Bách Tế Pháp Vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bách Tế Pháp Vương
Hangul법왕
Hanja法王
Romaja quốc ngữBeop-wang
McCune–ReischauerPŏp-wang
Hán-ViệtPháp Vương
Bách Tế Pháp Vương
Hangul[선 hay 효순] lỗi: {{lang}}: văn bản có thẻ đánh dấu in xiên (trợ giúp)
Hanja[宣 hay 孝順] lỗi: {{lang}}: văn bản có thẻ đánh dấu in xiên (trợ giúp)
Romaja quốc ngữSeon hay Hyosun
McCune–ReischauerSŏn hay Hyosun
Hán-ViệtTuyên hay Hiếu Thuận

Pháp Vương (mất 600, trị vì 599–600) là vị quốc vương thứ 29 của Bách Tế, một trong Tam Quốc Triều Tiên. Ông là con trai cả của Huệ Vương. Ông trị vì trong giai đoạn Bách Tế suy giảm sức mạnh, mất khu vực thung lũng sông Hán về tay kình địch Tân La. Tên hiệu của ông cho thấy sự nhấn mạnh đối với đức tin Phật giáo.[1]

Triều đại ngắn nủi của Pháp Vương có một điều đáng nhớ là việc ông cấm sát sinh, bao gồm cả săn bắn và làm thịt. Ông ra lệnh thả chim ưng và đốt cháy tất cả các công cụ đánh bắt cá và săn bắn. Theo Tam quốc di sự (Samguk Yusa), lệnh cấm này được ban hành vào tháng 12 âm lịch của năm 599.

Ông cũng bắt đầu cho xây dựng Mireuksa (Di Lặc tự), công trình được hoàn thành vào thời người kế vị ông, Vũ Vương.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]