Annabergit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Annabergit
Mineraly.sk - annabergit 2.jpg
Annabergit, Dobšiná, Slovakia
Thông tin chung
Thể loạiKhoáng vật asenat
Nhóm vivianit
Công thức hóa họcNi3(AsO4)2·8H2O
Phân loại Strunz08.CE.40
Phân loại Dana40.03.06.04
Hệ tinh thểĐơn tà
Lớp tinh thểLăng trụ (2/m)
Nhóm không gianĐơn tà
Ký hiệu H-M: (2/m)
Nhóm không gian: C2/m
Ô đơn vịa = 10,179(2), b = 13,309(3)
c = 4,725(1) [Å]; β = 105(1)°; Z = 2
Nhận dạng
MàuLục táo, lục nhạt, hồng nhạt, trắng, xám; có thể chia thành vùng
Dạng thường tinh thểThường là gân nhỏ dạng sợi, vỏ kết tinh, hoặc đất; hiếm khi tạo thành các tinh thể
Cát khaiHoàn hảo trên {010}, không rõ ràng trên {100} và {102}
Độ bềnCó thể cắt được
Độ cứng Mohs1,5 – 2,5
ÁnhCận kim cương, trân châu trên cát khai, có thể xỉn hoặc như đất
Màu vết vạchLục nhạt tới trắng
Tính trong mờTrong suốt tới trong mờ
Tỷ trọng riêng3,07
Thuộc tính quangHai trục (-)
Chiết suấtnα = 1,622 nβ = 1,658 nγ = 1,687
Khúc xạ képδ = 0,065
Góc 2VĐo đạc: 84°
Tham chiếu[1][2][3]

Annabergit là một khoáng vật asenat chứa niken asenat ngậm nước, Ni3(AsO4)2·8H2O, kết tinh trong hệ đơn tà và là đồng hình với vivianiterythrit. Các tinh thể nhỏ và mao dẫn và hiếm khi bắt gặp, khoáng vật thường xuất hiện như là các khối hay bao vỏ cứng, mềm dạng đất. Màu lục táo là đặc trưng của nó. Nó đã được biết đến từ lâu (kể từ 1758) dưới tên gọi hoa niken; còn tên gọi annabergit do H. J. Brooke và W H. Miller đề xuất năm 1852, từ AnnabergSaxony, một trong các khu vực có khoáng vật này. Nó xuất hiện cùng quặng niken, trong đó nó là sản phẩm bị biến đổi. Một biến thể, có ở Creetown tại Kirkcudbrightshire, trong đó một phần niken bị thay thế bằng canxi, từng dược gọi là dudgeonit, theo họ của P. Dudgeon, người đã tìm ra nó.

Annabergit từ Lavrion (Laurium), Hy Lạp.

Có quan hệ gần là cabrerit trong đó một phần niken bị thay thế bằng magiê. Nó được đặt tên theo Sierra Cabrera ở Tây Ban Nha, nơi nó được tìm thấy lần đầu.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]