Arthur, Hoàng tử xứ Wales

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Arthur
Hoàng tử xứ Wales
Arthur Prince of Wales c 1500.jpg
Anonymous portrait, c. 1501
Thông tin chung
Phối ngẫu Catherine xứ Aragon
(kết hôn Lỗi: thời gian không hợp lệ–nay) «Không nhận diện được ngày tháng. Năm phải gồm 4 chữ số (để 0 ở đầu nếu năm < 1000).»"Hôn nhân: Catherine xứ Aragon
đến Arthur, Hoàng tử xứ Wales
"
Location:Bản mẫu:Placename/adr
(linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Arthur,_Ho%C3%A0ng_t%E1%BB%AD_x%E1%BB%A9_Wales)
Hoàng tộc Tudor
Thân phụ Henry VII của Anh
Thân mẫu Elizabeth xứ York
Sinh 20 tháng 9, 1486(1486-09-20)
Winchester Cathedral Priory, Winchester, Vương quốc Anh
Mất 2 tháng 4, 1502 (15 tuổi)
Lâu đài Ludlow, Ludlow, Shropshire, Vương quốc Anh
An táng Nhà nguyện Worcester, Worcester, Vương quốc Anh
Tôn giáo Giáo hội Công giáo Rome

Arthur Tudor (20 tháng 9 1486 – 2 tháng 4 1502) là Hoàng tử xứ Wales, Bá tước ChesterCông tước Cornwall. Là con trai lớn và người thừa kế của Henry VII của Anh, Arthur được người đương thời coi là niềm hi vọng lớn cho vương triều mới được thành lập, Nhà Tudor. Mẹ của ông, Elizabeth xứ York, là con gái của Edward IV, và sự chào đời của ông củng cố mối liên minh giữa Nhà Tudor và Nhà York.

Kế hoạch hôn nhân cho Arthur bắt đầu ngay từ trước sinh nhật thứ ba của ông; ông được phong Hoàng tử xứ Wales hai năm sau. Ông đặc biệt thân thiết với các em mình là MargaretHenry, Công tước xứ York, về sau họ được nuôi dạy bởi cùng các gia sư với ông.[1] Đến tuổi 11, Arthur chính thức đính hôn với Catherine xứ Aragon, con gái của một vị quân vương Công giáo quyền lực ở Tây Ban Nha, trong một nỗ lực thiết lập liên minh Anh - Tây Ban Nha chống lại Pháp. Authur được giáo dục tốt và, trái ngược với những suy tưởng hiện tại, ông có sức khỏe tốt trong phần lớn cuộc dời mình. Không lâu sau hôn nhân với Catherine năm 1501, hai người đến cư trú tại Lâu đài LudlowShropshire, nơi Arthur qua đời sáu tháng sau đó vì một căn bệnh không rõ. Catherine về sau tuyên bố một cách kiên quyết rằng cuộc hôn nhân này là không hoàn chỉnh.

Một năm sau cái chết của Authur, Henry VII phục hồi lại nỗ lực thiết lập một liên minh với Tây Ban Nha bằng cách xếp đặt cho Catherine cưới em trai của Arthur, Henry, người liền sau đó trở thành Hoàng tử xứ Wales. Cái chết không đúng lúc của Arthur đã mở đường cho Henry lên ngôi vào năm 1509. Câu hòi tiềm năng về sự qua đêm tân hôn trong hôn nhân của Arthur và Catherine, về sau được khai thác rất nhiều (và trong một bối cảnh chính trị hoàn toàn khác) bởi vua Henry VIII và triều đình của ông để phủ nhận tính hợp pháp của hôn nhân giữa Catherine với Henry, cuối cùng dẫn đến sự li khai Giáo hội Anh khỏi Giáo hội Công giáo Roma.

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

The family of Henry VII, depicted on an illuminated page.

Năm 1485, Henry Tudor trở thành Vua của Anh sau khi đánh bại Richard III tại Trận Bosworth. Trong một nỗ lực nhằm củng cố tuyên bố chủ quyền ngai vàng của nhà Tudor và nhấn mạnh rằng gia đình ông gốc Wales, được gọi là Romano-British, Henry đã lập phả hệ hoàng gia của ông đến các nhà cai trị Anh quốc thời cổ và đặt tên con trai đầu lòng của ông theo tên vị vua huyền thoại Authur. Trong dịp này, Camelot được đổi theo tên gọi ngày nay Winchester,[2] và vợ ông, Elizabeth xứ York, được đưa đến Tu viện Saint Swithun (nay là Nhà thờ Tu viện Winchester) để sinh con ở đó.[3] Chào đời tại Tu viện Saint Swithun[4] ngày 20 tháng 9 năm 1486 vào khoảng 1 giờ sáng,[5] Arthur là con trai lớn của Henry và Elizabeth.[6] Sự ra đời của Arthur được xem xét trước bởi những nhà nghiên cứu người Pháp và Ý là sự bắt đầu của "Thời kì vàng Virgilian".[5] Sir Francis Bacon viết rằng mặc dù Hoàng tử sinh non khoảng một tháng, nhưng "khỏe mạnh và có tư chất".[7] Cậu bé Arthur được coi là "một biểu tượng sống" không chỉ cho liên minh giữa Nhà TudorNhà York, mà còn là sự kết thúc của Chiến tranh Hoa Hồng.[2] Trong quan niệm của những người đương thời, Arthur là niềm hi vọng lớn cho Vương triều mới Tudor.[5]

Arthur trở thành Công tước Cornwall sau khi sinh.[6] Chào đời được 4 ngày, cậu bé được rửa tội tại Nhà nguyện Winchester bởi Giám mục Worcester, John Alcock, và lễ rửa tội của ông đã ngay lập tức theo sau bởi sự chứng thực.[3] John de Vere, Bá tước Oxford thứ 13, Thomas Stanley, Bá tước Derby thứ nhất, William FitzAlan, Bá tước Arundel thứ 16, Hoàng hậu Elizabeth WoodvilleCecily xứ York là cha mẹ đỡ đầu.[8] Ban đầu, phòng bú dành cho Arthur ở Farnham được dẫn đầu bởi Elizabeth Darcy, người đã từng là bảo mẫu cho các con của Edward IV, bao gồm cả mẹ của Authur. Sau khi Arthur được tấn phong Hoàng tử xứ Wales năm 1490, ông được trao tặng một ngôi nhà theo chỉ dụ của phụ thân.[4] Trong 13 năm tiếp theo, Henry VII và Elizabeth có thêm sáu người con, ba trong số đó – Margaret, HenryMary – sống đến tuổi trưởng thành.[9] Arthur đặc biệt thân thiết với hoàng muội Margaret (s. 1489) và hoàng đệ Henry (s. 1491), ông với họ cùng ở chung một nhà trẻ.[10]

Ngày 29 tháng 11 năm 1489, sau khi được trao tặng Hiệp sĩ của Bath, Arthur được tấn phong Hoàng tử xứ WalesBá tước Chester,[11] và làm lễ thụ phong tại Cung điện Westminster ngày 27 tháng 2 năm 1490.[12] Một phần trong lễ thụ phong, ông đi tới Sông Thames trên chiếc sà lan hoàng gia và ở tại Chelsea đã gặp Thị trưởng London, John Mathewe, và tại Lambeth tiếp kiến đại sứ Tây Ban Nha.[13] Ngày 8 tháng 5 năm 1491, ông được trao tặng Hiệp sĩ Garter[6] tại Nhà nguyện St George tại Cung điện Windsor.[14] Trong khoảng thời gian này Arthur chính thức được đi học dưới sự giảng dạy của John Rede, hiệu trưởng cũ của Winchester College.[4] Người dạy ông tiếp sau đó là Bernard André, một nhà thơ mù,[15] và tiếp nuaex là Thomas Linacre, trước kia là bác sĩ của Henry VII.[16] Arthur được học bao gồm ngữ pháp, thơ, hùng biện cùng luân lí học và tập trung vào lịch sử.[17] Arthur là một học sinh có năng khiếu và André viết rằng Hoàng tử xứ Wales hoặc đã học thuộc lòng hoặc đã đọc tuyển tập của Homer, Virgil, Ovid, Terence, cách cư xử tốt của Cicero và số lượng lớn các công trình lịch sử, bao gồm Thucydides, Caesar, LivyTacitus.[18] Arthur cũng là một "cung thủ tuyệt vời",[19] và đã học nhảy "êm đềm và đáng tôn kính" trước 1501.[20]

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử Arthur, c. 1500. Đây là bức thân dung sớm nhất còn tồn tại của Arthur.[21]

Niềm tin phổ biến rằng Arthur ốm yếu trong phần lớn cuộc đời bắt nguồn từ một sự hiểu lầm dưới thời Victoria trong một bức thư từ 1502;[22] Ngược lại, không có tường thuật nào cho thấy Arthur ốm yếu trong suốt cuộc đời.[23] Arthur lớn lên và cực kì cao so với tuổi của mình,[22] và được cho là đẹp trai bởi triều đình Tây Ban Nha:[24] ông có mái tóc đỏ, mắt nhỏ, mũi cao và giống như em trai Henry,[25] được người đương thời coi là "cực kì đẹp trai".[26] Như mô tả của các sử gia Steven Gunn và Linda Monckton, Arthur co tính cách "dễ thương và nhẹ nhàng", và trên tổng thể là, một "chàng trai tinh tế".[27]

Tháng 5 năm 1490 Arthur được tấn phong thống đốc của toàn vùng biên giới với ScotlandBá tước Surrey được bổ nhiệm làm phó cho hoàng tử. Từ 1491, chữ Arthur trở thành tên của hoa hồng hòa bình. Tháng 10 năm 1492, khi phụ vương công du đến Pháp, ông được bổ nhiệm Quản hộ của Anh và Trung úy của Đức vua. Theo gương của Edward IV, Henry VII thiết lập Hội đồng xứ Wales và Marches dành cho Arthur ở Wales, để thực thi quyền lực hoàng gia ở đó. Mặc dù hội đồng vừa được thiết lập năm 1490, nó được dẫn đầu bởi Jasper Tudor, Công tước Bedford.[4] Arthur lần đầu tiên được cử đến Wales năm 1501, khi ông 15 tuổi.[28] Tháng 3 năm 1493, Arthur được trao quyền bổ nhiệm các thẩm phán của oyer and terminer và thẩm tra quyền bầu cử, nhờ đó tăng tường quyền hạn của hội đồng. Tháng 11 năm đó, Hoàng tử cũng nhận được một phần lãnh địa rộng lớn ở Wales, bao gồm Quận March.[4]

Arthur được phục vụ bởi dòng dõi quý tộc Anh, Ireland và Scotland, chẳng hạn như Gearoid Óg FitzGerald, Bá tước thứ 9 của Kildare, người đã được đưa đến triều đình Anh vì hệ quả của sự dính líu của cha ông ta, Gerald Fitzgerald, Bá tước thứ 8 của Kildare, trong vụ gia miện cho kẻ đòi ngôi Lambert Simnel ở Ireland dưới thời Henry VII.[29] Những người phục vụ khác nhà Anthony Willoughby, con trai của Robert Willoughby, Nam tước thứ nhất của Willoughby de Broke, Robert Radcliffe, người thừa kế của Nam tước thứ 9 của FitzWalter và Maurice St John, người cháu được cưng chiều bởi tổ mẫu Arthur là Lady Margaret Beaufort. Ông được tháp tùng bởi Gruffydd ap Rhys ap Thomas, con trai của vị quý tộc quyền lực đến từ Wales Thomas ap Rhys,[30] Gruffydd càng thân thiết với Arthur[31] và được an táng tại Nhà thờ Worcester khi qua đời năm 1521, bên cạnh mộ của Hoàng tử.[32]

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Một tấm thảm Flemish miêu tả triều đình của Arthur và Catherine.

Henry VII định đoạt hôn sự của Arthur với một quân vương Công giáo, Isabel I của CastillaFernando II của Aragon, nhằm thiết lập liên minh Anh - Tây Ban Nha chống lại Pháp.[33] Có ý kiến rằng hôn sự của Arthur với con gái út của Ferdinand cùng Isabella, Catherine (b. 1485), sẽ là thích hợp.[4] Hiệp ước of Medina del Campo (27 tháng 3 1489) quy định rằng Arthur và Catherine sẽ kết hôn lúc họ trưởng thành; và của hồi môn của Catherine là 200,000 crowns (tương đương £5 năm 2007).[34] Vì Arthur, chưa bước tuổi 14, dưới độ tuổi theo thỏa thuận, một sự miễn trừ của giáo hoàng (tức là, giấy khước từ) cho phép họ kết hôn được ban vào tháng 2 năm 1497, và hai người đính hôn ngày 25 tháng 8 năm 1497.[35][3] Hai năm sau, hôn nhân ủy nhiệm được tổ chức tại Tickenhill Manor của Arthur ở Bewdley, gần Worcester; Arthur nói với Roderigo de Puebla, người làm đại diện cho Catherine, rằng "ông rất vui mừng với giao ước hôn nhân vì tình cảm sâu sắc và chân dành dành cho Công chúa".[36]

Trong một lá thư tháng 10 năm 1499, Arthur, gọi Catherine là "vợ thân yêu nhất của ta", đã viết:

"Ta không thể nói cho nàng biết sự khát khao tha thiết mà ta đang chịu đựng để được thấy Công chúa điện hạ, và sự nhũng nhiễu của ta là việc trì hoãn về ngày tới của nàng. Nào hãy mau lên, tình yêu đang hình thành giữa chúng ta và niềm mơ ước-cho sự hân hoan khi nó đơm hoa kết quả."[36]

Cặp đôi trẻ trao đổi thư từ bằng chữ Latin cho đến 20 tháng 9 năm 1501, khi Arthur, vừa lên 15, được coi như đủ tuổi kết hôn.[37] Catherine đổ bộ lên nước Anh khoảng hai tuần sau, 2 tháng 10 năm 1501, hai người gặp nhau lần đầu tại Dogmersfield thuộc Hampshire.[38] Arthur viết cho song thần của Catherine rằng ông sẽ là "một người chồng đúng nghĩa và có tình"; cặp đôi này sớm phát hiện ra rằng họ dùng những cách phát âm khác nhau của Latin nên không thể giao tiếp với nhau.[39] Năm hôm sau, ngày 9 tháng 11 năm 1501, Catherine đến London.[25]

Ngày 14 tháng 11 năm 1501, hôn lễ cuối cùng cũng diễn ra tại Nhờ thờ Saint Paul; cả Arthur lẫn Catherine đều mặc satin trắng. Buổi lễ được chủ trì bởi Henry Deane, Tổng Giám mục Canterbury, và hỗ trợ là William Warham, Giám mục London. Sau buổi lễ, Arthur cùng Catherine rời khỏi nhà thờ và đi thẳng đến Lâu đài Baynard, nơi họ được hoan nghênh bằng "những đứa trẻ có chất giọng tốt nhất của nhà thờ của Vua, chúng hát thực sự ngọt ngào với sự hòa âm là lạ".[40]

Những gì tiếp theo là một buổi lễ được xếp đặt bởi tổ mẫu của Arthur, Lady Margaret Beaufort: chiếc giường được rắc lên những giọt nước thánh, sau đó Catherine được dẫn đi từ đám cưới bởi các thị nữ của mình. Bà bị cởi quần áo, và được đặt một cách cung kính lên chiếc giường, trong khi Arthur, "trong chiếc áo của mình, với những lớp áo choàng xung quanh", được hộ tống bởi các quý tộc vào phòng ngủ, và tiếng viol cùng tabor vang lên. Giám mục London ban phước cho chiếc giường và cầu nguyện cho cuộc hôn nhân có nhiều con cái, sau đó cặp đôi được bỏ lại cùng với nhau. Đó là bộ đồ giường công khai duy nhất của một cặp đôi hoàng gia ở Anh trong thế kỉ XVI.[41]

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử Arthur, được mô tả trên một khung cửa kính tại Great Malvern.

Sau khi cư trú tại Tickenhill Manor[42] trong một tháng, Arthur cùng Catherine đi đến vùng biên giới ở Wales, và họ thành lập gia trang tại Lâu đài Ludlow.[43] Arthur trở nên yếu đi từ sau hôn lễ,[44] và mặc dù Catherine không thích đi với ông, bà bị Henry VII ép buộc đi cùng chồng.[45] Arthur cảm thấy cai trị xứ Wales là dễ dàng, vì vùng biên giới đã trở nên yên tĩnh hơn sau nhiều thế kỉ chiến tranh. Tháng 3 năm 1502, Arthur và Catherine bị nhiễm một căn bệnh kì lạ, "một làn hơi ác tính phát sinh từ không khí".[46][note 1] Trong khi Catherine hồi phục, Arthur qua đời ngày 2 tháng 4 năm 1502 tại Ludlow, chỉ vẻn vạn 6 tháng sau sinh nhật thứ 16.[52]

Thông tin về cái chết của Arthur bay về triều đình Henry VII cuối tháng 4.[4] Nhà vua bị đánh thức khi đang ngủ bởi giáo sĩ của ông, người trích dẫn Job bằng cách hỏi Henry "Nếu chúng ta nhận một thứ tốt đẹp từ tay của Chúa, tại sao chúng ta không chịu đựng được những thứ xui rủi?" Sau đó ông nói với nhà rằng "con trai thân yêu nhất [của ngài] đã về với Chúa", và Henry bật khóc.[53] "Sầu khổ-hãi hùng và xúc động", sau đó ông bảo vợ đưa mình về phòng ngủ, để họ có thể "cùng nhau nhận những thông tin đau đớn";[54] Elizabeth nhắc nhỏ Henry rằng Chúa đã giúp ông trở thành vua và "đã từng bảo vệ ông", nói thêm rằng họ đã bị bỏ lại với "còn một Hoàng tử và hai Công chúa xinh đẹp và rằng Thiên đừong là nơi ông đến, và [cả hai] đều vẫn còn trẻ".[55] Ngay sau khi rời khỏi phòng của Henry, Elizabeth suy sụp và bắt đầu khóc, trong khi các thị nữ báo cho nhà vua, ông vội vã đến và "trấn an bà".[56]

Ngày 8 tháng 4, một đám rước tập thể diễn ra nhằm cứu vớt cho linh hồn của Arthur. Đêm hôm đó, một bài ai ca vang lên tại Nhà nguyện St Paul và mọi nhà thờ khác trong giáo phận London.[57] Ngày 23 tháng 4,[3] di thể của Arthur, trước đó đã được ướp xác,[58] được rắc nước thánh và được che chờ bằng màn trước, được đem đến Lâu đài Ludlow và vào trong Nhà thờ xứ đạo Ludlow bởi nhiều quý tộc và quý ông.[57] Ngày 25 tháng 4, di thể của Arthur được đem đến Nhà thờ Worcester theo đường Sông Severn, trong một "toa xe đặc biệt phủ màu đen và kéo bởi sáu con ngựa, cũng có tấm phủ trên lưng màu đen".[59] Theo như phong tục, Catherine không tham dự đám tang.[58] Bá tước Surrey làm người đứng đầu lực lượng khóc than.[60] Vào cuối buổi lễ, Sir William Uvedale, Sir Richard Croft và quản gia trong gia trang của Arthur phá vỡ cây gậu của họ và ném vào mộ của Hoàng tử[61] Trong suốt tang lễ, huy hiệu của riêng Arthur được trưng bày bên cạnh của Cadwaladr ap GruffyddBrutus of Troy.[4] Hai năm sau, một nơi hát lễ được dựng lên tại ngôi mộ của Arthur.[3]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Arthur, do George Perfect Harding vẽ, c. 1815
Bài chi tiết: Cải cách ở Anh

Không lâu sau cái chết của Arthur, ý tưởng gán ghép Catherine, đang là góa phụ, cho người thừa kế mới, Henry, được đưa ra; cả nhà vua và Isabel đều quan tâm đến việc dời đổi này, và giáo hoàng đồng ý cấp sự miễn trừ.[62] Sau những từ chối ban đầu, Henry tuyên bố, vào lúc kế vị ngày 22 tháng 4 năm 1509, rằng ông sẽ kết hôn với Catherine.[63] Hôn lễ diễn ra ngày 11 tháng 6.[64] Catherine sinh cho Henry sáu người con: ba con trai chết trước khi bước sang tháng thứ ba, một con gái chết lưu và một chỉ sống được một tuần. Đứa con còn sống duy nhất của cặp đôi này là Mary I (b. 1516).[65]

Năm 1526, sau khi kết hôn 18 năm, Henry bắt đầu theo đuổi Anne Boleyn, em gái nhân tình cũ của ông, Mary Boleyn. Cùng lúc đó, ông gặp rắc rối bởi những gì gọi là "Vấn đề lớn" của Đức vua, đó là, tìm kiếm một cách thích hợp nào đó để có con trai nối dõi. Ông tìm thấy một số lựa chọn khả dĩ. Ông có thể cố gắng hợp pháp hóa đứa con ngoại hôn Henry FitzRoy, nhưng điều đó sẽ không dễ dàng và đòi hỏi sự chấp thuận của Giáo hoàng. Ông có thể kiếm một người chồng cho Mary và hi vọng có một đứa cháu trai; điều này xem ra không thiết thực, bởi vì Mary là một đứa trẻ ốm yếu và không có thai trước khi Henry qua đời. Cuối cùng, ông tìm cách chối bỏ Catherine và kết hôn với một người nào đó có khả năng sinh con. Có lẽ khả năng kết hôn với Anne, lựa chọn thứ ba là khả thi nhất đối với Henry,[66] và nhanh chóng trở thành ước muốn li hôn của nhà vua.[67]

Henry tin rằng hôn nhân của ông đã bị một lời nguyền và tìm thấy sự chứng thực trong Kinh Thánh, trong Leviticus 20:21.[68][note 2] Mặc dù vào buổi sáng sau đám cưới, Arthur nói rằng ông khát nước "vì ta đã ở giữa Tây Ban Nha tối đêm qua" và rằng "có một người vợ là trò giải trí tốt", những tuyên bố này thường được bác bỏ bởi các sử gia hiện đại vì theo họ đó chỉ là một cậu bé không muốn người khác biết về thất bại của mình,[4][69] và Catherine duy trì tuyên bố rằng bà kết hôn với Henry khi vẫn còn trinh nữ đến tận lúc qua đời.[48] Sau những nỗ lực không ngớt nhằm chứng minh rằng cuộc hôn nhân thứ nhất của Catherine là trọn vẹn, lệnh hủy hôn được ban hành ngày 23 tháng 4 năm 1533,[70] trong khi nhà vua kết hôn với Anne ngày 25 tháng 1.[71] Anne bị chặt đầu vì tội ngoại tình năm 1536, và sau đó Henry kết hôn thêm bốn lần nữa. Vào lúc băng hà năm 1547, Henry chỉ có ba người con sống sót; con trai duy nhất, Edward VI lên kế tự nhưng qua đời chỉ sáu năm sau. Tiếp theo là con gái Henry với Catherine và Anne, Mary I và Elizabeth I. Đến khi cái chết của Elizabeth năm 1603, nhánh nam của nhà Tudor đoản hậu.

Năm 2002, theo kiến nghị của giáo sĩ Ian MacKenzie, đám tang của Arthur được tái diễn với một lễ cầu siêu tại Nhà nguyện Worcester, vào dịp kỉ niệm 500 năm cái chết của ông. Dù cho vai trò của mình trong lịch sử Anh quốc, Arthur vẫn bị quên lãng từ sau cái chết của mình.[72]

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Arthur được đề cập đến trong nhiều tiểu thuyết lịch sử, chẳng hạn như The King's Pleasure, bởi Norah LoftsKatherine, The Virgin Widow, bởi Jean Plaidy. Trong The Constant Princess, bởi Philippa Gregory, Catherine hứa hẹn với Arthur sẽ lấy em trai ông, do đó hoàn thành không chỉ số phận của bà là trở thành Hoàng hậu Anh, mà còn là kế hoạch của cặp đôi này cho tương lai của vương quốc.[73] The Alteration, của Kingsley Amis, là một tiểu thuyết lịch sử giả định tập trung vào "Chiến tranh Kế vị Anh", trong đó Henry VIII nỗ lực cướp ngôi của cháu trai mình, Stephen II, con trai của Arthur và Catherine.

Vở kịch lịch sử The Six Wives of Henry VIII được phát sóng năm 1970, với Martin Ratcliffe đóng vai "Hoàng tử Arthur".[74] Năm 1972, BBC2 phát hành một bộ phim lịch sử mang tên The Shadow of the Tower, với "Lord Arthur, Hoàng tử xứ Wales" được diễn bởi Jason Kemp.[75]

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Người ta cho rằng căn bệnh bí ẩn này là bệnh đổ mồ hôi,[47] bệnh lao ("lao phổi"),[48] dịch[49] hoặc cúm.[50] Năm 2002, mộ của Arthur được khai quật, nhưng các chuyên gia không thể xác định chính xác nguyên nhân cái chết; một căn bệnh di truyền mà còn ảnh hưởng đến cháu trai của Arthur, Edward VI, đã được đề cập như là một nguyên nhân có thể được điều tra.[51]
  2. ^ Mặc dù Henry có thể đọc phiên bảnn Latin, bản dịch được cung cấp bởi King James Version năm 1604 nói rằng "và nếu một người đàn ông lấy vợ của anh em mình, điều đó là sự ô uế: ông ta đã gây sự ô nhục đối với người anh em kia; và họ sẽ vô hậu."

Chú thích nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Weir 2008b, tr. 4–5.
  2. ^ a ă Wagner & Schmid 2011, tr. 1104.
  3. ^ a ă â b c Wheeler, Kindrick & Salda 2000, tr. 377.
  4. ^ a ă â b c d đ e ê Horrox, Rosemary (2004). “Arthur, prince of Wales (1486–1502)”. Oxford Dictionary of National Biography. Oxford University Press. doi:10.1093/ref:odnb/705. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013.  (yêu cầu đăng ký)
  5. ^ a ă â Gunn & Monckton 2009, tr. 1.
  6. ^ a ă â Weir 2008a, tr. 151.
  7. ^ Fuller 1840, tr. 6.
  8. ^ Grose 1784, tr. 193–97.
  9. ^ Crofton 2006, tr. 129.
  10. ^ Marshall 2003, tr. 85.
  11. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 10.
  12. ^ Allison & Riddell 1991, tr. 605.
  13. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 2–3.
  14. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 3.
  15. ^ Weir 2008b, tr. 5.
  16. ^ Weir 2008b, tr. 150.
  17. ^ Ives 2007, tr. 2.
  18. ^ Scarisbrick 1968, tr. 5.
  19. ^ Weir 2008b, tr. 113.
  20. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 9.
  21. ^ Mould 1995, tr. 121.
  22. ^ a ă Gunn & Monckton 2009, tr. 39.
  23. ^ Jones 2009, tr. 23.
  24. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 46.
  25. ^ a ă Weir 2007, tr. 30.
  26. ^ Scarisbrick 1968, tr. 13.
  27. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 48.
  28. ^ Scarisbrick 1968, tr. 6.
  29. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 16.
  30. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 15.
  31. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 51.
  32. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 94.
  33. ^ Kidner 2012, tr. 380.
  34. ^ Weir 2007, tr. 17.
  35. ^ Fraser 1992, tr. 24.
  36. ^ a ă Weir 2007, tr. 23.
  37. ^ Sanders & Low 1910, tr. 235.
  38. ^ Weir 2007, tr. 27.
  39. ^ Fraser 1992, tr. 25.
  40. ^ Weir 2007, tr. 33.
  41. ^ Weir 2008b, tr. 11.
  42. ^ Weir 2008b, tr. 35.
  43. ^ O'Day 2012, tr. 1554.
  44. ^ Weir 2007, tr. 35.
  45. ^ Weir 2007, tr. 36.
  46. ^ Weir 2007, tr. 37.
  47. ^ Hibbert 2010, tr. 4.
  48. ^ a ă Whitelock 2010, tr. 14.
  49. ^ Tatton-Brown & Mortimer 2003, tr. 286.
  50. ^ Barber & Pykitt 1997, tr. 269.
  51. ^ Derbyshire, David (ngày 20 tháng 5 năm 2002). “Discovery of grave may solve mystery death of Henry VIII's brother at 15”. The Telegraph. telegraph.co.uk. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2013. 
  52. ^ Ives 2007, tr. 1.
  53. ^ Weir 2007, tr. 37–38.
  54. ^ Richardson 1970, tr. 19.
  55. ^ Crawford 2007, tr. 166.
  56. ^ Crawford 2007, tr. 167.
  57. ^ a ă Gunn & Monckton 2009, tr. 64.
  58. ^ a ă Weir 2007, tr. 38.
  59. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 65.
  60. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 71.
  61. ^ Hearne 1774, tr. 381.
  62. ^ Loades 2009, tr. 22.
  63. ^ Loades 2009, tr. 24.
  64. ^ Wagner & Schmid 2011, tr. 226.
  65. ^ Weir 2008a, tr. 154.
  66. ^ Loades 2009, tr. 88–89.
  67. ^ Brigden 2000, tr. 114.
  68. ^ MacCulloch 1995, tr. 139.
  69. ^ Weir 2007, tr. 34.
  70. ^ Weir 2008b.
  71. ^ Williams 1971, tr. 124.
  72. ^ Gunn & Monckton 2009, tr. 5.
  73. ^ Jackson, Melanie (ngày 9 tháng 5 năm 2005). “The Constant Princess”. Publishers Weekly. publishersweekly.com. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2013. 
  74. ^ The Six Wives of Henry VIII (1970) tại Internet Movie Database
  75. ^ The Shadow of the Tower (1972) tại Internet Movie Database

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Allison, Ronald; Riddell, Sarah (1991). The Royal Encyclopedia. London: Macmillan Press. ISBN 0-333-53810-2. 
  • Barber, Chris; Pykitt, David (1997). Journey to Avalon: The Final Discovery of King Arthur. York Beach, ME: Weiser Books. ISBN 1-57863-024-X. 
  • Brigden, Susan (2000). New Worlds, Lost Worlds. Westminster: Penguin Books. ISBN 978-0-14-014826-8. 
  • Crawford, Anne (2007). The Yorkists: The History of a Dynasty. London: Continuum Publishing. ISBN 978-1-85285-351-8. 
  • Crofton, Ian (2006). The Kings and Queens of England. London: Quercus Books. ISBN 978-1-84724-141-2. 
  • Fraser, Antonia (1992). The Wives of Henry VIII. London: Vintage. ISBN 0-679-73001-X. 
  • Fuller, Thomas (1840). The History of the Worthies of England. London: T. Tegg. OCLC 3852251. 
  • Grose, Francis (1784). The Antiquarian Repertory. London: F. Blyth, J. Sewell & T. Evans. OCLC 6655387. 
  • Gunn, Steven; Monckton, Linda (2009). Arthur Tudor, Prince of Wales: Life, Death and Commemoration. Woodbridge: Boydell Press. ISBN 978-1-84383-480-9. 
  • Hearne, Thomas (1774). De Rebus Britannicis Collectanea. London: White. 
  • Hibbert, Christopher (2010). The Virgin Queen: A Personal History of Elizabeth I. New York: Viking Press. ISBN 978-1-84885-555-7. 
  • Ives, Eric (2007). Henry VIII. Oxford: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-921759-5. 
  • Jones, Philippa (2009). The Other Tudors: Henry VIII's Mistresses and Bastards. London: New Holland Publishers. ISBN 978-1-84773-429-7. 
  • Kidner, Frank L. (2012). Making Europe: The Story of the West 1. Stamford, CT: Cengage Learning. ISBN 978-1-111-84133-1. 
  • Loades, David (2009). Henry VIII: Court, Church and Conflict. London: National Archives. ISBN 978-1-905615-42-1. 
  • MacCulloch, Diarmaid (1995). The Reign of Henry VIII: Politics, Policy and Piety. New York: Palgrave Macmillan. ISBN 0-312-12892-4. 
  • Marshall, Rosalind Kay (2003). Scottish Queens, 1034–1714. Toronto: Dundurn. ISBN 1-86232-271-6. 
  • Mould, Philip (1995). Sleepers: In Search of Lost Old Masters. London: Fourth Estate. ISBN 1-85702-218-1. 
  • O'Day, Rosemary (2012). The Routledge Companion to the Tudor Age. London: Routledge. ISBN 978-0-415-44564-1. 
  • Richardson, Walter Cecil (1970). Mary Tudor: The White Queen. London: Owen. OCLC 69105. 
  • Sanders, Frederick; Low, Sidney (1910). The Dictionary of English History. London: Cassell Books. OCLC 1107116. 
  • Scarisbrick, J.J. (1968). Henry VIII. Los Angeles: University of California Press. ISBN 0-520-01130-9. 
  • Tatton-Brown, T.W.T.; Mortimer, Richard (2003). Westminster Abbey: The Lady Chapel of Henry VII. Woodbridge: Boydell Press. ISBN 1-84383-037-X. 
  • Wagner, John; Schmid, Susan Walters (2011). Encyclopedia of Tudor England. Santa Barbara: ABC-CLIO. ISBN 978-1-59884-298-2. 
  • Weir, Alison (2007). The Six Wives of Henry VIII. New York: Grove Press. ISBN 0-8021-3683-4. 
  • Weir, Alison (12 tháng 2 năm 2017). Britain's Royal Families: The Complete Genealogy. London: Vintage Books. ISBN 978-0-09-953973-5. 
  • Weir, Alison (12 tháng 2 năm 2017). Henry VIII: King & Court. London: Vintage Books. ISBN 978-0-09-953242-2. 
  • Wheeler, Bonnie; Kindrick, Robert L.; Salda, Michael Norman (2000). The Malory Debate: Essays on the Texts of Le Morte Darthur. Cambridge: Boydell & Brewer. ISBN 978-0-85991-583-0. 
  • Whitelock, Anna (2010). Mary Tudor: England's First Queen. London: Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-4088-0078-2. 
  • Williams, Neville (1971). Henry VIII and His Court. London: Weidenfeld & Nicolson. OCLC 463240909. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Arthur, Hoàng tử xứ Wales
Sinh: 19 tháng 9, 1486 Mất: 2 tháng 4, 1502
Quý tộc Anh
Trống
Danh hiệu cuối cùng được tổ chức bởi
Edward xứ Middleham
Công tước Cornwall
1486–1502
Kế vị
Henry
Hoàng tử Wales
1486–1502
Trống
Danh hiệu tiếp theo được tổ chức bởi
Henry

Bản mẫu:Công tước Cornwall