Cá sú mì

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Bàng chài đầu gù)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cheilinus undulatus
Humphead wrasse melb aquarium.jpg
Cá cái sinh sản ở Bể cá Melbourne
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Perciformes
Họ (familia) Labridae
Chi (genus) Cheilinus
Loài (species) C. undulatus
Danh pháp hai phần
Cheilinus undulatus
Rüppell, 1835
Danh pháp đồng nghĩa
  • Cheilinus mertensii Valenciennes, 1840
  • Cheilinus godeffroyi Günther, 1872
  • Cheilinus rostratus Cartier, 1874

sú mì (danh pháp hai phần: Cheilinus undulatus), còn gọi là cá Bàng chài vân sóng, Hoàng đế, là một loài cá lớn nhất thuộc họ Cá bàng chài. Loài cá này mà chủ yếu tìm thấy trong các rạn san hô trong khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Chúng được gọi là cá Hoàng đế vì vẻ đẹp và độ lớn của cơ thể chúng.[2]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cá Sú mì là loài lớn nhất trong họ Cá bàng chài (Labridae), kích thước của con đực có thể dài đến 2m, trong khi con cái hiếm khi vượt quá chiều dài 1m. Loài cá này rất dễ nhận biết bởi hình dáng bên ngoài như đôi môi dày, mọng và một cái gù trên đầu, gù trở nên nổi bật hơn khi nó lớn tuổi hơn. Cá đực có màu xanh lá cây tươi sáng, màu xanh tím, hoặc xanh đậm. Cá chưa thành niên và cá cái có màu đỏ cam ở thân trên, và màu đỏ cam hoặc màu trắng phần thân dưới [3][4]. Loài cá rạn đặc biệt này thích sống đơn lẻ nhưng con trưởng thành thỉnh thoảng thấy xuất hiện trong các nhóm nhỏ.[5][6][7]\

Sinh cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Cá phân bố ở bờ biển Đông Châu Phi và biển Đỏ, cũng như khu vực Ấn Độ Dương cho tới biển Thái Bình Dương. Con non và trưởng thành được tìm thấy ở những sinh cảnh khác nhau, con non xuất hiện tại vùng cát nông giáp với rạn san hô, trong khi con trưởng thành chủ yếu được tìm thấy ở ngoài khơi, và ở độ sâu hơn trong rạn san hô, thường ở bên ngoài sườn dốc rạn san hô và trong các kênh nhưng cũng có thể được tìm thấy ở môi trường bên ngoài.[2][8]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Cá sú mì là loại cá biển có tuổi thọ rất cao, nhưng tỷ lệ sinh sản thấp. Cá thành thục từ 4 đến sáu 6 tuổi, và con cái được biết sống đến khoảng 50 năm, trong khi con đực sống ngắn hơn khoảng 45 năm. Cá Sú mì là loài có thể thay đổi giới tính, một số cá thể có thể trở thành con đực vào khoảng 9 tuổi. Các yếu tố kiểm soát thời gian của sự thay đổi giới tính chưa được biết đến. Con trưởng thành di chuyển xuống cuối dòng chảy của rạn và quần tụ để sinh sản tại thời điểm nhất định của năm.[9] Loại cá này không di chuyển xa cho sự tụ tập đẻ trứng.[10] Cá sú mì sản sinh ra loại trứng và ấu trùng biển khơi mà cuối cùng định cư trên hoặc gần rạn san hô. Trứng có đường kính là 0.65 mm và hình cầu, không có sắc tố.

Sinh thái học[sửa | sửa mã nguồn]

Cá Sú mì ở Biển Đỏ

Là loàiăn thịt, Cá sú mì săn mồi chủ yếu là nhóm động vật không xương sống như thân mềm (đặc biệt chân bụng và chân rìu), cầu gai, sao biển gai, đuôi rắnđộng vật có xương sống như . Một nửa thực đơn là nhóm cầu gai và chân rìu ẩn dưới cát, các nhà khoa học tin rằng một trong hai lựa chọn: săn mồi kiểu xúc giống như cá đuối, hoặc bản thân chúng đào bới và sục sạo khắp nơi để tìm con mồi. Thường thì chúng sống đơn độc với cá bàng chài Đỏ khác, chúng có thể đập vỡ nhím biển (echinoids) bằng cách tha mồi tới một tảng đá thích hợp rồi quăng quật bằng cách di chuyển đầu qua lại nhanh chóng.[11]

Bởi vì cá sú mì là một trong số ít các loài thiên địch của Sao biển gai ăn san hô (Acanthaster planci) [12] nên chúng có đóng góp vào sự kiểm soát số lượng của loài gây hại đến san hô này. Đánh bắt quá mức Ốc tù và cùng với cá Sú mì là một trong những nguyên nhân gây bùng phát sao biển gai [13].

Axit hóa đại dương là trở thành một mối đe dọa lớn với rạn san hô bởi vì nó giảm tỷ lệ vôi hóa của san hô. Dưới ảnh hưởng tăng nồng độ củaCO2 trong khí quyển làm giảm pH nước biển gây nên axit hóa, và do đó giảm các hoạt động tạo rạn của san hô. Con trưởng thành thường được tìm thấy trên sườn dốc rạn san hô, sườn kênh, và đầm trong độ sâu từ 1 đến 100m. Từ sự mất vôi hóa san hô này, các loài bị đe dọa có thể một ngày nào đó cũng bị mất đi ngôi nhà của mình.[14]

Ấu trùng loài này tích cực chọn nhánh san hô cứng hoặc mềm hay cỏ biển để định cư. Con non có xu hướng thích trú ẩn ở nơi bí mật như trong khu vực của dày đặc nhánh san hô, tảo biển rậm rạp, hoặc trong đám cỏ biển, trong khi con lớn thích chiếm hữu lãnh thổ nở nơi sinh cảnh mở trên các bờ rìa của rạn, kênh và đèo rạn. Các loài thông thường thấy sự bắt cặp đơn độc, hay nhóm từ hai tới bảy cá thể.[15]

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Một chú cá Sú mì đang bơi lội ở Great Barrier Reef

Loài này được liệt kê là Nguy cấp trong danh sách Đỏ và phụ Lục II của CITES.[16]. Tại Việt Nam cũng đã nằm trong danh mục Các loài thủy sinh quý hiếm cần bảo tồn cấp độ "Có nguy cơ tuyệt chủng rất lớn - EN [17]. Số lượng Cá sú mì đã suy giảm do một số mối đe dọa, bao gồm:

  1. Khai thác làm thực phẩm với cường độ cao ở khu vực lõi Đông Nam Á
  2. Sử dụng chất độc và mìn để đánh cá.
  3. Mất môi trường và suy thoái
  4. Sử dụng làm thực phẩm cho địa phương và khách du lịch
  5. Xuất khẩu cá con làm cảnh.
  6. Thiếu phối hợp giữa các quốc gia và quản lý khu vực
  7. Không đủ kiến thức về sinh học loài
  8. Bất hợp pháp, không được kiểm soát, và không được báo cáo các hoạt động đánh bắt

Như trên, một trong những nguyên nhân suy giảm số lượng là khai thác thiếu bền vững phục vụ cho buôn bán thực phẩm sống. Sabah (nằm trên Đảo Borneo) là một nguồn chính cung cấp cá sú mì. Ngành công nghiệp đánh cá đặc biệt quan trọng tại đây, bởi vì tỷ lệ đói nghèo cao. Việc xuất khẩu của cá này ra khỏi Sabah đã dẫn đến sự suy giảm khoảng 99% số lượng tại đây. Trong nỗ lực bảo vệ loài này đã có một lệnh cấm xuất khẩu ra ngoài. Tuy nhiên, điều này không ngăn chặn tình trạng bất hợp pháp, không được báo cáo. Việc bảo vệ bởi tổ chức CITES được tiến hành ở khu vực này, bởi Bộ thủy sản của Malaysia, Sabah nơi cấp giấy phép để điều chỉnh các hoạt động đánh cá.[3]

Cá sú mì được coi là một loài bảo trợ. Điều này có nghĩa là có nhiều loài khác mà sinh cùng với loài này có nhiều phạm vi nhỏ hơn. Sự bảo tồn của môi trường sống của một loài bảo trợ như Cá sú mì sẽ không chỉ có lợi cho loài này mà còn cho tất cả các loài khác cùng khu vực sống. Các khái niệm của một loài bảo trợ có thể dẫn đến một sự hiểu biết của việc bảo vệ các loài bị đe dọa.[18]

Loài này có lịch sử bị đánh bắt thương mại ở miền bắc nước Úc, nhưng đã được bảo vệ ở Queensland từ năm 2003 và Tây Úc từ năm 1998.

Ở Tỉnh Quảng Đông, miền nam lục địa Trung quốc, giấy phép được yêu cầu trong việc mua bán của loài này; Indonesia cho phép đánh bắt chỉ để nghiên cứu, nuôi trồng, và cấp giấy phép đánh bắt thủ công; Maldives lập lệnh cấm xuất khẩu năm 1995. Papua New Guinea cấm xuất khẩu của cá có chiều dài hơn 2 ft (65 cm) tổng chiều dài, và Niue đã cấm tất cả các loại hình đánh bắt cho loài này.

Tại Đài Loan,người đánh cá có thể bị tù và phạt tiền rất nặng [19].

Tình trạng khai thác bất hợp pháp không được kiểm soát (IUU)[sửa | sửa mã nguồn]

Philippines, Indonesia và SabahMalaysia là ba nơi xuất khẩu lớn nhất của cá sú mì. Cá có giá bán cao nhất ở châu Á, đặc biệt là nếu bị bắt sống, và nó là một món ăn ở những nơi như Malaysia. Bất hợp pháp không được kiểm soát và không được báo cáo (IUU) các hoạt động đã được xác định là yếu tố đóng góp để sự thất bại của những nỗ lực bảo tồn. Mặc dù CITES đã đặt một lệnh cấm xuất khẩu cá Sú mì, vẫn còn nhiều trường hợp của buôn lậu cá tại biên giới Malaysia–Philippines.

Bốn chính yếu tố đã dẫn đến sự tồn tại của IUU:

  1. Thiếu năng lực: Đó là một thiếu sót thủ tục chính thức và các công việc lực lượng mà theo dõi hoạt động đánh bắt và thi hành các quy định.
  2. Thiếu sót không khuyến khích: Ngư dân không có nhiều lựa chọn để thay thế cho cá Sú mì, do giá trị của nó. Cũng lệnh trừng phạt cho hoạt động bất hợp pháp này không khắc nghiệt đủ để ngăn cản đánh bắt của loài này.
  3. Trách nhiệm yếu kém của hệ thống: Đó là một đường dài của những người tham gia vào buôn bán của loài này, làm cho nó khó khăn để theo dõi nguồn của nó. Cũng như việc nhập khẩu, và người tiêu dùng, bất chấp sự tham gia của họ, không thể chịu trách nhiệm cho việc bất hợp pháp xuất khẩu của Cá sú mì.
  4. Vắng mặt trong điều khiển thương mại: Có khoảng trống trong quy định đánh bắt nội địa, sở hữu, và buôn bán cá là không bị hạn chế — ngư dân có thể khai thác bất hợp pháp nguồn lợi hoặc có ý định cho bất hợp pháp buôn bán, nhưng nếu họ đang trong Malaysia và có giấy phép thích hợp cho phép họ không thể bị truy tố.

Sản lượng xuất khẩu hàng đầu của cá Sú mì ở Malaysia đã ở Sandakan, Papar, và Tawua. Cá có thể được mua từ $45.30 tới $69.43, trong khi những giá bán lẻ dao động từ US$60.38 tới $120.36.[20][21]

Thực trạng Cá sú mì tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cá Sú mì tại Việt Nam theo ghi nhận chỉ phân bố tại một số địa điểm như Trường Sa, Côn Đảo, Nha Trang. Do giá thịt cao (có thể lên tới 2 triệu/kg) và trọng lượng cá rất lớn nên cá bị săn bắt rất nhiều, phổ biến nhất là tại các khu vực Nha Trang, trong thực đơn ở các nhà hàng hải sản nổi tiếng coi món này là món câu khách với những lời quảng cáo rất hấp dẫn. Theo các nhà khoa học, nếu tình trạng này còn tiếp diễn, hậu quả gây mất cân bằng sinh thái rạn san hô, đặc biệt là Bùng phát sao biển gai ăn san hô như ở Nha Trang, sự diệt vong của cá Sú mì chỉ còn là vấn đề thời gian. Mặc dù việc khai thác, buôn bán các động vật trong sách đỏ là phạm luật nhưng để xử lý triệt để tình trạng này cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của các cơ quan chức năng, bên cạnh đó cộng đồng cần ý thức cao hơn trong việc tiêu thụ, sử dụng các sản phẩm từ các loài quý hiếm.

Trong khi đó, ở các quốc gia lân cận, việc săn bắt cá có thể phạm tội hình sự, điển hình là vừa qua ngày 17/03/2017 tại Đài Loan đã xảy ra một vụ giết loài cá này trên đảo Green Island thuộc huyện Đài Đông. Chú cá rất nổi tiếng trong cộng đồng lặn biển có chiều dài 2m và nặng 53 kg đã bị bắn chỉ để thỏa mãn niềm vui, hậu quả là người săn cá bị bắt và xử tù 6 tháng giam và 3 năm án treo cùng với số tiền phạt lên đến gần 10.000$ (200 triệu VND) [19]. Được biết hiện tại chỉ còn lại 6 cá thể cá Hoàng đế trên hòn đảo này. Đây cũng là lời cảnh tỉnh cho những người coi thường pháp luật, chỉ vì lợi ích cá nhân mà đẩy một loài vật tuyệt đẹp trước nguy cơ tuyệt chủng.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm loài nguy cấp tương tự Cá mó đầu gù

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Russell, B. (Grouper & Wrasse Specialist Group) 2004. Cheilinus undulatus. In: IUCN 2013. IUCN Red List of Threatened Species. Version 2013.1. <www.iucnredlist.org>. Downloaded on ngày 2 tháng 11 năm 2013.
  2. ^ a ă Sluka, Robert (tháng 11 năm 2005). “Humphead Wrasse (Cheilinus Undulatus) Abundance and Size Structure Among Coral Reef Habitats in Maldives”. Atoll Research Bulletin 538: 192–198. doi:10.5479/si.00775630.538.189. 
  3. ^ a ă [Chateau, Wantiez (2007). "Site fidelity and activity patterns of a humphead wrasse, Cheilinus undulatus (Labridae), as determined by acoustic telemetry". Environmental Biology of Fishes. Springer Netherlands. 80: 503–508. doi:10.1007/s10641-006-9149-6 “Chateau, Wantiez (2007). "Site fidelity and activity patterns of a humphead wrasse, Cheilinus undulatus (Labridae), as determined by acoustic telemetry". Environmental Biology of Fishes. Springer Netherlands. 80: 503–508. doi:10.1007/s10641-006-9149-6”].  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “:0” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  4. ^ [Weng, Pederson, Del Raye, Caselle, Gray (2015). "Umbrella species in marine systems: using the endangered humphead wrasse to conserve coral reefs". Inter-Research Endangered Species Research Weng, Pederson, Del Raye, Caselle, Gray (2015). "Umbrella species in marine systems: using the endangered humphead wrasse to conserve coral reefs". Inter-Research Endangered Species Research].  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  5. ^ Chateau, Wantiez (2007). “Site fidelity and activity patterns of a humphead wrasse, Cheilinus undulatus (Labridae), as determined by acoustic telemetry”. Environmental Biology of Fishes (Springer Netherlands) 80: 503–508. doi:10.1007/s10641-006-9149-6. 
  6. ^ Weng, Pederson, Del Raye, Caselle, Gray (2015). “Umbrella species in marine systems: using the endangered humphead wrasse to conserve coral reefs”. Inter-Research Endangered Species Research. 
  7. ^ Sadovy, Kulbicki, Labrosse, Letourneur, Lokani, Donaldson (tháng 9 năm 2003). “The Humphead Wrasse, Cheilinus undulatus: synopsis of a threatened and poorly known giant coral reef fish” (PDF). Reviews in Fish Biology and Fisheries 13: 327–364. doi:10.1023/B:RFBF.0000033122.90679.97. 
  8. ^ Tupper, Mark (2007). “Identification of nursery habitats for commercially valuable humphead wrasse Cheilinus undulatus and large groupers (Pisces: Serranidae) in Palau”. Marine Ecology Progress Series 332: 189–199. doi:10.3354/meps332189. 
  9. ^ Sadovy, Y et. al. (2003). “Synopsis of a Threatened and Poorly Known Giant Coral Reef Fish”. Fish Biology and Fisheries 13 (3): 327–364. doi:10.1023/b:rfbf.0000033122.90679.97. 
  10. ^ Chateau, Olivier; Lantiez, Laurent (2007). “Site fidelity and activity patterns of a Humphead wrasse, Cheilinus undulatus (Labridae), as determined by acoustic telemetry”. Environmental Biology of Fishes 80 (4): 503–508. doi:10.1007/s10641-006-9149-6. 
  11. ^ Randall, J.E et. al. (1978). “Food habits of the giant humphead wrasse, Cheilinus undulatus (Labridae)” (PDF). Environmental Biology of Fishes 3: 235–238. doi:10.1007/bf00691948. 
  12. ^ [Randall, John E.; Head, Stephen M.; Sanders, Adrian P. L. (1978). "Food habits of the giant humphead wrasse, Cheilinus undulatus (Labridae)". Environmental Biology of Fishes. 3 (2): 235–8. doi:10.1007/BF00691948 “Randall, John E.; Head, Stephen M.; Sanders, Adrian P. L. (1978). "Food habits of the giant humphead wrasse, Cheilinus undulatus (Labridae)". Environmental Biology of Fishes. 3 (2): 235–8. doi:10.1007/BF00691948”]. 
  13. ^ [Kayal, Mohsen, et al. "Predator crown-of-thorns starfish (Acanthaster planci) outbreak, mass mortality of corals, and cascading effects on reef fish and benthic communities." PloS one 7.10 (2012): e47363. “Kayal, Mohsen, et al. "Predator crown-of-thorns starfish (Acanthaster planci) outbreak, mass mortality of corals, and cascading effects on reef fish and benthic communities." PloS one 7.10 (2012): e47363.”]. 
  14. ^ Anthony, K.R.N et. al. (2008). “Ocean Acidification causes bleaching and productivity loss in coral reef builders”. PNAS 105: 17442–17446. PMC 2580748. PMID 18988740. doi:10.1073/pnas.0804478105. 
  15. ^ Tupper, Mark (5 tháng 3 năm 2007). “Identification of nursery habitats for commercially valuable humphead wrasse Cheilinus undulatus and large groupers (Pisces: Serranidae) in Palau”. Marine Ecology Progress Series 332: 189–199. doi:10.3354/meps332189. 
  16. ^ Dorenbosch. et. al., M (2006). “Seagrass beds and mangroves as potential nurseries for the threatened Indo-Pacific humphead wrasse, Cheilinus undulatusand Caribbean rainbow parrotfish, Scarus guacamaia” (PDF). Biological Conservation 129: 277–282. doi:10.1016/j.biocon.2005.10.032. 
  17. ^ “Danh mục thủy sản quý hiếm BNNPTNT” (PDF). 
  18. ^ Weng, K. C et. al. (2015). “Umbrella species in marine systems: using the endangered humpback wrasse to conserve coral reefs”. Endangered Species Research 27: 251–263. doi:10.3354/esr00663. 
  19. ^ a ă “http://www.taiwannews.com.tw/en/news/3119101”. 
  20. ^ Chen, J.N.S; Justin, S.R. (2009). “Regulating the humphead wrasse (cheilinus undulatus) trade in Sabah, Malaysia”. Ambio. 
  21. ^ Fenner, Douglas (15 tháng 7 năm 2014). “Fishing down the largest coral reef fish species”. Marine Pollution Bulletin 84 (1–2): 9–16. doi:10.1016/j.marpolbul.2014.04.049. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]