Anna Akhmatova

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Anna Akhmatova
Sinh 23 tháng 6 năm 1889
Odessa, Nga
Mất 5 tháng 3 năm 1966
Domodedovo, Moskva, Liên Xô
Công việc Nhà thơ
Quốc gia Nga

Anna Akhmatova (tiếng Nga: Анна Ахматова, tên thật: Анна Андреевна Горенко Anna Andreevna Gorenko, 23 tháng 6 năm 18895 tháng 3 năm 1966) - nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình văn học, dịch giả Nga, một trong những gương mặt xuất sắc nhất của thơ Nga thế kỉ 20. Nhà thơ Yevgeny Yevtushenko gọi Anna Akhmatova là "đêm trắng của thi ca Nga".

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Anna Andreevna Gorenko sinh ở Bolshoy Fontan, Odessa (nay là Ukraina). Năm 1890 gia đình chuyển về Tsarskoe Selo, Sankt-Peterburg. Năm 1905 bố mẹ chia tay nhau, các con theo mẹ đến thành phố Evpatoria ở phía nam. Bà học luật ở Kiev năm 1906-1907 và học văn học và lịch sử ở Sankt-Peterburg năm 1908-1910. Tháng 4 năm 1910 bà lấy chồng là nhà thơ Nikolai Stepanovich Gumilyov sau đó đi du lịch sang Pháp, Ý.

Bà viết thơ đầu tiên năm 11 tuổi in ở tạp chí Apollo nhưng bố không cho lấy họ Gorenko nên đã lấy họ thời trẻ của bà ngoại là Akhmatova. Năm 1912 Anna Akhmatova in tập thơ đầu tiên Вечер (Buổi chiều) được giới phê bình chú ý; năm 1914 bà in tập thơ thứ hai Чётки (Tràng hạt). Những nét chính của thơ Anna Akhmatova là sự hiểu biết tinh tế của những cung bậc tình cảm, sự suy ngẫm về những bi kịch nửa đầu thế kỉ 20. Trường ca Реквием (Khúc tưởng niệm, 1935-1940 in năm 1976) viết về những nạn nhân của cuộc trấn áp trong thập niên 1930. Đỉnh cao trong sáng tác của bà là Поэмa без героя (Trường ca không có nhân vật, 1940-1965) được đánh giá là một tác phẩm thi ca triết học tầm cỡ của thế giới.

Năm 1962 bà được đề cử trong danh sách xét giải Nobel Văn học[cần dẫn nguồn]. Năm 1964 bà được tặng giải Etna Taomina của Ý; năm 1965 bà được trao bằng Tiến sĩ danh dự của Đại học Oxford.

Ngoài thơ, Anna Akhmatova còn là tác giả của nhiều bài viết về Aleksandr Sergeyevich Pushkin và các nhà thơ đương thời. Anna Akhmatova được mệnh danh là "Bà chúa thơ tình Nga". Thơ của bà được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, tiếng Việt có bản dịch "150 bài thơ và trường ca Anna Akhmatova" của Nguyễn Viết Thắng.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Вечер (Buổi chiều, 1912), thơ
  • Чётки (Tràng hạt, 1914), thơ
  • Белая стая (Bầy trắng, 1917), thơ
  • Подорожник (Xa tiền thảo, 1921), thơ
  • Anno Domini MCMXXI, 1922, thơ
  • У самого моря (Bên biển, 1921), trường ca
  • Бег времени (Bước chạy của thời gian, 1965), thơ
  • Поэме без героя (Trường ca không nhân vật, 1940—1965, in đầy đủ năm 1976), trường ca
  • Реквием (Khúc tưởng niệm, 1935-40; in năm 1976), trường ca

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Любовь
То змейкой, свернувшись клубком,
У самого сердца колдует,
То целые дни голубком
На белом окошке воркует,
 
То в инее ярком блеснет,
Почудится в дреме левкоя...
Но верно и тайно ведет
От радости и от покоя.
 
Умеет так сладко рыдать
В молитве тоскующей скрипки,
И страшно ее угадать
В еще незнакомой улыбке.
 
Песня последней встречи
Так беспомощно грудь холодела,
Но шаги мои были легки.
Я на правую руку надела
Перчатку с левой руки.
 
Показалось, что много ступеней,
А я знала - их только три!
Между кленов шепот осенний
Попросил: "Со мною умри!
 
Я обманут моей унылой
Переменчивой, злой судьбой".
Я ответила: "Милый, милый -
И я тоже. Умру с тобой!"
 
Это песня последней встречи.
Я взглянула на темный дом.
Только в спальне горели свечи
Равнодушно-желтым огнем.
 
Не с теми я, кто бросил землю
Не с теми я, кто бросил землю
На растерзание врагам.
Их грубой лести я не внемлю,
Им песен я своих не дам.
 
Но вечно жалок мне изгнанник,
Как заключенный, как больной.
Темна твоя дорога, странник,
Полынью пахнет хлеб чужой.
 
А здесь, в глухом чаду пожара
Остаток юности губя,
Мы ни единого удара
Не отклонили от себя.
 
И знаем, что в оценке поздней
Оправдан будет каждый час...
Но в мире нет людей бесслезней,
Надменнее и проще нас.
 
Клятва
И та, что сегодня прощается с милым,-
Пусть боль свою в силу она переплавит.
Мы детям клянемся, клянемся могилам,
Что нас покориться никто не заставит!
 
Mужество
Мы знаем, что ныне лежит на весах
И что совершается ныне.
Час мужества пробил на наших часах,
И мужество нас не покинет.
 
Не страшно под пулями мертвыми лечь,
Не горько остаться без крова,
И мы сохраним тебя, русская речь,
Великое русское слово.
 
Свободным и чистым тебя пронесем,
И внукам дадим, и от плена спасем
Навеки.
Tình yêu
Tình như con rắn cuộn tròn
Trong sâu thẳm con tim làm phép thuật
Tình là bồ câu suốt ngày đêm
Bên cửa sổ gật gù khoan nhặt.
 
Tình là lấp lánh trong sương
Thuỷ dương mai trong mơ màng linh cảm…
Nhưng tình rất chân thành và bí ẩn
Tình bắt nguồn từ tĩnh lặng, hân hoan.
 
Tình là biết ngọt ngào, nức nở
Trong lời cầu nguyện của cây đàn.
Và thật khủng khiếp nhận ra tình
Trong nụ cười hãy còn xa lạ.
 
Bài ca của lần gặp cuối cùng
Ngực buốt giá không làm sao ấm lại
Nhưng bước chân vẫn cứ nhẹ như không
Bàn tay phải của em đã xỏ nhầm
Vào chiếc găng của bàn tay trái.
 
Đã hiện ra nhiều bậc thang trước mắt
Thế mà em chỉ biết có ba
Giữa những cây phong tiếng xào xạc mùa thu
Nói với em: "Cùng với anh hãy chết!
 
Anh bị lừa bởi ba đào số kiếp
Hay đổi thay, ác nghiệt, đau buồn".
Em trả lời: "Hỡi người em yêu thương
Em cũng vậy. Cùng với anh sẽ chết!"
 
Đây bài ca của lần gặp cuối cùng
Em nhìn vào ngôi nhà tối sẫm
Chỉ những ngọn nến đang cháy trong buồng
Bằng ngọn lửa màu vàng rất lãnh đạm.
 
Ta không cùng những kẻ
Ta không cùng những kẻ
Bỏ quê hương, mặc cắn xé quân thù
Ta không nghe lời tâng bốc của họ
Và không trao cho họ những bài thơ.
 
Nhưng muôn thuở thương kẻ đày phát vãng
Như kẻ tù nhân, như kẻ tật nguyền.
Con đường tối tăm của người du lãng
Mùi bánh mì, ngải cứu lạ bốc lên.
 
Còn ở đây, trong khói đám cháy này
Ta phí hoài chút tuổi xuân còn lại
Nhưng chưa từng một đòn đau nào
Nhận về mình ta từ chối.
 
Ta biết, sự đánh giá sau này, dù chậm
Sẽ thanh minh cho từng phút, từng giờ
Nhưng trên đời không có người đơn giản
Không nước mắt và kiêu hãnh hơn ta.
 
Lời thề
Người con gái hôm nay vĩnh biệt người thương
Sẽ biến nỗi đau thương của mình thành sức mạnh
Ta thề với cháu con, với những nấm mồ yên lặng
Rằng không ai bắt được ta quỳ gối đầu hàng!
 
Lòng dũng cảm
Ta biết rằng điều gì đang có giá
Và điều gì đang hoàn thiện bây giờ.
Giờ dũng cảm trên đồng hồ ta đó
Lòng dũng cảm này không giã từ ta.
 
Dưới viên đạn chết ta nằm không sợ
Chẳng đắng cay còn lại kẻ không nhà
Và giọng nói dân tộc Nga gìn giữ
Vĩ đại thay những lời Nga.
 
Ta làm cho ngươi tự do, trong sáng
Cho cháu con thoát khỏi vòng tù hãm
Đến muôn đời!
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Nhại thơ của A. Akhmatova[sửa | sửa mã nguồn]

Малахов Сергей
Настоящую даму не спутать
Ни за что: ведь она в мехах.
Ты напрасно хочешь напутать.
И ответил он жалобно: - Ах!
 
Только вздрогнула: - Милый! Милый!
О, господь мой, ты мне помоги!
И на правую руку стащила
Галошу с левой ноги.
 
Задыхаясь, ты крикнул: - Анютка!
Я на лесенку села: - Ну что?
Улыбнулся спокойно и жутко
И сказал: - Не протри пальто!
Sergei Malakhov
Người phụ nữ của mình anh đừng lẫn[1]
Với một người nào: em quấn khăn lông
Còn anh muốn lẫn lộn chỉ hoài công
Và anh ra vẻ thở dài, than vắn.
 
Em giật mình kêu: này anh, này anh!
Ô, lạy Chúa, anh giúp cho em mấy
Em nhầm lẫn xỏ chiếc giày bên trái
Sang bàn chân bên phải của mình.[2]
 
Anh thở dài, kêu lên: An-nhiu-ta![3]
Còn em ngồi lên bậc thềm: – Gì thế?
Anh mỉm cười rất ghê và lặng lẽ
Rồi nói rằng: – đừng cọ xát bành tô!
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Thơ về A. Akhmatova[sửa | sửa mã nguồn]

Евгений Евтушенко
 
Ахматова двувременной была.
О ней и плакать как-то не пристало.
Не верилось, когда она жила,
не верилось, когда ее не стало.
 
Она ушла, как будто бы напев
уходит в глубь темнеющего сада.
Она ушла, как будто бы навек
вернулась в Петербург из Ленинграда.
 
Она связала эти времена
в туманно-теневое средоточье,
и если Пушкин - солнце, то она
в поэзии пребудет белой ночью.
 
Над смертью и бессмертьем, вне всего,
она лежала, как бы между прочим,
не в настоящем, а поверх него,
лежала между будущим и прошлым.
 
И прошлое у гроба тихо шло
не вереницей дам богоугодных.
Седые челки гордо и светло
мерцали из-под шляпок старомодных.
 
Да, изменило время их черты,
красавиц той, когдатошней России,
но их глаза - лампады доброты -
ни крутоверть, ни мгла не загасили.
 
Шло будущее, слабое в плечах.
Шли мальчики. Они себя сжигали
пожаром гимназическим в очах
и в кулаках тетрадочки сжимали.
 
И девочки в портфельчиках своих
несли, наверно, дневники и списки.
Все те же - из Блаженных и святых -
наивные российские курсистки.
 
И ты, распад всемирный, не убий
ту связь времен,- она еще поможет.
Ведь просто быть не может двух России,
как быть и двух Ахматовых не может.
Yevgeny Yevtushenko
 
Akhmatova là người của hai thời
Có vẻ như về nàng không nên khóc
Nàng đã sống, có vẻ không tin được
Lại không thể tin nàng đã qua đời.
 
Nàng ra đi, giống như một bài ca
Đi vào sâu thẳm của khu vườn tối
Nàng ra đi, có vẻ như mãi mãi
Từ Leningrad trở về Pê-téc-bua.
 
Nàng gắn chặt với cả hai thời gian
Giữa tâm điểm của sương và của bóng
Nếu Puskin là mặt trời, thì nàng
Trong thơ ca – sẽ mãi là đêm trắng.
 
Trên cái chết, bất tử, ngoài tất cả
Nàng đã nằm – có lẽ nói thế này:
Không phải trong hiện tại, mà trên nó
Nàng đã nằm giữa quá khứ, tương lai.
 
Và quá khứ bên quan tài im lặng
Không như của người sống hợp ý trời.
Bờm tóc bạc sáng sủa và kiêu hãnh
Lấp lánh từ những chíêc mũ lỗi thời.
 
Vâng, thời gian làm đổi thay đường nét
Những con người thời đó ở nước Nga
Nhưng đôi mắt họ – ánh sáng nhân từ –
Chẳng gió xoáy hay sương nào dập tắt.
 
Tương lai yếu đuối trên những đôi vai
Những cậu bé đi đến trường đã đốt
Ngọn lửa học trò trong từng đôi mắt
Những cuốn vở con nắm chặt trong tay.
 
Và những cô bé trong cặp của mình
Có lẽ mang nhật ký và danh mục
Họ vẫn thế – thiêng liêng và hạnh phúc
Vẫn ngây thơ như ngày ấy nữ sinh.
 
Sự sụp đổ toàn cầu, xin đừng để
Mất đi mối liên hệ của thời gian
Vì không thể hai nước Nga – điều giản đơn
Cũng như hai Akhmatova, không thể.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bài thơ này nhại theo những chi tiết của hai bài thơ: “Sự âu yếm bây giờ anh đừng lẫn” và “Bài ca của lần gặp cuối cùng” của Akhmatova.
  2. ^ Chi tiết “tay phải xỏ nhầm găng tay trái” của Akhmatova rất đặc trưng cho vẻ bối rối của người phụ nữ khi yêu, chi tiết này rất nổi tiếng và, như ta thấy, có rất nhiều người nhại theo chi tiết này.
  3. ^ Cách gọi âu yếm tên Anna.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]