Arashio (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Arashio.jpg
Tàu khu trục Arashio vào ngày 21 tháng 12 năm 1937
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Arashio
Đặt hàng: 1934
Hãng đóng tàu: Xưởng đóng tàu Kawasaki
Đặt lườn: 1 tháng 10 năm 1935
Hạ thủy: 26 tháng 5 năm 1937
Nhập biên chế: 30 tháng 12 năm 1937
Xóa đăng bạ: 1 tháng 4 năm 1943
Số phận: Bị máy bay Mỹ đánh chìm trong Trận chiến biển Bismarck, 4 tháng 3 năm 1943
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Asashio
Trọng tải choán nước: 2.370 tấn Anh (2.408 t) (tiêu chuẩn)
Độ dài: 115 m (377 ft 4 in) (mực nước)
118,3 m (388 ft 1 in) (chung)
Sườn ngang: 10,3 m (33 ft 10 in)
Mớn nước: 3,7 m (12 ft 2 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Kampon
3 × nồi hơi
2 × trục
công suất 50.000 shp (37.285 kW)
Tốc độ: 35 hải lý một giờ (40 mph; 65 km/h)
Tầm xa: 5.700 nmi (10.600 km) ở tốc độ 10 kn (19 km/h)
960 nmi (1.780 km) ở tốc độ 34 kn (63 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
200
Vũ trang: 6 × pháo 127 mm (5 inch)/50 caliber Kiểu 3 đa dụng
cho đến 28 × pháo Kiểu 96 25 mm phòng không
cho đến 4 × súng máy Hotchkiss 13,2 mm Kiểu 93
8 × ống phóng ngư lôi 24 in (610 mm) ba nòng
36 × mìn sâu

Arashio (tiếng Nhật: 荒潮) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản thuộc lớp tàu khu trục Asashio bao gồm mười chiếc được chế tạo vào giữa những năm 1930. Arashio đã tham gia nhiều hoạt động tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai trước khi bị máy bay Mỹ đánh chìm trong Trận chiến biển Bismarck vào ngày 4 tháng 3 năm 1943.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Được chấp thuận cho chế tạo trong khuôn khổ Chương trình Bổ sung Vũ khí Hải quân Nhật Bản thứ hai (Maru-2), những chiếc trong lớp tàu khu trục Asahio có kích thước lớn hơn và nhiều khả năng hơn so với lớp tàu khu trục Shiratsuyu dẫn trước, vì các nhà thiết kế hải quân Nhật Bản không còn bị gò bó trong những giới hạn của Hiệp ước Hải quân London. Những con tàu có kích cỡ tương đương tàu tuần dương hạng nhẹ này được thiết kế để tận dụng ưu thế dẫn đầu của Nhật Bản trong kỹ thuật ngư lôi, để tháp tùng lực lượng tấn công chủ lực của Hạm đội Nhật cũng như để tấn công cả ngày lẫn đêm nhắm vào Hải quân Hoa Kỳ, khi họ băng ngang Thái Bình Dương theo giả định của lý thuyết chiến lược Nhật Bản.[1] Cho dù là một trong những lớp tàu khu trục mạnh mẽ nhất thế giới vào lúc hoàn tất, không có chiếc nào sống sót qua cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương.[2]

Arashio được đặt lườn tại Xưởng đóng tàu KawasakiKobe vào ngày 1 tháng 10 năm 1935, được hạ thủy vào ngày 26 tháng 5 năm 1937 và đưa ra hoạt động vào ngày 30 tháng 12 năm 1937.[3]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Hải quân Hideo Kuboki, Arashio được phân về Hải đội Khu trục 8, và là một thành viên của Phân Hạm đội Khu trục 2, hộ tống thành phần chủ lực của Lực lượng Viễn chinh Phương Nam dưới quyền Đô đốc Nobutake Kondō rời Quân khu Bảo vệ Mako để hỗ trợ từ xa cho các lực lượng đổ bộ lên MalayaPhilippines vào tháng 12 năm 1941.[4] Arashio hộ tống một đoàn tàu vận tải chuyển binh lính từ Mako về phía Singora thuộc Malaya, rồi quay về Hong Kong vào ngày 5 tháng 1 năm 1942. Nó hộ tống một đoàn tàu chuyển binh lính khác đến Davao, rồi tham gia lực lượng chiếm đóng Ambon ngày 31 tháng 1, Makassar vào ngày 8 tháng 2Bali/Lombok vào ngày 18 tháng 2.[4]

Trong đêm 19 tháng 2 năm 1942, Arashio tham gia Trận chiến eo biển Badoeng, bước vào trận chiến trễ do đang hộ tống chiếc tàu vận tải Sagami Maru. Nó quay về Xưởng hải quân Yokosuka vào tháng 3, và được phân về Hạm đội 2 vào ngày 10 tháng 4. Nó đã tham gia vào việc bao vây Corregidor trong Chiến dịch Philippines từ ngày 24 tháng 4 đến ngày 18 tháng 5, rồi quay trở về Kure.

Sau khi hộ tống một đoàn tàu vận tải đi đến Guam vào cuối tháng 5, Arashio tham gia hộ tống cho Lực lượng Tấn công dưới quyền chỉ huy chung của Đô đốc Takeo Kurita trong trận Midway. Nó bị hư hại nặng bởi cuộc không kích của máy bay Hải quân Mỹ vào ngày 6 tháng 6, khi một quả bom đánh trúng trực tiếp khiến 37 thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng và thêm nhiều người bị thương, trong đó có Tư lệnh Hải đội Khu trục 8 Trung tá Hải quân Nobuki Ogawa. Cho dù bị hư hại, nó vẫn trợ giúp tàu khu trục chị em Asashio trong việc cứu vớt những người còn sống sót từ chiếc tàu tuần dương hạng nặng Mikuma bị đánh chìm và hộ tống chiếc Mogami bị hư hại quay trở về Truk. Tại đây, nó được chiếc Akashi sửa chữa khẩn cấp, cho phép nó quay về đến Sasebo Naval Arsenal vào ngày 23 tháng 7.

Sau khi hoàn tất việc sửa chữa vào ngày 20 tháng 10, Arashio được phái đến Rabaul và đã thực hiện mười ba chuyến đi vận chuyển tốc độ cao "Tốc hành Tokyo" đến Buna, đảo Shortland, Kolombangara, GuadalcanalWewak cho đến giữa tháng 2 năm 1943. Vào ngày 20 tháng 2, nó cứu vớt những người còn sống sót từ chiếc tàu khu trục chị em Ōshio ngoài khơi Wewak. Sau đóArashio được phân về Hạm đội 8 từ ngày 25 tháng 2 năm 1943.

Trong Trận chiến biển Bismarck vào ngày 3 tháng 3, Arashio bị ném trúng ba quả bom từ máy bay của Hải quân Mỹ, làm hư hại bánh lái khiến nó va chạm với tàu khu trục Nojima. Tàu khu trục Yukikaze đã cứu vớt được 176 người sống sót, nhưng không bao gồm thuyền trưởng, Thiếu tá Hải quân Hideo Kuboki. Xác tàu bỏ lại bị máy bay Mỹ đánh chìm ở tọa độ 07°15′N 148°30′Đ / 7,25°N 148,5°Đ / -7.250; 148.500, khoảng 55 hải lý (102 km) về phía Đông Nam Finschhafen, New Guinea.[5]

Arashio được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 4 năm 1943.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Peattie & Evans, Kaigun.
  2. ^ Globalsecurity.org, IJN Asashio class destroyers
  3. ^ Nishidah, Hiroshi (2002). “Asashio class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  4. ^ a ă Allyn D. Nevitt (1998). “IJN Arashio: Tabular Record of Movement”. combinedfleet.com. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2008. 
  5. ^ Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • D'Albas, Andrieu (1965). Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II. Devin-Adair Pub. ISBN 0-8159-5302-X. 
  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Hammel, Eric (1988). Guadalcanal: Decision at Sea: The Naval Battle of Guadalcanal, Nov. 13–15, 1942. (CA): Pacifica Press. ISBN 0-517-56952-3. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0-689-11402-8. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 0-87021-893-X. 
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1-85409-521-8. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 07°15′N 148°30′Đ / 7,25°N 148,5°Đ / -7.250; 148.500