Alnilam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Sao Alnilam /ælˈnlæm/,[1] có định danh ε Orionis, (được latinh hóa thành Epsilon Orionis, viết tắt Epsilon Ori, ε Ori)46 Orionis (46 Ori), là một ngôi sao siêu khổng lồ màu xanh lam cách Trái Đất 2.000 năm ánh sáng trong chòm sao Lạp Hộ. Người ta ước tính là ngôi sao này sáng hơn Mặt Trời từ 275,000 đến 832,000 lần và nặng hơn 30-64,5 lần.

Tính chất vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Các ước tính của đặc điểm Alnilam đều khác nhau. Crowther và các đồng nghiệp, sử dụng gió sao và mô hình khí quyển vào năm 2006, đã đưa ra một độ sáng 275.000 lần so với Mặt Trời (L☉), và nhiệt độ hiệu dụng là 27.000 K và bán kính 24 lần so với Mặt Trời (R☉).[2] Searle và các đồng nghiệp, sử dụng mã CMFGEN để phân tích quang phổ năm 2008, đã tính toán rằng độ sáng của ngôi sao là sáng hơn 537.000 lần so với Mặt Trời nhiệt độ hiệu dụng là 27.500 ± 100 K và bán kính 32,4 ± 0,75 bán kính Mặt Trời[3] Phân tích quang phổ và tuổi của ngôi sao của các thành viên của hiệp hội OB1 Orion mang lại khối lượng gấp 34,6 lần so với Mặt trời và độ tuổi 5,7 triệu năm.[4]

Định danh và lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Orionis là tên gọi của ngôi sao trong đinh danh Bayer46 Orion là tên gọi định danh Flamsteed của nó.

Tên truyền thống Alnilam bắt nguồn từ tiếng Ả Rập al-niẓām có nghĩa là 'sắp xếp/chuỗi ngọc trai'.[5] Vào năm 2016, Liên minh Thiên văn Quốc tế đã tổ chức một Nhóm làm việc về Tên Sao (WGSN) [6] để lập danh mục và chuẩn hóa tên riêng cho các ngôi sao. Một tập các tên của ngôi sao đầu tiên của WGSN vào tháng 7 năm 2016 [7] trong đó bao gồm Alnilam cho ngôi sao này. Bây giờ nó đã được nhập vào Danh mục tên của IAU.[8]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Alnilam trong tiểu thuyết

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kunitzsch, Paul; Smart, Tim (2006). A Dictionary of Modern star Names: A Short Guide to 254 Star Names and Their Derivations (ấn bản 2). Cambridge, Massachusetts: Sky Pub. ISBN 978-1-931559-44-7. 
  2. ^ Crowther, P. A.; Lennon, D. J.; Walborn, N. R. (tháng 1 năm 2006). “Physical parameters and wind properties of galactic early B supergiants”. Astronomy & Astrophysics 446 (1): 279–293. Bibcode:2006A&A...446..279C. arXiv:astro-ph/0509436. doi:10.1051/0004-6361:20053685. 
  3. ^ Searle, S. C.; Prinja, R. K.; Massa, D.; Ryans, R. (2008). “Quantitative studies of the optical and UV spectra of Galactic early B supergiants. I. Fundamental parameters”. Astronomy and Astrophysics 481 (3): 777–97. Bibcode:2008A&A...481..777S. arXiv:0801.4289. doi:10.1051/0004-6361:20077125. 
  4. ^ Voss, R.; Diehl, R.; Vink, J. S.; Hartmann, D. H. (2010). “Probing the evolving massive star population in Orion with kinematic and radioactive tracers”. Astronomy and Astrophysics 520: 10. Bibcode:2010A&A...520A..51V. arXiv:1005.3827. doi:10.1051/0004-6361/201014408. A51. 
  5. ^ Knobel, E. B. (tháng 9 năm 1909). “The name of epsilon Orionis”. The Observatory 32: 357. Bibcode:1909Obs....32..357K. 
  6. ^ “IAU Working Group on Star Names (WGSN)”. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2016. 
  7. ^ “Bulletin of the IAU Working Group on Star Names, No. 1” (PDF). Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2016. 
  8. ^ “IAU Catalog of Star Names”. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hình ảnh thiên văn của NASA trong ngày: Hình ảnh của Alnilam (29 tháng 9 năm 2009)