Aphis glycines

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Rệp đậu tương
Soybeanaphid.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Arthropoda
Lớp (class)Insecta
Bộ (ordo)Hemiptera
Họ (familia)Aphididae
Chi (genus)Aphis
Loài (species)A. glycines
Danh pháp hai phần
Aphis glycines
Matsumura

Rệp đậu tương (Danh pháp khoa học: Aphis glycines) là một loài côn trùng trong họ rệp muội Aphididae phân bố ở Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Indonesia, Malaysia, Nga, Nhật Bản, Philippines, Thái Lan, Trung Quốc, Úc và Việt Nam.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Rệp có màu vàng xanh nhạt. Đôi ống bụng màu đen, dài 0,22-0,24mm. Bộ phận đuôi (cauda) có màu vàng với 8-10 lông nhỏ, dài khoảng 0,19-0,22mm. Cơ thể dài 1,5-2,0mm. Cũng tương tự như các loài rệp muội khác, Chúng có 2 dạng: Có cánh và không cánh. Cá thể trưởng thành có cánh có đầu và ngực màu đen. Rệp non đẫy sức của trưởng thành có cánh trên ngực có mầm cánh.

Gây hại[sửa | sửa mã nguồn]

Chúng là loài gây hại, và ký chủ trên đậu tương (đậu nành) Glycine max, Glycine wightii và Centotheca lappacea. Tại Trung Quốc và Nhật Bản, rệp hiện diện chủ yếu trên các loài thực vật thuộc giống đậu Glycine. Loài này còn được tìm thấy trên Rhamnus (họ Rhamnaceae) và trên cây Puerria và Desmodium. Tại Úc, Aphis glycine chỉ gây hại trên đậu nành. Sự hiện diện của nấm muội đen và quần thể rệp trên lá, hoa và trái non. Khi mật độ rệp cao, chồi lá sẽ bị biến dạng, lá vàng, cây phát triển kém.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • R, C. Venette & D. W. Ragsdale (2004). "Assessing the invasion by soybean aphid (Homoptera Aphididae)". Annals of the Entomological Society of America. 97 (2): 219–226. doi:10.1603/0013-8746(2004)097[0219:ATIBSA]2.0.CO;2.
  • G. M. Quimio & V. J. Calilung (1993). "Survey of flying viruliferous aphid species and population build up of Aphis glycines Matsumura in soybean fields". Philippine Entomologist. 9: 52–100.