Arda Turan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Arda Turan
Arda Turan - 01.jpg
Thông tin cá nhân
Chiều cao 1,76 m (5 ft 9 in)
Vị trí Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
F.C. Barcelona
CLB trẻ
2000–2004 Galatasaray
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2004–2011 Galatasaray 130 (29)
2005–2006 Manisaspor (cho mượn) 15 (2)
2011–2015 Atlético Madrid 127 (18)
2015– Barcelona 36 (5)
Đội tuyển quốc gia
2002 U-16 Thổ Nhĩ Kỳ 10 (2)
2003–2004 U-17 Thổ Nhĩ Kỳ 30 (3)
2004–2005 U-18 Thổ Nhĩ Kỳ 10 (2)
2005 U-19 Thổ Nhĩ Kỳ 18 (6)
2005–2006 U-20 Thổ Nhĩ Kỳ 2 (0)
2006 U-21 Thổ Nhĩ Kỳ 2 (0)
2006– Thổ Nhĩ Kỳ 100 (17)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 26 tháng 4 năm 2017.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 6 tháng 10 năm 2017

Arda Turan (sinh ngày 30 tháng 1 năm 1987 tại Bayrampaşa, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ), là cầu thủ bóng đá người Thổ Nhĩ Kỳ đang thi đấu ở vị trí tiền vệ cánh cho câu lạc bộ F.C. Barcelonađội tuyển bóng đá quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ. Ngoài ra anh còn khá dễ nhận ra bởi bộ râu đặc trưng của đạo Hồi.

Sự nghiệp thi đấu câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Galatasaray[sửa | sửa mã nguồn]

Arda khởi đầu sự nghiệp bằng việc chơi cho đội trẻ của Altıntepsi MakelsporGalatasaray PAF. Mùa giải 2004/2005, anh được gọi vào đội hình chính của Galatasaray và có trận đầu tiên cho câu lạc bộ này tại cúp quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ gặp Bursaspor. Đến giữa mùa giải 2005/06, anh được đem cho Vestel Manisaspor mượn để được thi đấu nhiều hơn. Huấn luyện viên Ersun Yanal đã cho anh được ra sân trong đội hình chính thức và trong 15 lần ra sân cho Manisaspor anh đã ghi 2 bàn. Trong trận thắng 5-3 của Manisaspor trước Fenerbahce tại Turkish Super League, anh đã có 3 đường chuyền thành bàn.

Arda Turan trở về Galatasaray vào đầu mùa giải 2006/07 và anh có 1 màn trình diễn ấn tượng trong trận gặp Mladá Boleslav tại vòng sơ loại thứ 3 UEFA Champion League bằng việc ghi 2 bàn. Arda Turan ngày càng nổi tiếng nhờ những đường chuyền chính xác, tốc độ và khả năng kiến thiết bàn thắng.

Arda có hat-trick đầu tiên cho Galatasaray trong trận gặp Sivasspor vào ngày 4 tháng 5 năm 2008. Nửa cuối mùa giải 2007-08, anh ghi được 7 bàn thắng. Trước phong độ ấn tượng trên, câu lạc bộ tại Premier League, Newcastle United đã đề nghị chuyển nhượng Arda với giá 9 triệu £, nhưng chủ tịch câu lạc bộ Galatasaray đã từ chối.[1]

Khi mùa giải 2009-10 bắt đầu, Arda đã được trao chiếc băng đội trưởng của Galatasaray,[2] cùng với chiếc áo số 10, số áo trước đây thuộc về Metin OktayGheorghe Hagi. Số áo cũ của anh là 66.[3]

Atlético Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 8 năm 2011, Arda đã gia nhập Atlético Madrid theo bản hợp đồng có thời hạn 4 năm. Phí chuyển nhượng của anh là 12 triệu euro và là cầu thủ Thổ Nhĩ Kỳ đắt nhất trong lịch sử.[4] Arda là một cầu thủ sáng tạo, kỹ thuật tuyệt vời kết hợp với Radamel Falcao trở thành bộ đôi ăn ý trên hàng công của đội bóng.

Sự nghiệp thi đấu đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Arda từng thi đấu cho các đội U-19 và U-21 Thổ Nhĩ Kỳ. Anh được gọi vào đội tuyển bóng đá quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 2006 tuy nhiên bàn thắng đầu tiên của anh cho đội tuyển là vào ngày 25 tháng 5 năm 2008 trong trận đấu giao hữu gặp Uruguay. Nhờ đó và phong độ trong màu áo Galatasaray nên anh được gọi vào đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ tham dự Euro 2008.

Ngày 11 tháng 6, trong trận đấu thứ hai của vòng loại gặp chủ nhà Thụy Sĩ, bàn thắng của anh ở phút 92 đã giúp Thổ Nhĩ Kỳ lội ngược dòng thành công thắng Thụy Sĩ 2-1. Đây cũng là bàn thắng thứ 2 cho đội tuyển của Arda. Với bàn thắng này, anh không chỉ mang về 3 điểm quý giá cho Thổ Nhĩ Kỳ mà còn dành luôn danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.[5]

Ngày 15 tháng 6, Arda lại 1 lần nữa ghi bàn và lần này đối thủ là Cộng hòa Séc. Bàn thắng của anh ở phút 75 trong hoàn cảnh Thổ Nhĩ Kỳ đang bị dẫn trước 2-0 đã mở màn cho 15 phút thần kì sau đó cho Thổ Nhĩ Kỳ khi họ ghi liên tiếp 2 bàn ngay sau đó đem về chiến thắng 3-2 chung cuộc. Với chiến thắng này, Thổ Nhĩ Kỳ cũng chính thức lọt vào vòng tứ kết và gặp đội đứng đầu bảng B là Croatia.[6]

Trong trận tứ kết giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Croatia, 2 đội phải bước vào loạt sút luân lưu khi đã hòa nhau 1-1 sau 120 phút thi đấu. Thổ Nhĩ Kỳ đã giành thắng lợi 3-1 tại loạt sút luân lưu để giành quyền vào bán kết gặp Đức trong đó Arda là người thực hiện thành công quả sút phạt đền đầu tiên. Sau cùng, Thổ Nhĩ Kỳ đã phải dừng bước ở bán kết sau trận thua Đức 3-2.

Sau trận đấu tại vòng loại World Cup 2010 ngày 6 tháng 9 năm 2008 gặp Armenia, 1 trận đấu của 2 quốc gia có nhiều xung đột trong quá khứ, cả Thổ Nhĩ Kỳ và Armenia đều giành được Giải thưởng Fair Play của FIFA năm 2008.[7] Arda cũng trở thành cầu thủ ghi bàn thắng thứ 600 cho đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ trong trận đấu gặp Estonia ngày 5 tháng 9 năm 2009.[8]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 26 tháng 4 năm 2017.[9][10][11][12]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Châu Âu Khác Tổng cộng
Trận Bàn Kiến tạo Trận Bàn Kiến tạo Trận Bàn Kiến tạo Trận Bàn Kiến tạo Trận Bàn Kiến tạo
Galatasaray 2004–05 1 0 0 1 0 0 0 0 0 2 0 0
2006–07 29 5 9 3 1 0 7 2 3 0 0 0 39 8 12
2007–08 30 7 14 7 0 3 7 1 4 44 8 21
2008–09 29 8 9 6 2 1 11 2 4 0 0 0 46 12 14
2009–10 29 7 14 6 4 4 12 0 8 47 11 26
2010–11 12 2 2 3 1 0 4 3 1 19 6 3
Tổng cộng 130 29 48 26 8 8 41 8 20 0 0 0 197 45 76
Manisaspor (mượn) 2005–06 15 2 2 0 0 0 15 2 2
Tổng cộng 15 2 2 0 0 0 15 2 2
Atlético Madrid 2011–12 33 3 6 0 0 0 12 2 6 45 5 12
2012–13 32 5 6 7 0 1 2 0 1 41 5 8
2013–14 30 3 4 5 2 0 9 4 1 2 0 1 46 9 6
2014–15 32 2 4 4 0 0 10 1 2 0 0 0 46 3 6
Tổng cộng 127 13 20 16 2 1 33 7 10 2 0 1 178 22 32
Barcelona 2015–16 18 2 3 4 0 1 3 0 0 0 0 0 25 2 4
2016–17 18 3 5 4 5 4 2 2 0 0 0 0 0 30 13
Tổng cộng 36 5 9 3 8 4 2 2 55 15
Tổng cộng sự nghiệp 308 49 51 14 81 19 4 2 445 84

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 6 tháng 10 năm 2017.[13]
Đội tuyển bóng đá quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ
Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
2006 5 0
2007 9 0
2008 12 4
2009 9 1
2010 7 5
2011 8 2
2012 11 0
2013 10 1
2014 7 0
2015 9 3
2016 10 1
2017 5 0
Tổng cộng 100 17

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 25 tháng 5 năm 2008 Rewirpowerstadion, Bochum, Đức  Uruguay 1–0 2–3 Giao hữu
2 11 tháng 6 năm 2008 St. Jakob-Park, Basel, Thụy Sĩ  Thụy Sĩ 2–1 2–1 Euro 2008
3 7 tháng 9 năm 2008 Stade de Genève, Geneva, Thụy Sĩ  Cộng hòa Séc 1–2 3–2 Euro 2008
4 11 tháng 10 năm 2008 Sân vận động BJK İnönü, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ  Bosna và Hercegovina 1–1 2–1 Giao hữu
5 5 tháng 9 năm 2009 Sân vận động Kadir Has, Keyseri, Thổ Nhĩ Kỳ  Estonia 3–2 4–2 Vòng loại World Cup 2010
6 22 tháng 5 năm 2010 Red Bull Arena, Harrison, Hoa Kỳ  Cộng hòa Séc 1–0 2–1 Giao hữu
7 29 tháng 5 năm 2010 Lincoln Financial Field, Philadelphia, Hoa Kỳ  Hoa Kỳ 1–0 1–2 Giao hữu
8 11 tháng 8 năm 2010 Sân vận động Şükrü Saracoğlu, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ  România 2–0 4–2 Giao hữu
9 3 tháng 9 năm 2010 Astana Arena, Astana, Kazakhstan  Kazakhstan 1–0 3–0 Vòng loại Euro 2012
10 7 tháng 9 năm 2010 Sân vận động Şükrü Saracoğlu, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ  Bỉ 3–2 3–2 Vòng loại Euro 2012
11 29 tháng 3 năm 2011 Sân vận động Şükrü Saracoğlu, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ  Áo 2–0 2–0 Vòng loại Euro 2012
12 2 tháng 9 năm 2011 Türk Telekom Arena, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ  Kazakhstan 2–1 2–1 Vòng loại Euro 2012
13 6 tháng 9 năm 2013 Sân vận động Kadir Has, Keyseri, Thổ Nhĩ Kỳ  Andorra 5–0 5–0 Vòng loại World Cup 2014
14 12 tháng 6 năm 2015 Sân vận động Trung tâm Almaty, Almaty, Kazakhstan  Kazakhstan 1–0 1–0 Vòng loại Euro 2016
15 6 tháng 9 năm 2015 Torku Arena, Konya, Thổ Nhĩ Kỳ  Hà Lan 2–0 3–0 Vòng loại Euro 2016
16 13 tháng 11 năm 2015 Sân vận động Abdullah bin Khalifa, Doha, Qatar  Qatar 1–1 2–1 Giao hữu
17 29 tháng 3 năm 2016 Ernst-Happel-Stadion, Vienna, Áo  Áo 2–1 2–1 Giao hữu

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Galatasaray
Atletico Madrid

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Adnan Polat: We're not selling Arda”. Sabah.com. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2008. 
  2. ^ “New squad changes announced”. galatasaray.org (Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2009. 
  3. ^ “Captain Arda now number 10”. Galatasaray.org (Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2009. 
  4. ^ Chiêu Dương (ngày 10 tháng 8 năm 2011). “Turan khoác áo Atletico Madrid”. Bongdaplus.vn. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  5. ^ Arda Turan nhận giải cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu Thụy Sĩ-Thổ Nhĩ Kỳ
  6. ^ Trận Thổ Nhĩ Kỳ-Cộng hòa Séc
  7. ^ “Fair play for Armenia, Turkey”. FIFA.com. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2009. 
  8. ^ “600th goal from Arda”. Hurriyet (Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2009. 
  9. ^ “Turan, Arda”. National Football Teams. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2012. 
  10. ^ “ARDA TURAN”. Turkish Football Federation. Ngày 27 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2012. 
  11. ^ “Arda Turan”. Mackolik.com. Ngày 27 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2012. 
  12. ^ “Turan Arda”. sofoot.com (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2015. 
  13. ^ “Arda Turan”. European Football. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015. 
  14. ^ Galatasaray vô địch mùa giải 2007/2008

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]