Alnilam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Alnilam
Orion constellation map.svg
Red circle.svg

Vị trí của Alnilam (khoanh tròn)
Dữ liệu quan sát
Kỷ nguyên J2000      Xuân phân J2000
Chòm sao Lạp Hộ
Xích kinh 05h 36m 12.8s[1]
Xích vĩ −01° 12′ 06.9″[1]
Cấp sao biểu kiến (V)1.69[2] (1.64 – 1.74[3])
Các đặc trưng
Kiểu quang phổB0 Ia[4]
Chỉ mục màu U-B−1.03[2]
Chỉ mục màu B-V−0.18[2]
Kiểu biến quangα Cygni[3]
Trắc lượng học thiên thể
Vận tốc xuyên tâm (Rv)25.9[5] km/s
Chuyển động riêng (μ) RA: 1.49[1] mas/năm
Dec.: −1.06[1] mas/năm
Thị sai (π)1.65 ± 0.45[1] mas
Khoảng cáchapprox. 2000 ly
(approx. 600 pc)
Cấp sao tuyệt đối (MV)−6.89[6]
Chi tiết
Khối lượng40[6] M
Bán kính32.4[6] R
Hấp dẫn bề mặt (log g)3.0[7]
Độ sáng537,000[6] L
Nhiệt độ27,500±100[6] K
Tốc độ tự quay (v sin i)40–70[7] km/s
Tên gọi khác
Alnilam, ε Ô-ri, 46 Lạp Hộ, 112 G Lạp Hộ, HR 1903, BD -01°969, HD 37128, SAO 132346, FK5 210, HIP 26311, TD1 4963, 参宿二
CSDL tham chiếu
SIMBADdữ liệu

Sao Alnilam /ælˈnlæm/,[8] có định danh ε Orionis, (được latinh hóa thành Epsilon Orionis, viết tắt Epsilon Ori, ε Ori)46 Orionis (46 Ori), là một ngôi sao siêu khổng lồ màu xanh lam cách Trái Đất 2.000 năm ánh sáng trong chòm sao Lạp Hộ. Người ta ước tính là ngôi sao này sáng hơn Mặt Trời từ 275,000 đến 832,000 lần và nặng hơn 30-64,5 lần.

Tính chất vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Các ước tính của đặc điểm Alnilam đều khác nhau. Crowther và các đồng nghiệp, sử dụng gió sao và mô hình khí quyển vào năm 2006, đã đưa ra một độ sáng 275.000 lần so với Mặt Trời (L☉), và nhiệt độ hiệu dụng là 27.000 K và bán kính 24 lần so với Mặt Trời (R☉).[9] Searle và các đồng nghiệp, sử dụng mã CMFGEN để phân tích quang phổ năm 2008, đã tính toán rằng độ sáng của ngôi sao là sáng hơn 537.000 lần so với Mặt Trời nhiệt độ hiệu dụng là 27.500 ± 100 K và bán kính 32,4 ± 0,75 bán kính Mặt Trời[6] Phân tích quang phổ và tuổi của ngôi sao của các thành viên của hiệp hội OB1 Orion mang lại khối lượng gấp 34,6 lần so với Mặt trời và độ tuổi 5,7 triệu năm.[10]

Định danh và lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Orionis là tên gọi của ngôi sao trong đinh danh Bayer46 Orion là tên gọi định danh Flamsteed của nó.

Tên truyền thống Alnilam bắt nguồn từ tiếng Ả Rập al-niẓām có nghĩa là 'sắp xếp/chuỗi ngọc trai'.[11] Vào năm 2016, Liên minh Thiên văn Quốc tế đã tổ chức một Nhóm làm việc về Tên Sao (WGSN) [12] để lập danh mục và chuẩn hóa tên riêng cho các ngôi sao. Một tập các tên của ngôi sao đầu tiên của WGSN vào tháng 7 năm 2016 [13] trong đó bao gồm Alnilam cho ngôi sao này. Bây giờ nó đã được nhập vào Danh mục tên của IAU.[14]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Alnilam trong tiểu thuyết

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c van Leeuwen, F. (tháng 11 năm 2007). “Validation of the new Hipparcos reduction”. Astronomy & Astrophysics 474 (2): 653–664. Bibcode:2007A&A...474..653V. arXiv:0708.1752. doi:10.1051/0004-6361:20078357. 
  2. ^ a ă â Ducati, J. R. (2002). “VizieR Online Data Catalog: Catalogue of Stellar Photometry in Johnson's 11-color system”. CDS/ADC Collection of Electronic Catalogues 2237. Bibcode:2002yCat.2237....0D. 
  3. ^ a ă Ruban, E. V.; Alekseeva, G. A.; Arkharov, A. A.; Hagen-Thorn, E. I.; Galkin, V. D.; Nikanorova, I. N.; Novikov, V. V.; Pakhomov, V. P.; Puzakova, T. Yu. (tháng 9 năm 2006). “Spectrophotometric observations of variable stars”. Astronomy Letters 32 (9): 604–607. Bibcode:2006AstL...32..604R. doi:10.1134/S1063773706090052. 
  4. ^ Morgan, W. W.; Keenan, Philip C.; Kellman, Edith (1943). “An Atlas of Stellar Spectra” (PDF). Astrophysical Monographs 152 (3849): 147. Bibcode:1943Natur.152..147.. doi:10.1038/152147a0. 
  5. ^ Gontcharov, G. A. (tháng 11 năm 2006). “Pulkovo Compilation of Radial Velocities for 35 495 Hipparcos stars in a common system”. Astronomy Letters 32 (11): 759–771. Bibcode:2006AstL...32..759G. arXiv:1606.08053. doi:10.1134/S1063773706110065. 
  6. ^ a ă â b c d Searle, S. C.; Prinja, R. K.; Massa, D.; Ryans, R. (2008). “Quantitative studies of the optical and UV spectra of Galactic early B supergiants. I. Fundamental parameters”. Astronomy and Astrophysics 481 (3): 777–97. Bibcode:2008A&A...481..777S. arXiv:0801.4289. doi:10.1051/0004-6361:20077125. 
  7. ^ a ă Puebla, R.E.; Hillier, D.J.; Zsargó, J.; Cohen, D.H.; Leutenegger, M.A. (2015). “X-ray, UV and optical analysis of supergiants: ϵ Ori”. Astronomy & Astrophysics 456 (3): 2907–2936. Bibcode:2016MNRAS.456.2907P. arXiv:1511.09365. doi:10.1093/mnras/stv2783. 
  8. ^ Kunitzsch, Paul; Smart, Tim (2006). A Dictionary of Modern star Names: A Short Guide to 254 Star Names and Their Derivations (ấn bản 2). Cambridge, Massachusetts: Sky Pub. ISBN 978-1-931559-44-7. 
  9. ^ Crowther, P. A.; Lennon, D. J.; Walborn, N. R. (tháng 1 năm 2006). “Physical parameters and wind properties of galactic early B supergiants”. Astronomy & Astrophysics 446 (1): 279–293. Bibcode:2006A&A...446..279C. arXiv:astro-ph/0509436. doi:10.1051/0004-6361:20053685. 
  10. ^ Voss, R.; Diehl, R.; Vink, J. S.; Hartmann, D. H. (2010). “Probing the evolving massive star population in Orion with kinematic and radioactive tracers”. Astronomy and Astrophysics 520: 10. Bibcode:2010A&A...520A..51V. arXiv:1005.3827. doi:10.1051/0004-6361/201014408. A51. 
  11. ^ Knobel, E. B. (tháng 9 năm 1909). “The name of epsilon Orionis”. The Observatory 32: 357. Bibcode:1909Obs....32..357K. 
  12. ^ “IAU Working Group on Star Names (WGSN)”. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2016. 
  13. ^ “Bulletin of the IAU Working Group on Star Names, No. 1” (PDF). Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2016. 
  14. ^ “IAU Catalog of Star Names”. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hình ảnh thiên văn của NASA trong ngày: Hình ảnh của Alnilam (29 tháng 9 năm 2009)