Ansu Fati

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Ansu Fati
Tập tin:AnsuFati.jpg
Ansu Fati trong màu áo Barcelona năm 2020
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Anssumane Fati Vieira
Ngày sinh 31 tháng 10, 2002 (18 tuổi)
Nơi sinh Bissau, Guiné-Bissau
Chiều cao 1,78m
Vị trí Tiền đạo cánh
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Barcelona
Số áo 22
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2009–2010 Herrera
2010–2012 Sevilla
2012–2019 Barcelona
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2019– Barcelona 27 (10)
Đội tuyển quốc gia
2019–2020 U-21 Tây Ban Nha 2 (0)
2020– Tây Ban Nha 4 (1)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia và chính xác tính đến 5 tháng 10 năm 2020
‡ Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia và số bàn thắng chính xác tính đến 13 tháng 10 năm 2020

Anssumane "Ansu" Fati Vieira (sinh ngày 31 tháng 10 năm 2002) là cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha gốc Guiné-Bissau thi đấu ở vị trí tiền đạo cánh cho câu lạc bộ Barcelona và là thành viên của đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha. Anh đang giữ kỷ lục là cầu thủ ghi bàn trẻ nhất lịch sử UEFA Champions League[1] cũng như cầu thủ ghi bàn trẻ nhất cho Barcelona tại La Liga và cầu thủ trẻ nhất của Barcelona chơi tại Champions League.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Đội trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Fati từng là thành viên của học viện đào tạo trẻ Herrera và Sevilla trước khi gia nhập học viện đào tạo trẻ La Masia của Barcelona vào năm 2012 khi 10 tuổi[2][3], một năm sau khi người anh trai của anh Braima Fati đến đây.[4] Trước đó, cha của anh là ông Bori Fati đã từ chối lời mời của học viện đào tạo trẻ Real Madrid dù Real đưa ra lời đề nghị hấp dẫn hơn.[5]

Vào năm 2014, Fati không được ra sân trong một thời gian dài vì án phạt của FIFA dành cho Barcelona việc vi phạm những nguyên tắc chuyển nhượng những cầu thủ dưới 18 tuổi. Một năm sau, anh bị gãy chân trong trận derby với Espanyol và phải nghỉ thi đấu hơn một năm.[5][6] Tại UEFA Youth League 2018-19, anh lập cú đúp trong trận bán kết trước Chelsea nhưng Barcelona đã bị loại sau loạt sút luân lưu.[6]

2019-20[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 2019, Fati ký hợp đồng có thời hạn 3 năm với Barcelona, kèm điều khoản giải phóng hợp đồng lên đến 100 triệu .[7] Ngày 25 tháng 8 năm 2019, anh có trận đấu đầu tiên tại La Liga khi vào sân ở phút thứ 78 để thay cho Carles Pérez trong chiến thắng 5-2 trước Real Betis.[8] Ở tuổi 16 và 298 ngày, anh trở thành cầu thủ trẻ thứ hai trong lịch sử Barcelona có trận ra mắt tại La Liga.[9]

Ngày 31 tháng 8 năm 2019, Fati được tung vào sân thay người, rồi ghi bàn gỡ hoà 1-1 phút 51, ở vòng 3 La Liga trong trận hòa 2-2 trước Osasuna. Vào thời điểm lập công, anh mới 16 tuổi và 304 ngày và trở thành cầu thủ trẻ nhất ghi bàn cho Barcelona cũng như cầu thủ trẻ thứ ba ghi bàn trong lịch sử La Liga.[10][11] Ngày 14 tháng 9, Fati chỉ mất 111 giây ở trận đá chính đầu tiên cho Barcelona để ghi bàn mở tỉ số trước Valencia. 5 phút sau đó, anh vượt qua trung vệ Ezequiel Garay và tạo điều kiện cho Frenkie de Jong nâng tỉ số lên 2-0. Chung cuộc Barcelona giành thắng lợi 5-2.[12] Ở tuổi 16 và 318 ngày, anh trở thành cầu thủ trẻ nhất cùng ghi bàn và kiến tạo trong một trận La Liga trong thế kỷ 21 và chỉ cần ba trận để ghi hai bàn cho đội một Barca - thành tích mà Lionel Messi trước kia chỉ đạt được qua 13 trận.[13]

Ngày 17 tháng 9, Fati có trận đấu đầu tiên của mình trong sự nghiệp tại UEFA Champions League trong trận hòa 0–0 với Borussia Dortmund, để trở thành cầu thủ Barcelona trẻ nhất có trận ra mắt tại giải đấu này.[14] Ngày 10 tháng 12, trong trận đấu cuối cùng của Barcelona tại vòng bảng UEFA Champions League, sau khi vào sân ở phút 85, Fati chỉ cần hai phút để ấn định chiến thắng 2-1 của Barcelona trước Inter Milan tại San Siro với cú sút chéo góc khiến bóng bật cột bay vào khung thành.[15] Với bàn thắng này, anh cũng đi vào lịch sử UEFA Champions League với tư cách cầu thủ ghi bàn trẻ nhất tại giải đấu này ở tuổi 17 và 40 ngày, vượt qua kỷ lục cũ 17 tuổi 194 ngày của Peter Ofori-Quaye, người ghi bàn cho Olympiacos vào năm 1997.[1] Trước đó trong tháng 12, anh đã ký hợp đồng mới có thời hạn đến năm 2022, trong đó, phí giải phóng tăng từ 111 triệu $ lên 188 triệu $. Năm 2020, khi Fati tròn 18 tuổi và ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên, phí giải phóng sẽ tăng lên 443 triệu $.[16]

Ngày 2 tháng 2 năm 2020, Fati trở thành cầu thủ trẻ nhất lập cú đúp trong một trận đấu tại La Liga, khi đang ở tuổi 17 lẻ 94 ngày với hai bàn ghi cho Barca trong trận thắng Levante UD 2-1.[17] Anh đạt đến cột mốc 5 bàn thăng tại La Liga 2019-20 với bàn mở tỉ số trong chiến thắng 2-1 trước CD Leganés ngày 16 tháng 6.[18] Trong trận đấu gặp Villarreal vòng 34 La Liga ngày 5 tháng 7, anh đã ghi bàn thắng thứ 9000 trong lịch sử của câu lạc bộ Barcelona.[19] 4 ngày sau đó, chỉ 5 phút ngay khi vào sân từ ghế dự bị trong trận gặp RCD Espanyol, Fati bị truất quyền thi đấu sau khi trọng tài chính tham khảo VAR về pha phạm lỗi của anh với Fernando Calero.[20] Fati mở màn trận thắng 5-0 trước Deportivo Alavés vào ngày cuối cùng của La Liga 2019-20 trong bối cảnh mà Real Madrid đã giành chức vô địch giải đấu này ở vòng trước đó.[21]

2020-21[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 9 năm 2020, Fati ký hợp đồng mới với Barcelona có thời hạn đến năm 2024 và mức phí phá vỡ hợp đồng là 468 triệu USD. Từ mùa 2020-2021, anh sẽ là cầu thủ chính thức của đội A và mặc áo số 22.[22] Trong trận đấu vòng đầu tiên của La Liga 2020–21 và dưới thời tân huấn luyện viên Ronald Koeman, Fati ghi được một cú đúp trong 4 phút và còn kiếm được quả phạt đền đem về chiến thắng 4–0 trước Villarreal.[23]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Fati chào đời tại Guinea-Bissau trước khi cả gia đình nhập cư vào Tây Ban Nha nên có thể chọn thi đấu cho một trong hai đội tuyển này. Anh còn có thể chọn đội tuyển Bồ Đào Nha vì ông bà anh sinh ra tại Guinea Bồ Đào Nha.[24][25] Fati chính thức nhập quốc tịch Tây Ban Nha vào ngày 20 tháng 9 năm 2019.[26]

Ngày 11 tháng 10 năm 2019, anh được triệu tập vào đội tuyển U21 Tây Ban Nha thay thế cho Carles Pérez bị chấn thương.[27] Bốn ngày sau đó, anh có trận đấu đầu tiên cho U21 Tây Ban Nha trong chiến thắng 2-0 trước U21 Montenegro.[28]

Fati lần đầu được triệu tập lên đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha vào ngày 20 tháng 8 năm 2020 để chuẩn bị cho các trận đấu ở Nations League vào tháng 9 với ĐứcUkraina.[29] Anh có trận ra mắt đội tuyển vào ngày 3 tháng 9 năm 2020 khi vào sân từ băng ghế dự bị ở hiệp 2 trận hòa 1–1 với tuyển Đức.[30] Ngày 6 tháng 9 năm 2020, tiền đạo của Barca được huấn luyện viên Luis Enrique xếp đá chính trong trận tuyển Tây Ban Nha tiếp đón Ukraina. Phút 32, anh ghi bàn nâng tỷ số lên 3–0 và trở thành cầu thủ trẻ nhất ghi bàn trong lịch sử đội tuyển Tây Ban Nha khi mới 17 tuổi 311 ngày.[31]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 4 tháng 10 năm 2020.[32]
Câu lạc bộ Mùa giải La Liga Copa del Rey Châu Âu Khác Tổng cộng
Hạng Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Barcelona 2019–20 La Liga 24 7 3 0 5 1 1 0 33 8
2020–21 3 3 0 0 0 0 0 0 3 3
Tổng cộng sự nghiệp 27 10 3 0 5 1 1 0 36 11

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 13 tháng 10 năm 2020.[33]
Tây Ban Nha
Năm Trận Bàn
2020 4 1
Tổng cộng 4 1

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 6 tháng 9 năm 2020.
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 6 tháng 9 năm 2020 Sân vận động Alfredo Di Stéfano, Madrid, Tây Ban Nha  Ukraina 3–0 4–0 UEFA Nations League 2020–21

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra tại thành phố Bissau của Guiné-Bissau, Fati và gia đình chuyển đến thành phố Seville khi lên 6 sau khi người anh trai của anh là Braima Fati đến đội trẻ Sevilla.[34] Cha của anh, Bori Fati, cũng từng là cầu thủ, sau đó di cư đến Bồ Đào Nha trước khi đến sống tại thị trấn Marinaleda thuộc vùng Andalusia cách Seville 101 km về phía đông. Tại đây ông làm quen và trở thành bạn và tài xế của thị trưởng Juan Manuel Sánchez Gordillo.[12][35]

Các kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ trẻ nhất ghi bàn trong lịch sử Barcelona: 16 tuổi 304 ngày.
  • Cầu thủ trẻ nhất ghi bàn và kiến tạo trong một trận đấu tại La Liga: 16 tuổi 318 ngày.
  • Cầu thủ trẻ nhất ghi bàn trong lịch sử Champions League: 17 tuổi 40 ngày.
  • Cầu thủ trẻ nhất ghi bàn trong một trận đấu tại La Liga: 17 tuổi 94 ngày.
  • Cầu thủ trẻ nhất ghi bàn cho đội tuyển Tây Ban Nha: 17 tuổi 311 ngày.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Fati trở thành cầu thủ ghi bàn trẻ nhất Champions League”. VnExpress. ngày 11 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2019.
  2. ^ “Así juega Ansu Fati, joya de la cantera del Barça” [This is how Ansu Fati, the pearl of Barça's youth setup, plays] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Diario de Sevilla. ngày 21 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  3. ^ “Ansu Fati, el sueño de un guineano criado en Herrera se hace realidad” [Ansu Fati, a dream of a Guinean raised in Herrera becomes true] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Diario de Sevilla. ngày 26 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2019.
  4. ^ “El Calahorra va lanzado: Braima Fati cambia La Masía por La Planilla” [Calahorra is boosted: Braima Fati swaps La Masía for La Planilla] (bằng tiếng Tây Ban Nha). NueveCuatroUno. ngày 21 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019.
  5. ^ a ă “Ansu Fati: Từ cậu bé chân trần tới viên ngọc trị giá 100 triệu euro”. TTVH Online. ngày 28 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  6. ^ a ă “Ansu Fati: Barcelona forward is youngest player to score in Champions League!”. BBC Sports. ngày 11 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2019.
  7. ^ “Ansu Fati: Who is Barcelona 16-year-old with 100m euro release clause?”. BBC Sports. ngày 16 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  8. ^ “Griezmann throws a big Barcelona party”. Marca. ngày 25 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  9. ^ “Teenager Fati makes Barcelona history in debut La Liga game”. Goal.com. ngày 25 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  10. ^ “Ansu Fati becomes Barcelona's youngest-ever goalscorer with Osasuna strike”. Metro. ngày 31 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  11. ^ “Fati trở thành cầu thủ trẻ nhất ghi bàn cho Barca”. VnExpress. ngày 1 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  12. ^ a ă “Barcelona: Ansu Fati đến từ hành tinh nào?”. TTVH Online. ngày 19 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  13. ^ “Fati lại lập thành tích cao hơn Messi”. VnExpress. ngày 15 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  14. ^ “Dortmund 0–0 Barcelona”. BBC Sport. ngày 17 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  15. ^ “Đội dự bị Barca đẩy Inter xuống Europa League”. VnExpress. ngày 11 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  16. ^ “Thần đồng Barca có phí phá hợp đồng 188 triệu USD”. VnExpress. ngày 5 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  17. ^ “Thần đồng Barca phá kỷ lục La Liga”. VnExpress. 3 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  18. ^ “Điểm nhấn Barcelona 2-0 Leganes: Thần đồng ghi điểm, Messi cận kề cột mốc, Griezmann vẫn tịt ngòi”. TTVH Online. 17 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  19. ^ “Ansu Fati scored 9,000th goal of Barça's history vs Villarreal”. SPORT. 5 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  20. ^ “Ansu Fati red card: Barcelona star sent off after VAR review vs Espanyol”. standard.co.uk. 8 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  21. ^ “Alavés 0-5 Barcelona”. BBC Sport. 19 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  22. ^ “Barca cài điều khoản gần nửa tỷ USD trói chân Fatia”. VnExpress. 24 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  23. ^ West, Andy (27 tháng 9 năm 2020). “Barcelona 4-0 Villarreal: Lionel Messi and Ansu Fati score in win”. BBC Sport. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  24. ^ “Ansu Fati: Spain want to fast-track Barça star into World Cup squad”. Diario AS. ngày 29 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2019.
  25. ^ “Tây Ban Nha lôi kéo thần đồng của Barca”. VnExpress. ngày 17 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  26. ^ “Ansu Fati: Barcelona forward granted Spanish citizenship”. BBC Sports. ngày 20 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2019.
  27. ^ “Carles Pérez, baja; Ansu Fati, alta” [Carles Pérez, out; Ansu Fati, called up]. SEFutbol (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 11 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2019.
  28. ^ “Montenegro 0–2 Spain”. UEFA. ngày 15 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2019.
  29. ^ “Thần đồng của Barcelona được gọi lên tuyển Tây Ban Nha”. Thanh Niên. 21 tháng 8 năm 2020.
  30. ^ “Ra sân cho Tây Ban Nha, Ansu Fati làm nên lịch sử”. Lao Động. 4 tháng 9 năm 2020.
  31. ^ “Ansu Fati làm điều chưa từng có ở tuyển Tây Ban Nha”. Zing News. 7 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  32. ^ “Anssumane Fati”. Soccerway. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2019.
  33. ^ Ansu Fati tại National-Football-Teams.com
  34. ^ “Ansu Fati's father explains Barcelona signing: "Madrid offered us better terms...". Diario AS. ngày 26 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.
  35. ^ Lowe, Sid (ngày 16 tháng 9 năm 2019). 'A star is born': Ansu Fati announces himself and changes his world”. www.theguardian.com. The Guardian. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2019.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]