Anna của Áo, Vương hậu Ba Lan
| Anna của Áo | |
|---|---|
Chân dung bởi Martin Kober, năm 1595 | |
| Vương hậu Ba Lan Đại Công tước phu nhân xứ Litva | |
| Tại vị | 31 tháng 5 năm 1592 – 10 tháng 2 năm 1598 |
| Đăng quang | 31 tháng 5 năm 1592 Nhà thờ chính tòa Wawel, Kraków |
| Vương hậu Thụy Điển Đại Công tước phu nhân Phần Lan | |
| Tại vị | 17 tháng 11 năm 1592 – 10 tháng 2 năm 1598 |
| Đăng quang | 19 tháng 2 năm 1594 |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 16 tháng 8 năm 1573 Graz, Công quốc Steiermark, Đế quốc La Mã Thần thánh |
| Mất | 10 tháng 2 năm 1598 (24 tuổi) Warsaw, Vương quốc Ba Lan, Liên bang Ba Lan và Lietuva |
| An táng | Nhà thờ chính tòa Wawel, Kraków, Ba Lan |
| Phối ngẫu | Zygmunt III Waza (cưới 1592) |
| Hậu duệ | Władysław IV Waza |
| Hoàng tộc | Nhà Habsburg |
| Thân phụ | Karl II của Nội Áo |
| Thân mẫu | Maria Anna của Bayern |
Anna của Áo (16 tháng 8 năm 1573 – 10 tháng 2 năm 1598) là Vương hậu Ba Lan và Thụy Điển và là Đại Công tước phu nhân xứ Litva với tư cách là vợ đầu tiên của Zygmunt III Waza.
Tiểu sử
[sửa | sửa mã nguồn]Anna là con gái của Karl II của Nội Áo và Maria Anna của Bayern. Bà là cháu của Ferdinand I, Hoàng đế La Mã Thần thánh, và Anne của Bohemia và Hungary (1503–1547).
Mẹ của bà là một người ủng hộ quan trọng của phong trào Phản Cải cách tại Nội Áo và đã nuôi dạy con cái với trọng tâm tuyệt đối vào đức tin Công giáo. Từ khi mới một tuổi, các anh chị em của Anna đã phải đi nhà thờ, những từ đầu tiên phải học là “Jesus” và “Mary”. Họ được các linh mục Công giáo dạy dỗ và tiếng Latinh phải được ưu tiên, thậm chí trước cả tiếng Đức - ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Khi còn nhỏ, Anna được gọi là “Andle”, bà được dạy dịch tác phẩm Vita Ignatii Loyolæ của Pedro de Ribadeneira từ tiếng Latinh sang tiếng Đức. Ngoài tiếng Latinh và giáo lý Công giáo, bà chủ yếu được dạy các kỹ năng nội trợ như may vá và nấu ăn.[1]
Kết hôn
[sửa | sửa mã nguồn]Năm. 1577, đại sứ của Giáo hoàng tại Thụy Điển, Antonio Possevino, đề nghị con cái của Quốc vương John III của Thụy Điển kết hôn với các thành viên của Vương tộc Habsburg. Đây là giai đoạn Thụy Điển đang tiến gần đến phong trào Phản Cải cách dưới thời John III và Vương hậu Ba Lan, Catherine Jagiellon. Giáo hoàng đã chấp thuận ý tưởng liên minh hôn nhân giữa Habsburg và Thụy Điển qua hai nhân vật Anna và Sigismund, Quốc vương và vương hậu Ba Lan cũng đồng ý. Khi đến Graz năm 1578, Possevino nhận được một bức chân dung của Anna để mang về trình bày trong lần tiếp theo ông đến triều đình Thụy Điển.[1]
Tuy nhiên, không lâu sau đó, một đề xuất khác được đưa ra nhằm sắp đặt cuộc hôn nhân giữa Anna và Henri xứ Lorraine để ngăn chặn sự bành trướng của Pháp tại Lorraine và kế hoạch này tạm thời được ưu tiên. Năm 1585, Anna đi cùng cha mẹ đến triều đình Hoàng gia tại Vienna và Praha, không chính thức là để xem xét khả năng kết hôn với người anh họ của bà, Hoàng đế Rudolf II, nhưng kế hoạch này cũng không thành.
Trong những năm 1586–1587, khi Vương tử Sigismund của Thụy Điển được bầu làm vua Ba Lan và Đại Công tước Lithuania, dì của ông, Nữ vương Anna Jagiellon, đã nối lại kế hoạch cũ về cuộc hôn nhân giữa Sigismund và Anna. Tuy nhiên, cha mẹ Anna vẫn ưu tiên cuộc hôn nhân với Henri, đặc biệt vì tình hình chính trị bất ổn tại Ba Lan, sự phản đối của Thủ tướng Jan Zamoyski và mong muốn của Tổng giám mục Maximilian đối với tham vọng đoạt vương vị Ba Lan–Lithuania của Tổng giám mục Maximilian. Năm 1589, triều đình Ba Lan chọn Maria Anna của Bayern thay vào đó. Tuy nhiên, vào năm 1591, Hoàng đế cuối cùng cũng quyết định rằng cuộc hôn nhân giữa Anna và Sigismund là lựa chọn đem lại lợi ích lớn nhất cho nhà Habsburg. Bá tước Gustaf Brahe được cử làm đại sứ đến Graz, và các thủ tục khác được thương lượng bởi Hồng y Jerzy Radziwiłł, người thân cận của Sigismund. Anna, dù không muốn, vẫn được lệnh phải tuân theo chỉ thị của Hoàng đế.[1]
Vào tháng 4 năm 1592, lễ đính hôn được cử hành trọng thể tại Hoàng cung ở Vienna, ngày 4 tháng 5, một đám cưới ủy nhiệm được tổ chức, sau đó Anna và mẹ khởi hành đến Krakow để cử hành hôn lễ chính thức. Anna trở thành người vợ đầu tiên của Sigismund III vào ngày 31 tháng 5 năm 1592. Cuộc hôn nhân này bị nhiều thành viên szlachta (quý tộc) của Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litvan đối, do họ chống lại liên minh với Vương tộc Habsburg của Áo mà Sigismund theo đuổi.
Khi Sigismund cử Hồng y Radziwiłł đến Praha để đón cô dâu của mình, phe chống lại Habsburg do Thủ tướng Jan Zamoyski lãnh đạo đã canh giữ biên giới nhằm ngăn vị đại công nương đặt chân vào đất nước. Anna đã trốn thoát khỏi lực lượng canh giữ, đến Kraków và được làm lễ đăng quang trao vương miện vào tháng 5 năm 1592 bởi Tổng Giám mục Karnkowski, trở thành Vương hậu Ba Lan và Đại Công tước phu nhân xứ Litvề sau, trong thời gian bà còn sống, thủ đô của Khối thịnh vượng chung được chuyển từ Kraków đến Warsaw.
Vương hậu Ba Lan và Đại Công tước phu nhân xứ Litva
[sửa | sửa mã nguồn]Anna được miêu tả là một phụ nữ hấp dẫn và thông minh. Bà giành được sự tin tưởng và tình yêu của Sigismund – một người hướng nội và mối quan hệ giữa họ được ghi nhận là hạnh phúc, Anna trở thành chỗ dựa tinh thần cho ông trong những biến động chính trị dai dẳng của thập niên 1590.[1]
Sigismund trở thành vua của Thụy Điển vào năm 1592, Quốc vương và vương hậu buộc phải đến Thụy Điển để làm lễ đăng quang. Người Ba Lan không muốn Sigismund rời Khối Thịnh vượng Chung và yêu cầu Anna phải ở lại Ba Lan như một con tin. Sigismund bác bỏ điều kiện này, hai người lên đường sang Thụy Điển vào năm 1593.[1]
Chuyến đi đến Thụy Điển rất gian nan, và lúc đó Anna đang mang thai. Bà không thích Thụy Điển, cũng không để lại ấn tượng tốt trong mắt người Thụy Điển: được nuôi dạy như một tín đồ Công giáo nhiệt thành, bà kịch liệt phản đối người Thụy Điển theo đạo Tin Lành, xem họ là dị giáo, và không thể chịu đựng được giới giáo sĩ Luther. Bà vướng vào một cuộc xung đột với Thái hậu Tin Lành Gunilla Bielke, người mà bà cáo buộc đã lấy cắp đồ quý trong Hoàng cung. Bà cũng rất ngờ vực ngườhú chồng, công tước Charles, một người Thụy Điển theo Tin Lành. Bà được đăng quang Vương hậu Thụy Điển tại Nhà thờ Uppsala vào ngày 19 tháng 2 năm 1594, nhưng do nghi lễ mang tính Tin Lành nên bà xem đó chỉ là một buổi lễ hình thức, không có ý nghĩa gì. Ảnh hưởng chính trị của bà trong vai trò cố vấn của Sigismund được ghi nhận rõ rệt; Anna cùng cha giải tội Dòng Tên của bà, Sigismund Ehrenhöffer, trở thành cầu nối giữa nhà vua và đại sứ Giáo hoàng Germanico Malaspina, người mà họ cung cấp thông tin về chính sách của nhà vua.[1]
Tháng 4 năm 1594 tại Stockholm, bà hạ sinh một cô con gái tên Katarzyna. Lễ rửa tội của đứa trẻ được tổ chức trọng thể tại triều đình Thụy Điển, nhưng đứa bé qua đời không lâu sau đó.
Người Ba Lan từng yêu cầu bà để lại con gái Anna Maria làm con tin ở Ba Lan trong thời gian họ sang Thụy Điển. Bà cũng lo sợ rằng khi trở về Ba Lan, người Thụy Điển sẽ đòi giữ lại con gái Katarzyna (sinh tại Thụy Điển). Khi rời Thụy Điển vào tháng 7 năm 1594, Anna được ban các thị trấn Linköping, Söderköping và Stegeborg làm lãnh địa cá nhân, với điều kiện bà phải tôn trọng đức tin Tin Lành trong các vùng này.
Khi trở lại Khối Thịnh vượng Chung, Anna tiếp tục làm cố vấn thân cận của Sigismund. Bà khuyên ông cách ứng xử giữa các phe phái quý tộc Ba Lan–Lithuania, về Liên minh chống Đế quốc Ottoman, và đặc biệt là về quan hệ giữa Ba Lan và triều đại Habsburg. Tuy nhiên, bà không hề quan tâm đến việc duy trì liên minh cá nhân giữa Khối Thịnh vượng Công giáo Ba Lan–Lithuania và Thụy Điển theo Tin Lành; bà còn dùng ảnh hưởng của mình để phản đối kế hoạch đưa con trai bà, Wladislaus, đến Thụy Điển để được nuôi dạy như một người Tin Lành nhằm kế vị ngai vàng Thụy Điển.[1]
Anna qua đời tại Warsaw vào ngày 10 tháng 2 năm 1598 khi đang mang thai đứa con cuối cùng; con trai bà, Krzysztof , được sinh bằng phương pháp mổ sau khi bà mất, nhưng đứa trẻ cũng qua đời trong ngày.[2][3] Sau đó, Sigismund III kết hôn với em gái của bà, Constanze của Áo.
Qua đời
[sửa | sửa mã nguồn]Sức khỏe của Anna yếu nghiêm trọng do nhiều lần mang thai và sinh nở liên tiếp. Đầu năm 1598, bà mắc bệnh cúm và qua đời tại Warsaw ở tuổi 24 do biến chứng khi sinh con thứ sáu, cùng với khả năng cao là sốt hậu sản. Đứa con trai của bà, Krzysztof, cũng tử vong ngay sau đó. Bà được an táng tại Hầm mộ Sigismund, nơi yên nghỉ của các vua Ba Lan, đánh dấu vai trò quan trọng của bà trong việc củng cố dòng dõi hoàng gia và liên minh quốc tế.[4][5]
Hậu duệ
[sửa | sửa mã nguồn]Anna có năm người con, nhưng chỉ có người con trai lớn Władysław sống đến tuổi trưởng thành:
- Anna Maria (23 tháng 5 năm 1593 – 9 tháng 2 năm 1600)
- Katarzyna (19 tháng 4 năm 1594 – 16 tháng 5 năm 1594)
- Władysław IV Vasa (9 tháng 6 năm 1595 – 20 tháng 5 năm 1648), (trị vì 1632-1648 với tư cách là Władysław IV của Ba Lan và Litva)
- Katarzyna (27 tháng 9 năm 1596 – 2 tháng 6 năm 1597)
- Krzysztof (10 tháng 2 năm 1598 – 10 tháng 2 năm 1598)
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b c d e f g "Anna", Svenskt biografiskt lexikon (urn:sbl:18720, art av Hj. Bergstrand.)
- ^ Besala, Jerzy (2007). Małżeństwa królewskie. Władcy elekcyjni (bằng tiếng Ba Lan). Bellona-Muza. tr. 88.
- ^ Rudzki, Edward (1987). Polskie królowe (bằng tiếng Ba Lan). Novum. tr. 66.
- ^ "Anna Austriaczka – pierwsza żona Zygmunta III". wilanow-palac.pl (bằng tiếng Ba Lan). Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Anne of Austria, Queen of Poland". Grokipedia (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2025.