Bước tới nội dung

Bán đảo Banks

43°45′N 172°51′Đ / 43,75°N 172,85°Đ / -43.750; 172.850
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bán đảo Banks
Te Pātaka o Rākaihautū
Bán đảo Banks và Christchurch trong không ảnh vệ tinh của NASA năm 2021
Bán đảo Banks và Christchurch trong không ảnh vệ tinh của NASA năm 2021
Bán đảo Banks trên bản đồ New Zealand
Bán đảo Banks
Bán đảo Banks
Coordinates: 43°45′N 172°51′Đ / 43,75°N 172,85°Đ / -43.750; 172.850
Vị tríĐảo Nam, New Zealand
Vùng nước ngoài khơiThái Bình Dương
Tuổi15 triệu năm
Hình thành bởiPhun trào núi lửa
Diện tích
 • Tổng cộng1.200 km2 (460 dặm vuông Anh)
Điểm cao nhất919 mét (3.015 ft)
(Núi Herbert / Te Ahu Patiki)
Mô hình trong Bảo tàng Vịnh Okains
Bán đảo Banks, với cảng Lytteltonowr bên phải và hồ Ellesmere ở nền phía sau
Tàu thuyền châu Âu, có thể là Pháp, ở Akaroa vào đầu thế kỷ thứ 19
Cảng Akaroa, Bán đảo Banks với mây bão phía trên (Tháng 12 năm 2020)

Bán đảo Banks (tiếng Māori: Te Pātaka o Rākaihautū) là một bán đảo đá nằm ở bờ biển phía đông của Đảo Nam, New Zealand, được hình thành bởi hai ngọn núi lửa hiện đã ngừng hoạt động. Bán đảo có diện tích khoảng 1.200 kilômét vuông (450 dặm vuông Anh).[1] Bán đảo bao gồm hai cảng nước sâu lớn – Cảng LytteltonCảng Akaroa – cùng nhiều vũng và vịnh. Thành phố lớn nhất Đảo Nam, Christchurch, nằm ngay phía bắc bán đảo, do Hội đồng Thành phố Christchurch quản lý. Các khu định cư chính là LytteltonAkaroa. Nền kinh tế của bán đảo dựa trên nghề cá, nông nghiệp và du lịch.

Người Māori là những người đầu tiên đặt chân lên và định cư trên bán đảo. Dân số vốn đã thưa thớt lại càng giảm sút sau các cuộc thảm sát của những nhóm cướp bóc người Māori ở Đảo Bắc vào năm 1830 và 1832. Năm 1770, nhà thám hiểm James Cook trở thành người châu Âu đầu tiên tìm thấy bán đảo, ông đã nhầm tưởng nó là một hòn đảo, đặt tên theo nhà thực vật học trên tàu của mình là Joseph Banks. Từ những năm 1830, những thuyền săn cá voi châu Âu đã thiết lập các trạm trên bờ ở một số vịnh và bến cảng. Sự quan tâm của châu Âu đối với việc định cư lâu dài ở khu vực này đã phát triển vào những năm 1830, và vào năm 1840, một khu định cư nhỏ của người Pháp đã được thành lập tại Cảng Akaroa, tồn tại trong khoảng mười năm. Vào cuối những năm 1840, Hiệp hội Canterbury ở Anh đã chọn Đảo Nam trung tâm làm địa điểm cho một thuộc địa kiểu mẫu của Anh với Christchurch là thủ đô. Bán đảo Banks không phải là một phần của việc mua đất ban đầu cho thuộc địa, nhưng Cảng Cooper (nay được gọi là Cảng Lyttelton) sẽ là cảng và điểm nhập cảnh của thuộc địa này. 800 người định cư đầu tiên đã đến đây vào tháng 12 năm 1850.

Lyttelton là cảng hoạt động của Christchurch. Các hoạt động giải trí và bảo vệ môi trường rất phổ biến trên bán đảo này.

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình

[sửa | sửa mã nguồn]

Bán đảo Banks nằm ở giữa đường bờ biển phía đông của Đảo Nam, New Zealand. Bờ biển ở đây thấp và tạo thành một phần mở rộng của Đồng bằng Canterbury, nhưng Bán đảo Banks nhô ra biển như một dãy núi gồ ghề phân định hai vịnh lớn: Vịnh Canterbury ở phía tây nam và Vịnh Pegasus ở phía bắc. Chính xác hơn, bán đảo được bao quanh bởi cửa sông Avon và Heathcote ở phía bắc, nơi thành phố Christchurch trải dài, và về phía tây là Hồ Ellesmere/Te Waihora.

Bán đảo trông như một khối đồi hình bầu dục với đường bờ biển được chia thành nhiều mũi đất, bán đảo và bến cảng tự nhiên, bao gồm hai bến cảng chính: Cảng Akaroa, mở về phía nam, và Cảng Lyttelton, mở về phía bắc. Đỉnh cao nhất là Núi Herbert, cao 919 mét so với mực nước biển. Hồ lớn nhất trên bán đảo là Hồ Forsyth, thực chất là một thung lũng bị ngập nước, lối ra biển bị chặn bởi bờ Hồ Ellesmere.

Khí hậu

[sửa | sửa mã nguồn]

Bán đảo Banks có khí hậu đại dương.

Động thực vật

[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây phần lớn là rừng, giờ đây những ngọn đồi trên bán đảo phần lớn được bao phủ bởi đồng cỏ để chăn thả gia súc.

Địa chất

[sửa | sửa mã nguồn]

Những ngọn đồi của Bán đảo Banks là tàn tích bị xói mòn của hai núi lửa tầng hợp nhất hình thành từ thế Miocen. Ban đầu, khối núi lửa này nhô lên từ đại dương và vươn lên độ cao khoảng 1.500 mét, sau đó được kết nối vào Đảo Nam khi Đồng bằng Canterbury được hình thành do sự lắng đọng vật chất từ quá trình xói mòn của dãy Nam Alps. Hai miệng núi lửa chính của nó, vốn bị xói mòn, đã tạo nên hai bến cảng tự nhiên chính của bán đảo: Cảng Akaroa và Cảng Lyttelton. Hoàng thổ sau đó lắng đọng ở sườn phía bắc và phía tây của bán đảo.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng một thiên niên kỷ trước, người Polynesia đã định cư tại New Zealand, bao gồm cả Bán đảo Banks, nơi có một số bộ lạc Māori sinh sống. Nhiều năm sau, vào năm 1770, James Cook đã phát hiện ra bán đảo này, và đặt tên theo nhà thực vật học Joseph Banks. Vào thời điểm đó, ông tin rằng bán đảo này thực chất là một hòn đảo, một sai lầm dễ hiểu khi xét đến phần lớn diện tích xung quanh là biển.

Đến năm 1830, người Anh đã dành nhiều thời gian hơn ở New Zealand, và việc trao đổi hiện vật diễn ra thuận lợi. Hai yếu tố này đã giết chết nhiều người Māori: thứ nhất, họ không chống lại được các bệnh tật từ châu Âu, và thứ hai, súng hỏa mai do những người định cư mang đến gây ra nhiều thương vong hơn vũ khí truyền thống trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc.

Trong những năm 1830, một số tàu săn cá voi người Pháp đã hoạt động gần New Zealand. Các bãi săn cá voi rất lý tưởng, vì vậy thuyền trưởng Jean-François Langlois đã nảy ra ý tưởng thành lập một thuộc địa của Pháp tại New Zealand để tránh phải đi nửa vòng trái đất để khai thác dầu cá voi. Vào tháng 8 năm 1838, ông đã mua một phần lớn Bán đảo Banks từ người Māori với giá 1.000 franc và trả cho họ khoản thanh toán ban đầu là 150 franc dưới hình thức trao đổi hàng hóa, phần còn lại sẽ được thanh toán khi lãnh thổ thực sự được tiếp quản. Thuyền trưởng trở về Pháp và sắp xếp một chuyến thám hiểm thuộc địa đến Đảo Nam của New Zealand.

Mãi đến năm 1840, một nhóm nhỏ người Pháp từ Paris, do Charles-François Lavaud dẫn đầu,[3][4] mới trở về New Zealand để thành lập một thuộc địa. Tuy nhiên, người Anh đã nắm chủ quyền đối với Đảo Bắc và với Hiệp ước Waitangi, họ dễ dàng chiếm được Đảo Nam. Điều này xảy ra vài tuần trước khi người Pháp trở về.

Thay vì gần như toàn bộ Bán đảo Banks (và thậm chí toàn bộ Đảo Nam như họ đã hy vọng về lâu dài), những người định cư do Pháp gửi đến (bao gồm cả người Đức) chỉ có thể định cư tại hai ngôi làng ở Vịnh Paka Ariki (sau này là Vịnh French): Akaroa và Takamatua sau này. Năm 1846, François Lecomte tiếp quản vị trí từ Đại úy Lavaud.

Hai khu định cư của người Pháp này không tồn tại lâu và nhanh chóng nằm dưới sự kiểm soát của người Anh, nhưng một số người Kiwi (cư dân New Zealand) là hậu duệ của những người định cư người Pháp đã định cư ở đó.

Nông nghiệp từ lâu đã là hoạt động kinh tế chính trên Bán đảo Banks. Nghề nuôi trai được thực hiện tại một số địa điểm ngoài khơi. Sau các trận động đất lớn năm 2010 và 2011 ảnh hưởng đến Christchurch và Lyttelton (cảng phục vụ Christchurch), các tàu du lịch đã phải chuyển hướng đến Cảng Akaroa.

Đa dạng sinh học và bảo tồn

[sửa | sửa mã nguồn]

Các ước tính cho thấy rừng nguyên sinh từng bao phủ 98% bán đảo. Người Māori và người định cư châu Âu đã lần lượt khai phá rừng và cho đến ngày nay chỉ còn lại chưa đến 2% diện tích rừng, mặc dù một số hoạt động tái trồng rừng đã bắt đầu. Các thung lũng được che chở và tương đối ấm áp là giới hạn cực nam của một số loài thực vật bản địa, bao gồm Alectryon excelsus, Rhopalostylis sapida, Corynocarpus laevigatus, Piper excelsum, Dodonaea viscosaPassiflora tetrandra.[5] Người định cư châu Âu đã trồng nhiều loại cây Anh, đáng chú ý là cây óc chó.[cần dẫn nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Gair, Harry (1966). "Banks Peninsula". Trong McLintock, A. H. (biên tập). An Encyclopaedia of New Zealand. Ministry for Culture and Heritage / Te Manatū Taonga. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2024.
  2. ^ "CliFlo – National Climate Database : Le Bons Bay Aws". NIWA. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2024.
  3. ^ "Colonisation - Les colons français - La Nouvelle-Zélande dans l'Histoire". history-nz.org. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2025.
  4. ^ Taillemite, Étienne (1982). "Charles-François Lavaud, de la Nouvelle-Zélande à Tahiti". Journal de la Société des Océanistes. Quyển 38 số 74. tr. 93–97. doi:10.3406/jso.1982.2501.
  5. ^ Laing, R. M.; Blackwell, E. W. (1906). Plants of New Zealand. Whitcombe and Tombs. tr. 268.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]