Alfonso XII của Tây Ban Nha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Alfonso XII)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Alfonso XII
King Alfonso XII.jpg
Ảnh năm 1884
Vua Tây Ban Nha
Tại vị 29 tháng 12 năm 187425 tháng 11 năm 1885
&0000000000000010.00000010 năm, &0000000000000331.000000331 ngày
Tiền nhiệm Amadeo I
Vua Tây Ban Nha
Francisco Serrano
Tổng thống Cộng hoà
Thủ tướng
Kế nhiệm Alfonso XIII
Thông tin chung
Phối ngẫu Mercedes của Orléans
Maria Christina của Áo
Hậu duệ Mercedes, Công chúa Asturias
Maria Teresa, Công chúa Ferdinand của Bayern
Alfonso XIII
Thân phụ Francisco de Asís của Tây Ban Nha
Thân mẫu Isabella II của Tây Ban Nha
Sinh 28 tháng 11 năm 1857
Madrid, Tây Ban Nha
Mất 25 tháng 11 năm 1885 (27 tuổi)
Madrid, Tây Ban Nha
An táng El Escorial
Tôn giáo Công giáo Roma

Alfonso XII, tên đầy đủ là Alfonso Francisco de Asís Fernando Pío Juan María de la Concepción Gregorio Pelayo (28 tháng 11 năm 1857 - 25 tháng 11 năm 1885) là vua của Tây Ban Nha, trị vì từ năm 1874 đến năm 1885, sau khi một cuộc đảo chính phục hồi chế độ quân chủ và kết thúc giai đoạn Đệ nhất Cộng hòa Tây Ban Nha.

Alfonso đã theo học tại Áo và Pháp, sau khi bị buộc phải lưu vong sau cuộc Cách mạng Vinh quang, đưa Isabella II ra khỏi ngôi vua vào năm 1868. Mẹ của ông nhường ngôi cho ông vào năm 1870, và ông trở lại Tây Ban Nha làm vua vào năm 1874 sau cuộc đảo chính quân sự. Alfonso qua đời ở tuổi 27 vào năm 1885, và được kế vị bởi đứa con chưa chào đời của ông, người đã trở thành Alfonso XIII của Tây Ban Nha vào năm sinh của ông vào năm sau.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Vương tử Alfonso.

Alfonso sinh ra ở Madrid, là con trưởng nữ vương Isabel II. Các tài liệu chính thống cho cha Alfonso là vương phu Francisco; tuy nhiên, có nghi vấn rằng cha thật của Alfonso là Enrique Puigmoltó y Mayans, một đại uý cận vệ của nữ vương.[1] Những lời đồn đại kiểu này được phe Carlos khai thác để hạ thấp uy danh của Alfonso.

Năm 1833, vua Fernando VII chết, người con gái lên ngôi tức nữ vương Isabel II. Em Fernando là vương tử Carlos, Bá tước Molina không phục, mới lập ra vây cánh tranh giành ngôi vua, đưa đến 3 cuộc nội chiến đẫm máu mang tên chiến tranh Carlos (1833–1840; 1846–1849; 1872–1876). Phe cánh của Carlos và những người thừa kế ông muốn khôi phục nền quân chủ chuyên chế Công giáo đang khi triều đình Isabel II muốn theo chế độ quân chủ lập hiến, chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa tự do.

Nữ vương Isabel, được các tướng giúp sức, đã đánh bại phe Carlos trong 2 cuộc chiến 1833–40 và 1846–49. Tuy nhiên, nữ vương cai trị kém hiệu quả, dẫn đến nhiều âm mưu đấu đá, xung đột nội bộ. Nữ vương lại còn thiên vị các tướng theo khuynh hướng bảo thủ và giáo hội. Năm 1868, các tướng theo chủ nghĩa tự do hợp sức làm cuộc đảo chính, lật đổ Isabel II. Sử gọi là cuộc Cách mạng Vinh quang. Nữ vương và chồng là Francisco, con là Alfonso phải trốn khỏi Tây Ban Nha. Năm 1870, quốc hội Tây Ban Nha lập vương tử Ý Amedeo làm vua. Nhà vua mới không giải quyết nổi các cuộc đấu đá, nên phải từ ngôi, quốc hội tuyên bố Tây Ban Nha là nước cộng hòa (1871).

Lưu vong[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1868, nữ vương Isabel cùng chồng chạy khỏi Tây Ban Nha, Alfonso cũng theo họ sang Paris. Cuộc lưu vong này đã đem lại nhiều trải nghiệm có ích cho Alfonso khi ông được tiếp xúc với hệ thống chính trị Pháp, AnhÁo. Trên thực tế, Alfonso là thái tử Tây Ban Nha đầu tiên được đào tạo trong các cơ sở giáo dục và quân sự nước ngoài.

Ở Paris, Isabel gửi Alfonso đi học tại cao đẳng Stanislas. Ngày 29 tháng 6 năm 1869, nữ vương và gia đình tạm trú ở Geneva, Alfonso học một trường ở đây. Sau, ông nhập học học viện Theresia (Viên). Ngày 25 tháng 6 năm 1870, nữ vương Isabel gọi ông về Paris nhận nhường ngôi. Trước sự chứng kiến của đông đảo quý tộc Tây Ban Nha trung thành với nữ vương, Alfonso xưng làm vua, lấy vương hiệu là Alfonso XII. Từ thời Tây Ban Nha thống nhất (1492) chưa có ông vua nào hiệu Alfonso, nên Alfonso XII muốn khẳng định sự tiếp nối với các vương triều Tây Ban Nha trước năm 1492, khi đó có 11 vua các xứ Asturias, LeónCastilla xưng hiệu Alfonso.[2]

Trung hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Nền cộng hòa mới được thành lập sớm trở nên bất ổn. Các lãnh đạo cộng hòa bất đồng nhau, lại bất lực đối phó với cuộc chiến ở Tây Ban Nha, những cuộc khởi nghĩa của nhân dân Hồi giáoMaroc. Lợi dụng thời cơ, người bảo hoàng vây cánh Carlos ra sức chống phá, chiếm CatalunyaBasque. Năm 1872, chiến tranh Carlos lần thứ ba bùng nổ. Các đại biểu phe bảo thủ trong chính phủ cộng hòa, dẫn đầu là Canovas del Castillo quyết định phò tá nhà Bourbon trung hưng, lập Alfonso XII làm vua.

Tháng 6 năm 1870, Canovas thuyết phục nữ vương Isabel nhường ngôi cho Alfonso, như đã nêu ở phần trên. Cánovas chưa gọi Alfonso về vội, mà muốn đứng ra lo việc giáo dục vị vua tương lai. Canovas gửi Alfonso đến học Cao đẳng Quân sự Hoàng gia, SandhurstAnh Quốc, tại đây Alfonso được hiểu biết về nền quân chủ lập hiến.

Ngày 1 tháng 12 năm 1874, để đáp lại lời chúc mừng sinh nhật từ những người ủng hộ, Alfonso ban bố Tuyên ngôn Sandhurst, đặt nền tảng về ý thức hệ cho cuộc trung hưng nhà Bourbon. Ngày 29 tháng 12 năm 1874 xảy ra cuộc đảo chính của chuẩn tướng Martínez Campos, người từ lâu đã làm việc ít nhiều công khai vì lợi ích của nhà vua. Campos dẫn một số tiểu đoàn vào Sagunto, chiêu dụ binh sĩ cộng hòa, rồi tiến vào Valencia dưới danh nghĩa nhà vua. Chính phủ cộng hòa sụp đổ, quyền lực chuyển giao cho Antonio Cánovas.[2] Canovas làm thủ tướng; tháng 1 năm 1874, Alfonso về Madrid, khi đi qua BarcelonaValencia được nhân dân chào đón nồng nhiệt. Ông được tấn phong Quốc vương trước quốc hội.

Dưới triều đại mình, Alfonso chú tâm vào việc củng cố nền quân chủ và ổn định chính quyền, khắc phục hậu quả của những cuộc đấu đá nội bộ thời trước. Nhờ đó ông được đặt biệt danh là "Người kiến tạo hòa bình" (el Pacificador). Ông đã phê chuẩn hiến pháp mới năm 1876; cùng năm này, chính phủ phát động tổng tấn công đánh phe Carlos, đứng đầu là Carlos, công tước xứ Madrid. Trong chiến dịch này, nhà vua đích thân ra quan sát trận tuyến. Quân chính phủ do các tướng Martínez-Campos và Jenaro Quesada chỉ huy đã đánh bại hoàn toàn phe Carlos. Năm 1878, hòa ước Zanjón được ký kết, tạm chấm dứt cuộc chiến tranh ở Tây Ban Nha.

Năm 1878 và 1879, vua Alfonso hai lần bị người theo chủ nghĩa vô chính phủ ám sát, nhưng ông thoát chết.

Alfonso XII có chuyến thăm chính thức tới Bỉ, Áo, Đức và Pháp năm 1883. Tại Đức, ông nhận chức đại tá danh dự một trung đoàn đồn trú Alsace – vùng đất mà Đức vừa chiếm từ tay Pháp năm 1871. Động thái này đã khiến nhà vua bị dân Paris phản ứng tiêu cực khi ông sang thăm Pháp.

Thời Alfonso đã xảy ra tranh chấp chủ quyền quần đảo Caroline (Thái Bình Dương) giữa Tây Ban Nha và Đức. Xung đột chấm dứt với thỏa thuận năm 1885 công nhận chủ quyền của Tây Ban Nha đối với quần đảo Caroline; tuy nhiên, Tây Ban Nha phải nhượng quần đảo Marshalls và cho phép Đức lập căn cứ hải quân trên quần đảo Caroline.

Theo nhận xét của Từ điển Bách khoa Anh, Alfonso XII là vị vua nhân từ, được nhân dân mến mộ vì liều mình đi thăm các quận bị dịch tả hoành hành và động đất tàn phá năm 1885. Ông cũng rất giỏi xử sự với quan chức và không để mình làm công cụ cho bất kỳ một đảng phái nào. Trong thời trị vì ngắn ngủ của ông, Tây Ban Nha và các thuộc địa đều yên ổn, nền tài chính trôi chảy và hệ thống hành chính vững chắc giúp Tây Ban Nha vượt qua cuộc chiến tranh đầy thảm họa với Hoa Kỳ năm 1898 mà không gặp nguy cơ cách mạng.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Juan Sisinio Pérez Garzón, Isabel II: Los Espejos de la Reina (2004)
  2. ^ a ă â  Một hoặc nhiều câu trên đây có sử dụng văn bản nay đã thuộc phạm vi công cộng, được lấy từ: Chisholm, Hugh biên tập (1911). “Alphonso s.v. Alphonso XII.”. Encyclopædia Britannica 1 (ấn bản 11). Nhà in Đại học Cambridge. tr. 736.