Alex de Minaur

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Alex de Miñaur
Sydney International Tennis ATP (46001164015).jpg
Quốc tịch Úc
Nơi cư trúAlicante, Tây Ban Nha
Sinh17 tháng 2, 1999 (20 tuổi)[1]
Sydney, Úc
Chiều cao1,80 m (5 ft 11 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Tay thuậnTay phải (hai tay trái tay)
Tiền thưởngUS$1,755,072[2]
Đánh đơn
Thắng/Thua41–32 (56.16%)
Số danh hiệu0
Thứ hạng cao nhấtSố 24 (4 tháng 3 năm 2019)
Thứ hạng hiện tạiSố 24 (4 tháng 3 năm 2019)[3]
Thành tích đánh đơn Gland Slam
Úc Mở rộngV3 (2019)
Pháp mở rộngV1 (2017, 2018)
WimbledonV3 (2018)
Mỹ Mở rộngV3 (2018)
Đánh đôi
Thắng/Thua0–1
Số danh hiệu0
Thứ hạng cao nhấtSố 406 (24 tháng 12 năm 2018)
Thứ hạng hiện tạiSố 410 (4 tháng 3 năm 2019)
Thành tích đánh đôi Gland Slam
Úc Mở rộngV1 (2017)
WimbledonV1 (2018)
Cập nhật lần cuối: 9 tháng 3 năm 2019.

Alex de Miñaur[4] ( /də mɪˈnɔːr/ -_-mih-NOR;[5] tiếng Tây Ban Nha: Álex de Miñaur,[6] phát âm [ˈaleɡz ðe miˈɲaur];[a] sinh ngày 17 tháng 2 năm 1999) là một vận động viên quần vợt người Úc. Anh có thứ hạng đánh đơn ATP cao nhất là vị trí số 77 vào ngày 25 tháng 6 năm 2018.

Cuộc sống[sửa | sửa mã nguồn]

De Miñaur sinh ra ở Sydney, mẹ là người Tây Ban Nha và bố là người Uruguay. De Miñaur có 3 em (Dani, Cristina và Sara).[7] Anh đã sống 5 năm đầu ở Úc trước khi sang Alicante, Tây Ban Nha. De Minaur trở lại Úc vào năm 2012. Bố mẹ anh trở lại Tây Ban Nha năm 2016. De Minaur luôn cảm thấy có anh quen sống ở Úc hơn mặc dù anh vẫn đang sống ở Tây Ban Nha. Năm 2017, anh đã nói với Sydney Morning Herald: "Tôi có quốc tịch Tây Ban Nha nhưng tôi luôn cảm thấy mình là người Úc. Ngay sau khi chúng tôi trở lại đây thì điều đầu tiên tôi muốn làm - chơi cho Úc."[8]

De Miñaur thạo tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nhatiếng Pháp.[9]

Sự nghiệp quần vợt trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

De Miñaur có thứ hạng đánh đơn trẻ cao nhất là vị trí số 2, và đã vô địch nội dung đôi nam trẻ Úc Mở rộng 2016 với Blake Ellis.

Chung kết Grand Slam trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn: 1 (1 á quân)[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả Năm Giải đấu Mặt sân Đối thủ Tỉ số
Á quân 2016 Wimbledon Cỏ Canada Denis Shapovalov 6–4, 1–6, 3–6

Đôi: 1 (1 danh hiệu)[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả Năm Giải đấu Mặt sân Đồng đội Đối thủ Tỉ số
Vô địch 2016 Úc Mở rộng Cứng Úc Blake Ellis Slovakia Lukáš Klein
Cộng hòa Séc Patrik Rikl
3–6, 7–5, [12–10]

Sự nghiệp chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2015-16[sửa | sửa mã nguồn]

De Miñaur khởi đầu sự nghiệp chuyên nghiệp của mình vào tháng 7 năm 2015 tại Spain F22, vòng vòng tứ kết. De Miñaur đã được đặc cách vào vòng loại của Giải quần vợt Úc Mở rộng 2016, nhưng thua ở vòng một. De Miñaur đã dành phần lớn mùa giải 2016 tại ITF circuit ở Tây Ban Nha, vào vòng chung kết hai lần.

Vào tháng 10, De Miñaur lần đầu tiên vào chung kết giải ATP Challenger TourEckental, Đức sau khi vượt qua vòng loại.

2017: Lần đầu Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

De Miñaur khởi đầu năm tại giải Brisbane International 2017, khi anh đã đánh bại Mikhail KukushkinFrances Tiafoe ở vòng loại để lần đầu vào vòng đấu chính ATP. Tuần sau đó anh được đặc cách vào Apia International Sydney 2017 khi anh đã đánh bại tay vợt số 47 thế giới Benoit Paire để lần đầu tiên thắng trận ở cấp độ này. Ở vòng hai, anh bỏ cuộc sau khi thất bại ở set đấu đầu tiên trước Andrey Kuznezsov. De Minaur lần đầu tham dự giải Grand Slam tại Giải quần vợt Úc Mở rộng 2017 sau khi được đặc cách. Anh đánh bại Gerald Melzer ở vòng đầu và thắng sau 5 set đấu sau khi có match point ở set bốn.[10] Anh thua Sam Querrey ở vòng hai. Vào tháng 2, De Minaur vào vòng hai giải Launceston Tennis International 2017, đánh bại hạt giống số 1 Go Soeda ở vòng đấu đầu tiên. Vào tháng 3, De Minaur thua vòng loại cuối cùng ở giải Indian Wells Masters, trước khi trở lại challenger circuit.

Vào tháng 5, De Miñaur lần đầu ra mắt ở Giải quần vợt Pháp Mở rộng 2017 sau khi được đặc cách. Anh thua vòng một trước Robin Haase một cách chóng vánh.[11] Vào tháng 6, De Minaur thua ở vòng đầu giải challenger Aegon Open Nottingham 2017Aegon Ilkley Trophy 2017vòng loại đơn nam Wimbledon 2017. De Minaur được đặc cách vào Giải quần vợt Mỹ Mở rộng 2017, thua vòng một trước Dominic Thiem. Từ tháng 9 tới tháng 10, De Minaur tham dự một số giải Challenger ở châu Âu, 2 lần vào tứ kết.

Vào tháng 12, De Miñaur giành được suất đặc cách vào vòng đầu chính của Giải quần vợt Úc Mở rộng 2018.[12] Anh kết thúc năm với vị trí số 208.

2018: Bức đột phá[sửa | sửa mã nguồn]

De Miñaur khởi đầu năm tại giải Brisbane International 2018 sau khi được đặc cách vào vòng đấu chính.[13] Anh đánh bại tay vợt người Mỹ Steve Johnson một cách chóng vánh, và rồi sau đó chiến thắng trước số 23 thế giới Milos Raonic cũng chóng vánh.[14] Anh sau đó đã đánh bại được tay vợt vượt qua vòng loại Michael Mmoh ở tứ kết trước khi thua Ryan Harrison ở vòng bán kết.[15] De Miñaur là tay vợt có thứ hạng thấp nhất và trẻ nhất vào được vòng bán kết Brisbane International.[16] De Minaur được special exempt vào vòng đất chính giải ở Sydney khi anh loại được các tay vợt Fernando Verdasco, Damir DžumhurFeliciano López để lần thứ hai vào bán kết một giải của ATP tour, một tuần sau khi anh làm được ở Brisbane. De Minaur trở thành tay vợt trẻ nhất hai lần vào bán kết giải của ATP sau Rafael Nadal vào năm 2005.[17] Anh đánh bại Benoît Paire ở vòng bán kết và vào chung kết gặp Daniil Medvedv.[18] De Minaur đã thua trận đấu sau 3 set đấu, khi lần đầu tiên vào chung kết ATP.[19] Tại Giải quần vợt Úc Mở rộng 2018, de Minaur thua vòng một trước Tomáš Berdych, thua sau bốn set đấu trước hạt giống số 19. Vào tháng 2, De Minaur lần đầu tiên đánh ở Davis Cup cho Úc, thua tay vợt số 5 thế giới Alexander Zverev 5 set. Vào tháng 3, De Minaur thua vòng hai Indian Wells Masters trước nhà vô địch sau đó Juan Martín del Potro trứuoc khi vượt qua vòng loại thua ở vòng 1 Miami Masters. Vào tháng 4, De Minaur lần thứ ba vào chung kết giải ChallengerAlicante.

Anh đã đặc cách vào Giải quần vợt Pháp Mở rộng 2018,[20] nhưng thua ở vòng một trước hạt giống số 16 người Anh Quốc Kyle Edmund.[21] Sau đó, anh đã hai lần vào chung kết giải Challenger, thua Jérémy ChardySurbiton trước khi thắng Dan Evans để giành danh hiệu Challenger đầu tiên trong sự nghiệp của anh tại Nottingham Open.[22]

Thành tích đội tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Davis Cup[sửa | sửa mã nguồn]

De Miñaur lần đầu chơi Davis Cup cho Úc vào tháng 2 năm 2018. Anh thua tay vợt số 5 thế giới Alexander Zverev của Đức trong lượt trận đầu tiên, và thua trận đấu kéo dài tới 5 set tiebreak sau khi dẫn trước 3-0, 40-Adv.[23]

Chung kết sự nghiệp ATP[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn: 1 (1 á quân)[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích
Grand Slam (0–0)
ATP World Tour Finals (0–0)
ATP World Tour Masters 1000 (0–0)
ATP World Tour 500 Series (0–0)
ATP World Tour 250 Series (0–1)
Chung kết theo mặt sân
Cứng (0–1)
Đất nện (0–0)
Cỏ (0–0)
Kết quả T-B    Ngày    Giải đấu Thể loại Mặt sân Đồng đội Tỉ số
Á quân 0–1 0Lỗi: thời gian không hợp lệTháng 1 năm 2018 Sydney International, Úc 250 Series Cứng Nga Daniil Medvedev 6–1, 4–6, 5–7

Chung kết ATP Challenger và ITF Futures[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn: 8 (2-6)[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích
ATP Challenger Tour (1–4)
ITF Futures Tour (1–2)
Chung kết theo mặt sân
Cứng (1–1)
Đất nện (0–3)
Cỏ (1–1)
Thảm (0–1)
Kết quả T-B    Ngày    Giải đấu Thể loại Mặt sân Đối thủ Tỉ số
Á quân 0–1 0Lỗi: thời gian không hợp lệTháng 2 năm 2016 Spain F4, Murcia Futures Đất nện Canada Steven Diez 3–6, 4–6
Á quân 0–2 0Lỗi: thời gian không hợp lệTháng 5 năm 2016 Spain F14, Vic Futures Đất nện Tây Ban Nha Jaume Munar 6–7(5–7), 5–7
Á quân 0–3 0Lỗi: thời gian không hợp lệTháng 11 năm 2016 Eckental, Đức Challenger Thảm (i) Bỉ Steve Darcis 4–6, 2–6
Vô địch 1–3 0Lỗi: thời gian không hợp lệTháng 7 năm 2017 Portugal F11, Póvoa de Varzim Futures Cứng Bồ Đào Nha Frederico Ferreira Silva 6–1, 2–6, 6–2
Loss 1–4 0Lỗi: thời gian không hợp lệTháng 8 năm 2017 Segovia, Tây Ban Nha Challenger Cứng Tây Ban Nha Jaume Munar 3–6, 4–6
Á quân 1–5 0Lỗi: thời gian không hợp lệTháng 4 năm 2018 Alicante, Tây Ban Nha Challenger Đất nện Tây Ban Nha Pablo Andújar 6–7(5–7), 1–6
Á quân 1–6 0Lỗi: thời gian không hợp lệTháng 6 năm 2018 Surbiton, Anh Quốc Challenger Cỏ Pháp Jérémy Chardy 4–6, 6–4, 2–6
Vô địch 2–6 0Lỗi: thời gian không hợp lệTháng 6 năm 2018 Nottingham, Anh Quốc Challenger Cỏ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Dan Evans 7–6(7–4), 7–5

Đôi: 3 (2-1)[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích
ATP Challenger Tour (0–0)
ITF Futures Tour (2–1)
Chung kết theo mặt sân
Cứng (2–0)
Đất nện (0–1)
Cỏ (0–0)
Kết quả T-B    Ngày    Giải đấu Thể loại Mặt sân Đồng đội Đối thủ Tỉ số
Vô địch 1–0 0Lỗi: thời gian không hợp lệTháng 4 năm 2016 Spain F8, Madrid Futures Cứng Tây Ban Nha Carlos Boluda-Purkiss Tây Ban Nha Carlos Gómez-Herrera
Nhật Bản Akira Santillan
6–4, 6–4
Á quân 1–1 0Lỗi: thời gian không hợp lệTháng 5 năm 2016 Spain F12, Saint-Dizier Futures Đất nện Tây Ban Nha Carlos Boluda-Purkiss Ấn Độ Ramkumar Ramanathan
Tây Ban Nha David Vega Hernández
3–6, 1–6
Vô địch 2–1 0Lỗi: thời gian không hợp lệTháng 7 năm 2017 Portugal F11, Póvoa de Varzim Futures Cứng Tây Ban Nha Roberto Ortega Olmedo Úc Edward Bourchier
Úc Daniel Nolan
6–2, 6–1

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải
 CK  BK TK V# RR Q# A Z# PO G F-S SF-B NMS NH
(VĐ) Vô địch giải; vào tới (CK) chung kết, (BK) bán kết, (TK) tứ kết; (V#) các vòng 4, 3, 2, 1; thi đấu (RR) vòng bảng; vào tới vòng loại (Q#) vòng loại chính, 2, 1; (A) không tham dự giải; thi đấu tại (Z#) Nhóm khu vực (chỉ ra số nhóm) hoặc (PO) play-off Davis/Fed Cup; giành huy chương (G) vàng, (F-S) bạc hay (SF-B) đồng tại Olympic; Một giải (NMS) Masters Series/1000 bị giáng cấp; hoặc (NH) giải không tổ chức.
Để tránh nhầm lẫn hoặc tính thừa, bảng biểu cần được cập nhật khi giải đấu kết thúc hoặc vận động viên đã kết thúc quá trình thi đấu tại giải.

Tính đến Giải quần vợt Pháp Mở rộng 2018

Giải đấu 2016 2017 2018 SR T-B
Grand Slam
Úc Mở rộng VL1 V2 V1 0 / 2 1–2
Pháp Mở rộng A V1 V1 0 / 2 0–2
Wimbledon A VL2 V3 0 / 1 2–1
Mỹ Mở rộng A V1 0 / 1 0–1
Thắng-Bại 0–0 1–3 2–2 0 / 6 3–6
ATP World Tour Masters 1000
Indian Wells Masters A VL2 V2 0 / 1 1–1
Miami Masters A A V1 0 / 1 0–1
Monte-Carlo Masters A A A 0 / 0 0–0
Madrid Open A A A 0 / 0 0–0
Rome Masters A A A 0 / 0 0–0
Rogers Cup A A 0 / 0 0–0
Cincinnati Masters A A 0 / 0 0–0
Thượng Hải Masters A A 0 / 0 0–0
Paris Masters A A 0 / 0 0–0
Thắng-Bại 0–0 0–0 1–2 0 / 2 1–2
Thành tích đội tuyển
Thế vận hội Mùa hè A Không tổ chức 0 / 0 0–0
Davis Cup A A V1 0 / 1 0–1
Thống kê sự nghiệp
2016 2017 2018 Sự nghiệp
Giải đấu 0 5 9 14
Danh hiệu 0 0 0 0
Chung kết 0 0 1 1
Tổng số Thắng-Bại 0–0 2–5 11–10 13–15
%Thắng 29% 52% 46%
Xếp hạng cuối năm 349 208

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ở isolation, Álexde được phát âm là [ˈaleks][de] tương ứng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Alex De Minaur – Overview – ATP World Tour – Tennis”. 
  2. ^ “Alex de Minaur”. ATP Tour. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019. 
  3. ^ “Alex de Minaur - Overview - ATP World Tour - Tennis”. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019. 
  4. ^ “Teenager De Minaur Making Waves In Sydney”. ATPWorldTour.com. Ngày 11 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2018. 
  5. ^ RacquetComedy (ngày 18 tháng 5 năm 2016). “FULL INTERVIEW: Alex De Minaur”. YouTube.com. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018. 
  6. ^ “La historia del español que juega por Australia en siete razonamientos”. 
  7. ^ “MY FAMILY”. ALEX DE MIÑAUR (bằng tiếng en-AU). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  8. ^ “Aussie prodigy Alex De Minaur taking advice from Nick Kyrgios and Bernard Tomic”. Sydney Morning Herald. Ngày 8 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2018. 
  9. ^ “Alex de Minaur: Five Facts About Australia’s Latest Tennis Star”. UBI tennis. Ngày 16 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2018. 
  10. ^ “Alex De Minaur wins through to second round on Australian Open debut”. The Guardian. 16 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2017. 
  11. ^ “DE MINAUR AWARDED WILDCARD FOR ROLAND GARROS”. Tennis Australia. 18 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2017. 
  12. ^ “DESTANEE AIAVA AND ALEX DE MIÑAUR WIN AUSTRALIAN OPEN WILDCARDS”. Tennis Australia. 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2017. 
  13. ^ Australian Associated Press (29 tháng 12 năm 2017). “In-form De Miñaur dealt Brisbane wildcard”. Wide World of Sports. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  14. ^ Johnson, Paul (3 tháng 1 năm 2018). “Alex de Minaur blasts Milos Raonic out of Brisbane International”. The Australian (News Corp Australia). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  15. ^ Baynes, Valkerie (6 tháng 1 năm 2018). “Alex De Minaur falls agonisingly short against Ryan Harrison in Brisbane International semi-final”. The Courier-Mail (News Corp Australia). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  16. ^ “Nick Kyrgios through to Brisbane International final, Australian teen Alex De Minaur falls just short”. ABC. 6 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2018. 
  17. ^ Buckley, James (13 tháng 1 năm 2018). “Alex de Minaur the youngest player to make Sydney International final since Lleyton Hewitt”. Sydney Morning Herald (Fairfax Media Media). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  18. ^ Pandaram, Jamie (12 tháng 1 năm 2018). “Alex De Minaur v Benoit Paire: Aussie ‘Demon’ into Sydney International final”. The Daily Telegraph (News Corp Australia). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  19. ^ Kemp, Emma (13 tháng 1 năm 2018). “Australian Alex de Minaur loses Sydney International final but wins fans after gutsy display”. The West Australian (Seven West Media). Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018. 
  20. ^ https://www.rolandgarros.com/en-us/article/rg18-wild-cards-roland-garros-2018
  21. ^ https://www.theguardian.com/sport/2018/may/29/kyle-edmund-french-open-comfortable-victory-alex-de-miñaur
  22. ^ “Dan Evans beaten by Alex de Minaur in Nature Valley Open in Nottingham”. BBC. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018. 
  23. ^ Davis Cup: Alex De Minaur falls just short in thrilling debut

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Top ten Australian male singles tennis players