Archytas

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Archytas
Archytas of Tarentum MAN Napoli Inv5607.jpg
Tượng bán thân từ Villa of the Papyri in Herculaneum, once identified as Archytas, now thought to be Pythagoras[1]
Sinh435 - 410 TCN
Tarentum, Magna Graecia
Mất347 BC (aged 80–81)
Thời kỳTriết học tiền Socrates
VùngTriết học phương Tây
Trường pháiTrường phái Pythagore
Tư tưởng nổi bật
Đường cong Archytas

Archytas (/ˈɑːrkɪtəs/; tiếng Hy Lạp: Ἀρχύτας; 428-347 TCN) là một triết gia, nhà toán học, nhà thiên văn học, nhà chính trịchiến lược gia Hy Lạp cổ đại. Ông là một nhà khoa học của trường phái Pythagore và nổi tiếng là người sáng lập có uy tín của cơ học toán học, đồng thời là một người bạn tốt của Plato.

Cuộc sống và công việc[sửa | sửa mã nguồn]

Archytas được sinh ra ở Tarentum, Magna Graecia và là con trai của Mnesagoras hoặc Histiaeus. Trong một thời gian, ông được Philolaus dạy, và là giáo viên toán học cho Eudoxus của Cnidus. Học sinh của Archytas và Eudoxus là Menaechmus. Là một người theo trường phái Pythagore, Archytas tin rằng chỉ có số học, không phải hình học, có thể cung cấp một cơ sở cho các chứng minh thỏa đáng.[2]

Archytas được cho là người sáng lập cơ học toán học.[3] Như được mô tả trong các tác phẩm của Aulus Gellius năm thế kỷ sau ông, Archytas được cho là đã thiết kế và chế tạo thiết bị bay tự hành nhân tạo đầu tiên, một mô hình hình con chim được đẩy bằng một luồng hơi có lẽ là hơi nước, cho biết thực sự bay khoảng 200 mét. Cỗ máy này, mà người phát minh ra nó có tên là Chim bồ câu, có thể đã bị treo trên dây hoặc trục khi bay.[4] Archytas cũng đã viết một số tác phẩm bị thất truyền, khi ông được Vitruvius đưa vào danh sách mười hai tác giả của các tác phẩm cơ học.[5] Thomas Nelson Winter đưa ra bằng chứng cho thấy tác phẩm giả Aristoteles Vấn đề cơ học thực sự là tác phẩm của Archytas và đã bị phân bổ sai.[6]

Archytas đã đặt tên cho trung bình điều hòa, vốn là đại lượng quan trọng về sau về mặt hình học và lý thuyết số, mặc dù ông không phát minh ra nó.[7] Theo Eutocius, Archytas đã giải quyết vấn đề nhân đôi khối lập phương theo cách của ông (mặc dù ông tin rằng "chỉ số học chứ không phải hình học", có thể cung cấp cơ sở cho bằng chứng thỏa đáng) với cấu trúc hình học.[8] Hippocrates thành Chios trước đây, đã giảm vấn đề này để tìm tỷ lệ trung bình. Lý thuyết về tỷ lệ của Archytas được xử lý trong cuốn sách VIII về các Cơ sở của Euclid, mà là căn bản cho hai phương tiện tỷ lệ, tương đương với việc khai căn bậc 3 từ khối lập phương. Theo Diogenes Laërtius, mô tả này, sử dụng các đường được tạo ra bởi các hình di chuyển để xây dựng hai tỷ lệ giữa các cường độ, là lần đầu tiên trong đó hình học được nghiên cứu với các khái niệm cơ học.[9] Đường cong Archytas, mà ông đã sử dụng trong giải pháp nhân đôi khối lập phương, được đặt theo tên ông.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Archita; Pitagora, Sito ufficiale del Museo Archeologico Nazionale di Napoli, retrieved ngày 25 tháng 9 năm 2012
  2. ^ Morris Kline, Mathematical Thought from Ancient to Modern Times Oxford University Press, 1972 p. 49
  3. ^ Laërtius 1925: Vitae philosophorum
  4. ^ “Automata history”. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2002. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2018. 
  5. ^ Vitruvius, De architectura, vii.14.
  6. ^ Thomas Nelson Winter, "The Mechanical Problems in the Corpus of Aristotle," DigitalCommons@University of Nebraska - Lincoln, 2007.
  7. ^ J. J. O'Connor and E. F. Robertson. Archytas of Tarentum. The MacTutor History of Mathematics archive. Visited ngày 11 tháng 8 năm 2011.
  8. ^ Eutocius, commentary on Archimedes' On the sphere and cylinder.
  9. ^ Plato blamed Archytas for his contamination of geometry with mechanics (Plutarch, Symposiacs, Book VIII, Question 2): And therefore Plato himself dislikes Eudoxus, Archytas, and Menaechmus for endeavoring to bring down the doubling the cube to mechanical operations; for by this means all that was good in geometry would be lost and corrupted, it falling back again to sensible things, and not rising upward and considering immaterial and immortal images, in which God being versed is always God.