Amuro Namie

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Namie Amuro
(安室奈美恵)
Namie Amuro MAA.JPG
Namie Amuro năm 2005
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh 安室奈美恵 (Amuro Namie)
Sinh 20 tháng 9, 1977 (39 tuổi)
Nguyên quán Nhật Bản Naha, Okinawa, Nhật Bản
Nghề nghiệp Ca sĩ, diễn viên, vũ công, người mẫu
Thể loại Pop, R&B, urban, dance, hip-pop, electronica, house
Nhạc cụ Giọng hát
Năm hoạt động 1992–nay
Hãng đĩa Toshiba-EMI (1992-1995)
Avex Trax (1995-nay)
Hợp tác với SUPER MONKEY'S
SUITE CHIC
MAX
Website http://namieamuro.jp/
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Amuro. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).

Namie Amuro (安室奈美恵 (An Thất Nại Mỹ Huệ) Amuro Namie?) (sinh ngày 20 tháng 9 năm 1977) là một ca sĩ nhạc Pop, biểu tượng thời trang và diễn viên người Nhật Bản mà trong thời kì đỉnh cao sự nghiệp cô được mệnh danh "Nữ hoàng J-pop", "Madonna của Nhật" hay "Janet Jackson của Nhật".[1][2][3]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra tại Naha, Okinawa, Amuro khởi nghiệp năm 14 tuổi, là một thành viên trong nhóm nhạc nữ Super Monkey's. Dù sự nghiệp của nhóm hầu như không thành công, nhưng đĩa đơn cuối cùng của họ "TRY ME ~私を信じて~" (1998) gây được nhiều chú ý. Amuro rời khỏi Toshiba-EMI sau khi phát hành thêm 2 đĩa đơn solo và cô tiếp tục hoạt động như một ca sĩ độc lập với hãng đĩa Avex Trax. Dưới sự dẫn dắt của nhà sản xuất Tetsuya Komuro, Amuro nhanh chóng đạt được những thành công thương mại với hàng triệu bản thu âm được tiêu thụ và tạo ra những xu hướng thời trang cho giới trẻ lúc bấy giờ.[4][5] Đĩa đơn "CAN YOU CELEBRATE?" (1997) vẫn đang giữ kỷ lục đĩa đơn có lượng tiêu thụ cao nhất bởi một nữ nghệ sĩ tại Nhật.[6] Tuy nhiên cuối năm 1997, cô tạm ngưng hoạt động vì đám cưới và việc mang thai.[7]

Amuro trở lại với âm nhạc bằng đĩa đơn "I HAVE NEVER SEEN" (1998) và album GENIUS 2000 (2000) đều đứng đầu bảng xếp hạng nhưng số lượng bán ra giảm mạnh so với những sản phẩm trước của cô. Sau khi ngừng hợp tác với Tetsuya Komuro năm 2001, Amuro tham gia vào dự án SUITE CHIC - một nhóm nhạc R&B/hip-hop với mục đích hướng tới dòng nhạc này.[8] Nhờ việc đổi mới hình ảnh và thể loại âm nhạc hip-pop, cô một lần nữa lấy lại được thành công và danh tiếng. Album phòng thu thứ bảy PLAY (2007) đứng đầu bảng xếp hạng và có lượng tiệu thu cao nhất kể từ GENIUS 2000.[9] Những album sau đó của cô đều giữ được lượng tiêu thụ ổn định, khẳng định vị trí của cô trong thị trường âm nhạc.

Hơn 20 năm sự nghiệp, Amuro là một trong những nữ nghệ sĩ giữ được danh tiếng lâu nhất tại Nhật. Cô vẫn tiếp tục thành công cả khi đã li hôn, mất gia đình, đơn thân nuôi con.[10] Cô cũng 2 lần thắng giải Grand Prix Award cùng nhiều giải thưởng danh giá như MTV Video Music Awards Japan, World Music Awards, Japan Gold Disc Award.[11][12] Tính đến năm 2012, số lượng đĩa nhạc bán ra của Amuro là 31 triệu bản, xếp thứ 4 trong danh sách những nữ nghệ sĩ và thứ 12 trong danh sách chung của các nghệ sĩ bán đĩa nhiều nhất.[13]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

# Tên Ngày phát hành Xếp hạng (JPN) Doanh thu (JPN)[14]
1 Dance Tracks Vol. 1 16/10/1995 1 1,865,000
2 Sweet 19 Blues 22/07/1996 1 3,360,000
3 Concentration 20 24/07/1997 1 1,930,000
4 Genius 2000 26/01/2000 1 803,000
5 Break the Rules 20/12/2000 2 334,520
6 STYLE 10/12/2003 4 222,000
7 Queen of Hip-Pop 13/07/2005 2 455,000
8 PLAY 27/06/2007 1 545,000
9 Past<Future 16/12/2009 1 577,000
10 Uncontrolled 27/06/2012 1 537,000
11 FEEL 10/07/2013 1 303,000
12 _genic 10/06/2015 1 246,000

Album tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

# Tên Ngày phát hành Xếp hạng (JPN) Doanh thu (JPN)[14]
1 Original Tracks Vol. 1 30/09/1996 3 419,000
2 181920 28/01/1998 1 1,692,000
3 Love Enhanced Single Collection 13/03/2002 3 305,000
4 Best Fiction 30/07/2008 1 1,550,000
5 Checkmate! 27/04/2011 1 488,000
6 Ballada 04/06/2014 1 433,000

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

# Tên Ngày phát hành Xếp hạng (JPN) Doanh thu (JPN)[14]
1 Taiyou no SEASON 26/04/1995 5 611,000
2 Stop the music 24/07/1995 4 528,000
3 Body Feels EXIT 25/10/1995 3 882,000
4 Chase the Chance 04/12/1995 1 1,362,000
5 Don't wanna cry 13/03/1996 1 1,390,000
6 You're my sunshine 05/06/1996 1 1,099,000
7 SWEET 19 BLUES 21/08/1996 2 453,000
8 a walk in the park 27/11/1996 1 1,067,000
9 CAN YOU CELEBRATE? 19/02/1997 1 2,750,000
10 How to be a Girl 21/05/1997 1 772,000
11 Dreaming I was dreaming 27/11/1997 1 559,000
12 I HAVE NEVER SEEN 23/12/1998 1 657,000
13 RESPECT the POWER OF LOVE 17/03/1999 2 492,000
14 toi et moi 07/07/1999 3 272,000
15 SOMETHING 'BOUT THE KISS 01/09/1999 3 369,000
16 LOVE 2000 01/01/2000 4 228,000
17 NEVER END 12/07/2000 2 640,000
18 PLEASE SMILE AGAIN 04/10/2000 2 217,000
19 think of me/no more tears 24/01/2001 7 113,000
20 Say the word 08/08/2001 3 184,000
21 I WILL 14/02/2002 7 95,000
22 Wishing On The Same Star 11/09/2002 2 97,000
23 shine more 05/03/2003 8 52,000
24 Put 'Em Up 16/07/2003 7 41,000
25 SO CRAZY/Come 16/10/2003 8 49,000
26 ALARM 17/03/2004 11 50,000
27 ALL FOR YOU 22/07/2004 6 113,000
28 GIRL TALK/the SPEED STAR 14/10/2004 2 107,000
29 WANT ME, WANT ME 06/04/2005 2 103,000
30 White Light/Violet Sauce 16/11/2005 7 73,000
31 CAN'T SLEEP, CAN'T EAT, I'M SICK/Ningyo 17/05/2006 2 80,000
32 Baby Don't Cry 24/01/2007 3 144,000
33 FUNKY TOWN 04/04/2007 3 54,000
34 60s 70s 80s 12/03/2008 1 293,000
35 WILD/Dr. 18/03/2009 1 119,000
36 Break It/Get Myself Back 28/07/2010 3 85,000
37 NAKED/Fight Together/Tempest 27/07/2011 2 101,000
38 Sit! Stay! Wait! Down!/Love Story 07/12/2011 3 162,000
39 Go Round/YEAH-OH 21/03/2012 4 65,000
40 Big Boys Cry/Beautiful 06/03/2013 4 32,000
41 TSUKI 29/01/2014 3 67,000
42 BRIGHTER DAY 12/11/2014 8 53,000
43 Red Carpet 02/12/2015 2 36,000
44 Mint 18/05/2016 4 45,000
45 Hero 27/07/2016 6 57,000
46 Dear Diary/Fighter 26/10/2016

Tour diễn[sửa | sửa mã nguồn]

  • 31 tháng 8 - 1 tháng 9 năm 1996: Summer presents '96 Namie Amuro with Super Monkey's
  • 23 tháng 3 - 18 tháng 5 năm 1997: Namie Amuro Tour 1997 a walk in the park
  • 26 tháng 7 - 13 tháng 8 năm 1997: Mistio presents Namie Amuro Summer Stage '97 Concentration 20
  • 20 tháng 3 - 7 tháng 5 năm 2000: Namie Amuro Tour Genius 2000
  • 18 tháng 3 - 27 tháng 5 năm 2001: Namie Amuro Tour 2001 Break the Rules
  • 17 tháng 10 - 10 tháng 11 năm 2001: Namie Amuro Tour "AmR" '01
  • 29 tháng 11 năm 2003 - 11 tháng 4 năm 2004: Namie Amuro So Crazy Tour featuring Best Singles 2003-2004
  • 27 tháng 8 - 20 tháng 9 năm 2004: Namie Amuro Tour "fan space '04"
  • 1 tháng 9 - 24 tháng 12 năm 2005: Space of Hip-Pop: Namie Amuro Tour 2005
  • 13 tháng 8 - 23 tháng 11 năm 2006: Namie Amuro Best Tour LIVE STYLE 2006
  • 18 tháng 8 năm 2007 - 13 tháng 4 năm 2008: Namie Amuro PLAY Tour 2007-2008
  • 25 tháng 10 năm 2008 - 31 tháng 5 năm 2009: Namie Amuro Best Fiction Tour 2008-2009
  • 3 tháng 4 - 15 tháng 12 năm 2010: Namie Amuro Past<Future Tour 2010
  • 30 tháng 7 - 27 tháng 12 năm 2011: Namie Amuro LIVE STYLE 2011
  • 24 tháng 11 - 21 tháng 12 năm 2012: Namie Amuro 5 Major Domes Tour 2012 ~20th Anniversary Best~
  • 23-24 tháng 2, 16 tháng 3 & 26 tháng 4 năm 2013: Namie Amuro ASIA Tour 2013
  • 16 tháng 8 - 23 tháng 12 năm 2013: Namie Amuro FEEL Tour 2013
  • 22 tháng 8 - 23 tháng 12 năm 2014: Namie Amuro LIVE STYLE 2014
  • 5 tháng 9 năm 2015 - 10 tháng 2 năm 2016: Namie Amuro Livegenic 2015-2016
  • 19 tháng 8 năm 2016 - 31 tháng 3 năm 2017: Namie Amuro LIVE STYLE 2016-2017

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Herskovitz, Jon (ngày 17 tháng 1 năm 1998). “Japan's Stardom School; Pop Phenoms Get Their Start in an Okinawa Mall”. The Washington Post: B.08. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2008. 
  2. ^ Tony Parsons 2004, tr. 328
  3. ^ Tim Ryan (ngày 11 tháng 5 năm 2000). “Shy Amuro turned into Japan’s ‘Madonna’”. Honolulu Star-Bulletin. Oahu Publications Inc. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2013. EVER hear of Namie Amuro? Most people outside Asia haven't, but she's been called Japan's Madonna (the singer, not the religious figure). 
  4. ^ “Baggy Socks (Schoolgirl Fashion)”. Ngày 6 tháng 4 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2006. 
  5. ^ Jim Frederick (ngày 11 tháng 10 năm 2004). “Cracking the code of Tokyo's teens”. TIME. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2006. 
  6. ^ (tiếng Nhật) “大人が選ぶ女性バラードBEST30”. TV Asahi. Ngày 8 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2008. 
  7. ^ "Can you celebrate? Not yet, Amuro-chan". The Japan Times Online. ngày 4 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011.
  8. ^ (tiếng Nhật) “SUITE CHIC”. bounce.com. Ngày 20 tháng 2 năm 2003. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2008. 
  9. ^ (tiếng Nhật) “安室奈美恵、7年5ヵ月ぶりに首位返り咲き”. oricon. Ngày 3 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2008. 
  10. ^ Lewis, Leo (ngày 26 tháng 1 năm 2005). “Comeback queen of J-pop”. London: Times Online. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2008. 
  11. ^ “Singing sensation plans Hawaii concert”. Honolulu Star Bulletin. Ngày 31 tháng 3 năm 2000. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2006. 
  12. ^ (tiếng Nhật) “第39回日本レコード大賞”. Japan Record Award. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008. 
  13. ^ “Oricon Thread 2012 (AKB48 #1 single, EXILE #1 album)”. JPOP Central. Ngày 14 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2013. 
  14. ^ a ă â (tiếng Nhật) “オリコンランキング情報サービス「you大樹」” [Oricon Ranking Information Service 'You Big Tree']. Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2014. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]