Anthony Martial

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Anthony Martial
Anthony-Martial-2015.jpg
Martial chơi cho AS Monaco vào năm 2015
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Anthony Martial
Ngày sinh 5 tháng 12, 1995 (21 tuổi)
Nơi sinh Massy, Pháp
Chiều cao 1,84 m (6 ft 12 in)
Vị trí Tiền vệ cánh/Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Manchester United
Số áo 11
CLB trẻ
2001–2009 CO Les Ulis
2009–2012 Lyon
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2012–2013 Lyon 3 (0)
2013–2015 Monaco 49 (11)
2015– Manchester United 56 (15)
Đội tuyển quốc gia
2010–2011 U16 Pháp 17 (9)
2011–2012 U17 Pháp 13 (9)
2012–2013 U18 Pháp 4 (3)
2013 U19 Pháp 5 (0)
2013– U21 Pháp 12 (4)
2015– Pháp 15 (1)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 21 tháng 5 năm 2017.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 10 tháng 10 năm 2016

Anthony Martial (phát âm tiếng Pháp: [maʁ.sjal]; sinh ngày 5 tháng 12 năm 1995) là cầu thủ bóng đá Pháp chơi ở vị trí Tiền vệ cánh cho câu lạc bộ bóng đá Manchester United. Trưởng thành từ Lyon, anh chuyển đến Monaco vào năm 2013 với mức phí 6 triệu , nơi anh được ra sân thường xuyên. Sau khi tham gia thi đấu quốc tế cho Pháp từ U16 đến U21, anh được triệu tập vào đội tuyển quốc gia Pháp vào năm 2015.

Sự nghiệp Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Olympique Lyonnais[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra tại Massy, Essonne, Martial trải qua những năm tháng tuổi thơ ở CO Les Ulis đến năm 2001.[1] Lúc 14 tuổi tức là năm 2009, Anh được tuyển chọn bởi các tuyển trạch viên của học viện bóng đá Olympique Lyonnais Và anh thử việc một năm sau đó. Trong mùa giải thứ hai của mình ở đội U17, anh chứng minh giá trị của mình với 32 bàn thắng trong 21 trận ra sân, với thành tích ấn tượng đó, anh được gọi vào Đội tuyển bóng đá U17 Quốc gia Pháp cho vòng chung kết Giải bóng đá vô địch U17 châu Âu 2012 tại Slovenia.

Anh đã có trận ra mắt đầu tiên cho Lyon vào ngày 6 tháng 12 năm 2012, thuộc vòng bảng giải Europa League trong trận gặp Hapoel Ironi Kiryat Shmona, thay thế cho tay săn bàn Yassine Benzia khoảng 10 phút cuối cùng khi giành chiến thắng 2–0 tại sân Stade de Gerland.[2] Anh cũng có trận ra mắt ở giải Ligue 1 vào ngày 3 tháng 2 năm 2013 trong trận gặp Ajaccio, khi anh vào sân thay thế cho Rachid Ghezzal ở phút 79 trong trận thua 3–1.[3] Anh đã hai lần xuất trận thêm từ băng ghế dự bị trong mùa giải đó.

AS Monaco[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 30 tháng 6 năm 2013, AS Monaco thông báo họ đã ký hợp đồng 3 năm với Martial với mức phí 5 triệu € cộng với tiền thưởng.[4][5] Ngày 24 tháng 11, anh đã có trận ra mắt cho câu lạc bộ này ở tuổi 17 khi thay thế Radamel Falcao ở phút 63 và sát cánh cùng Mounir Obbadi trong chiến thắng trước FC Nantes.[6] Anh ghi bàn thắng đầu tiên tại giải đấu cho đội bóng Công Quốc, trong trận thắng 2–0 trước Rennes trên sân Stade Louis II khoảng 6 ngày sau đó.[7] Sự nghiệp của anh bị gián đoạn bởi một chấn thương gân kheo ở chân trong trận gặp Valenciennes vào tháng 12.[8] Ngày 27 tháng 1 năm 2014, anh gia hạn hợp đồng đến tháng 6 năm 2018.[8]

Trong mùa giải thứ hai ở Monaco, Martial ghi được 9 bàn trong 36 trận ở Ligue 1, bắt đầu từ ngày 5 tháng 10 năm 2014 khi thay thế Lucas Ocampos, anh mở tỷ số 1–1 trong trận gặp đương kim vô địch Paris Saint-Germain ở một cự ly gần.[9] Anh lập cú đúp trong trận gặp Bastia vào ngày 13 tháng 3 năm 2015 trong chiến thắng 3–0 trên sân nhà.[10] Vào ngày 26 tháng 6, anh tiếp tục gia hạn hợp đồng với đội bóng công Quốc đến năm 2019.[11]

Vào ngày 4 tháng 8 năm 2015, Martial ghi bàn thắng đầu tiên tại đấu trường châu Âu, trong trận thắng 4–0 trên sân nhà trước đội bóng BSC Young Boys ở vòng sơ loại thứ ba UEFA Champions League, Monaco đã thắng 7–1 sau 2 loạt trận.[12]

Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

Anh chuyển đến Manchester United vào ngày 1 tháng 9 năm 2015 với mức phí 36 triệu bảng có thể tăng lên 57 triệu bảng.[13]

Ngay trong trận đầu tiên ra mắt gặp Liverpool Martial đi bóng qua 3 hậu vệ đối phương và ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ mới, ấn định chiến thắng 3-1.

Sự nghiệp Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Martial ghi 5 bàn thắng cho U17 Pháp tại vòng loại Giải bóng đá vô địch U17 châu Âu 2012: hai bàn thắng trong trận thắng 5–0 trước đội U17 Quần đảo Faroe và lập cú hat-trick trong trận đấu với U17 Bắc Ireland tại Luxembourg.[14] Anh được góp mặt trong hai trận đấu vòng loại với U17 Thụy Sĩ và U17 Thụy Điển để góp mặt tại vòng chung kết.[15] Anh đã ghi thêm 1 bàn thắng trong trận cuối cùng của vòng bảng tại Slovenia, trong trận hòa 2–2 với U17 Iceland tại Domžale Sports Park.[16]

Martial chơi cả năm trận cho Đội tuyển bóng đá U19 Quốc gia Pháp tại Giải bóng đá vô địch U19 châu Âu 2013 tại Lithuania nhưng kết thúc vị trí á quân sau U19 Serbia.[17]

Ngày 26 tháng 8 năm 2015, Martial được triệu tập lần đầu tiên lên Đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp tham dự Euro 2016, giải đấu mà anh và các đồng đội đã lọt vào đến trận chung kết nhưng chịu thất bại trước đội tuyển Bồ Đào Nha và giành vị trí á quân.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 24 tháng 5 năm 2017.
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu League Cup League Cup Châu Âu Tổng cộng
Hạng Số trận Số bàn thắng Số trận Số bàn thắng Số trận Số bàn thắng Số trận Số bàn thắng Số trận Số bàn thắng Số trận Số bàn thắng
Lyon 2012–13 Ligue 1 3 0 0 0 0 0 1 0 4 0
Monaco 2013–14 11 2 3 0 1 0 15 2
2014–15 35 9 3 2 3 1 7 0 48 12
2015–16 3 0 0 0 0 0 4 1 7 1
Tổng cộng 49 11 6 2 4 1 11 1 70 15
Manchester United 2015–16 Premier League 31 11 7 2 2 1 9 3 49 17
2016–17 Premier League 25 4 3 1 3 2 10 1 1 0 42 8
2017-18 Premier League 2 2 2 2
Tổng cộng 56 15 10 3 5 3 19 4 1 0 91 25
Tổng cộng sự nghiệp 108 26 16 5 9 4 31 5 1 0 165 40

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 10 tháng 10 năm 2016[18]
Pháp
Năm Trận Bàn
2015 6 0
2016 9 1
Tổng cộng 15 1

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

International goals by date, venue, cap, opponent, score, result and competition
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 1 tháng 9 năm 2016 Sân vận động San Nicola, Bari, Ý  Ý 1–0 3–1 Giao hữu

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Joueur - Anthony MARTIAL”. fff.fr. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2013. 
  2. ^ “Imperious Lyon cruise past Kiryat Shmona”. UEFA. Ngày 6 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  3. ^ “Lyon boit la tasse à Ajaccio” [Lyon frink from the cup at Ajaccio] (bằng tiếng Pháp). France Info. Ngày 3 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  4. ^ Lyon Press Release
  5. ^ “Anthony Martial sign AS Monaco FC”. AS Monaco FC. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013. 
  6. ^ “Nantes 0-1 Monaco”. BBC Sport. Ngày 24 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  7. ^ “Monaco: Une attaque Rivière-Martial contre Rennes” [Monaco: A Rivière-Martial attack against Rennes] (bằng tiếng Pháp). Sports. Ngày 30 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  8. ^ a ă “Martial extends Monaco stay”. FourFourTwo. Ngày 27 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  9. ^ Ames, Nick (ngày 5 tháng 10 năm 2014). “Monaco’s Anthony Martial thwarts PSG in battle of Ligue 1 big spenders”. The Guardian. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  10. ^ “Monaco 3-0 Bastia”. BBC Sport. Ngày 13 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  11. ^ “Martial extends”. lequipe.fr. Ngày 27 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  12. ^ “UCL round-up: Ajax stunned by Rapid Vienna, Monaco thrash Young Boys to advance with ease”. The National (Agence France-Presse). Ngày 5 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  13. ^ “MANCHESTER UNITED SIGN ANTHONY MARTIAL FROM MONACO”. manutd.com. Truy cập 1 tháng 9 năm 2013. 
  14. ^ Babaev, David (ngày 2 tháng 11 năm 2011). “Last-gasp Luxembourg go forward with France”. UEFA. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  15. ^ “EDF/U17 = LA FRANCE EN PHASE FINALE !” [EDF/U17 = FRANCE IN THE FINALS!] (bằng tiếng Pháp). Les Titis du PSG. Ngày 29 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  16. ^ Ross, Dan (ngày 4 tháng 5 năm 2012). “Iceland comeback checks France”. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  17. ^ Haslam, Andrew (ngày 1 tháng 8 năm 2013). “Luković strike seals first Serbia triumph”. UEFA. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2015. 
  18. ^ Benjamin Strack-Zimmermann. “Anthony Martial - National Football Teams”. national-football-teams.com. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]