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 19 tháng 11 năm 2019

Aleksandr Sergeyevich Golovin (tiếng Nga: Александр Сергеевич Головин; sinh ngày 30 tháng 5 năm 1996) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Nga đang chơi với vai trò tiền vệ cho AS MonacoĐội tuyển bóng đá quốc gia Nga. Anh từng được CLB Arsenal để ý và hỏi mua vào mùa hè 2017.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp cấp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Anh có trận đấu đầu tiên ở Giải vô địch bóng đá quốc gia Nga cho P.F.K CSKA Moskva vào ngày 14 tháng 3 năm 2015, trong trận thắng 4-0 của CSKA Moskva trước FC Mordovia Saransk.[1]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Golovin vô địch giải 2013 UEFA European Under-17 Championship cùng Đội tuyển bóng đá dưới 17 Nga và đồng thời tham gia 2013 FIFA U-17 World Cup tổ chức tại Slovakia. Sau đó, anh chơi cho Đội tuyển bóng đá U-19 Nga tại  2015 UEFA European Under-19 Championship tại Hy Lạp nơi Nga giành ngôi Á quân. Golovin có trận đấu ra mắt Đội tuyển bóng đá quốc gia Nga vào ngày 7 tháng 6 năm 2015 trong trận giao hữu với Belarus tại Arena Khimki, vào thay cho đội trưởng Roman Shirokov ở phút thứ 16, và ghi bàn thắng thứ hai 16 phút sau, góp phần giúp Đội tuyển bóng đá quốc gia Nga thắng 4-2.

Giải đấu quốc tế đầu tiên của anh là Euro 2016 diễn ra ở Pháp, giải đấu mà anh đã góp mặt ở cả ba trận vòng bảng trước các đối thủ Anh, xứ WalesSlovakia, tuy nhiên đội tuyển Nga đã rời giải ngay sau đó với chỉ vỏn vẹn 1 điểm.

Giải đấu quốc tế thứ hai của Golovin là World Cup 2018 diễn ra tại quê nhà Nga. Tại giải này, anh chỉ có được một bàn thắng trong trận thắng 5-0 trước Ả Rập Xê Út. Đội tuyển Nga sau đó gây bất ngờ lớn khi vượt qua vòng bảng đứng ở vị trí thứ hai bảng A với 6 điểm, loại ứng cử viên vô địch Tây Ban Nha ở vòng 16 đội và chỉ chịu thua Croatia ở tứ kết đều ở loạt sút luân lưu 11m.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 9 tháng 11 năm 2019[2]
Appearances and goals by club, season and competition
Câu lạc bộ Mùa giải Giải ngoại hạng Nga Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Châu Âu Khác Tổng cộng
Hạng Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
CSKA Moscow 2014–15 Giải ngoại hạng Nga 7 0 3 0 0 0 10 0
2015–16 17 1 4 2 2 0 23 3
2016–17 30 3 0 0 6 0 1 0 37 3
2017–18 27 5 1 0 15 2 43 7
Tổng cộng 81 9 8 2 - - 23 2 1 0 113 13
AS Monaco 2018–19 Ligue 1 30 3 1 0 1 1 3 0 0 0 35 4
2019–20 11 3 0 0 1 0 12 3
Tổng cộng 41 6 1 0 2 1 3 0 0 0 47 7
Tổng cộng sự nghiệp 122 15 9 2 2 1 26 2 1 0 160 20

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 19 tháng 11 năm 2019[3]
Nga
Năm Trận Bàn
2015 1 1
2016 7 1
2017 7 0
2018 10 1
2019 8 2
Tổng cộng 33 5

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 7 tháng 6 năm 2015 Arena Khimki, Khimki, Nga  Belarus 2–0 4–2 Giao hữu
2. 26 tháng 3 năm 2016 Otkrytiye Arena, Moscow, Nga  Litva 2–0 3–0 Giao hữu
3. 14 tháng 6 năm 2018 Sân vận động Luzhniki, Moscow, Nga  Ả Rập Xê Út 5–0 5–0 World Cup 2018
4. 10 tháng 10 năm 2019 Sân vận động Luzhniki, Moscow, Nga  Scotland 4–0 4–0 Vòng loại Euro 2020
5. 13 tháng 10 năm 2019 Sân vận động GSP, Nicosia, Síp  Síp 4–0 5–0 Vòng loại Euro 2020

Danh sách[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

CSKA Moscow
U-17 Nga.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “СОГАЗ-Чемпионат России по футболу 2014/2015, 19-й тур”. 
  2. ^ “A.Golovin”. soccerway.com. Soccerway. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2016. 
  3. ^ “Aleksandr Golovin”. National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:PFC CSKA Moscow squad