Amagi (tàu sân bay Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Japanese aircraft carrier Amagi.jpg
Tàu sân bay Nhật Bản Amagi, tháng 8 năm 1944
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Đặt tên theo: núi Amagi
Hãng đóng tàu: Xưởng Hải quân Nagasaki
Kinh phí: ~109 triệu yên Nhật (thời giá 1943)
(Tương đương 1,08 tỷ USD thời giá 2017)
Đặt lườn: 1 tháng 10 năm 1942
Hạ thủy: 15 tháng 10 năm 1943
Hoạt động: 10 tháng 8 năm 1944
Số phận: Bị đánh đắm do không kích tại Căn cứ Hải quân Kure ngày 27 tháng 7 năm 1945
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Unryū
Trọng tải choán nước: 17.480 tấn
Độ dài: 227,4 m (745 ft 11 in)
Sườn ngang: 27 m (88 ft 7 in)
Mớn nước: 7,8 m (25 ft 9 in)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hộp số Kampon
8 × nồi hơi Ro-Gō Kampon
4 × trục
công suất: 152.000 mã lực (113,3 MW)
Tốc độ: 63 km/h (34 knot)
Tầm xa: 18.000 km ở tốc độ 33 km/h
(9.700 nm ở tốc độ 18 knot)
Thủy thủ đoàn: 1.595
Vũ trang: 12 × pháo 5 inch (127 mm) mục đích kép
51 × pháo phòng không 25 mm
168 × rocket phòng không 4,7 inch (6×28)
Bọc giáp: 25 mm (1 inch)
đai giáp: 46 mm (1,8 inch)
Máy bay mang theo: 57 + 8

Amagi (tiếng Nhật 天城: Thiên Thành) là một tàu sân bay hạm đội của Hải quân Đế quốc Nhật Bản phục vụ trong Thế Chiến II. Là chiếc tàu sân bay thứ hai trong lớp Unryū, chiếc Amagi được thiết kế nhẹ dựa trên lớp Hiryū. Nó chở được khoảng 65 máy bay và cũng trang bị 12 khẩu pháo 127 mm (5 inch) mục đích kép. Với lượng rẽ nước 22.400 tấn, nó có khả năng đạt được vận tốc 32 knot (59 km/h).

Amagi được chế tạo bởi Mitsubishi tại Nagasaki. Được đặt lườn vào ngày 1 tháng 10 năm 1942, nó được hạ thủy ngày 15 tháng 10 năm 1943 và đưa vào hoạt động ngày 10 tháng 8 năm 1944. Lực lượng không quân của nó bao gồm 23 chiếc máy bay tiêm kích Mitsubishi A6M "Zero", 21 chiếc máy bay ném bom bổ nhào Aichi D3A "Val" và 21 chiếc máy bay phóng ngư lôi Nakajima B6N "Jill".

Chiếc Amagi, được đặt tên theo núi Amagi, được đưa ra phục vụ vào năm 1944, nhưng chưa bao giờ được bố trí vai trò nào khác hơn là các hoạt động phòng không tại Kure, và sau đó bị đánh lật úp và chìm tại Căn cứ Hải quân Kure ngày 27 tháng 7 năm 1945. Nó được vớt lên vào năm 1946 và bị tháo dỡ vào năm tiếp theo.

Chiếc Amagi bị lật úp tại Căn cứ Hải quân Kure.

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]