Bánh mì kẹp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bánh mì sandwich
Salmon Cream Cheese Sandwiches.jpg
Bánh mì sandwich cá hồi kem phô mai
Chi tiết
Thành phần chính bánh mì sandwich, xà lách, thịt, phô mai, nước sốt
Bánh mì club
Làm bánh mì dưa chuột
Bánh mì kẹp thịt kiểu Sài gòn

Bánh mì kẹp, còn gọi là bánh kẹp, bánh xăng-đuých hay xăng-uých (phiên âm từ tiếng Anh: sandwich), là đồ ăn thường có ít nhất hai lát bánh mì và những lớp kẹp, nhất là thịt, đồ biển, hay phó mát cùng với rau hay xà lách. Có thể dùng bánh mì không, hay có thể quét , dầu, mù tạc hay đồ gia vị khác.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thức bánh mì kẹp đầu tiên được cho là do hiền nhân Do Thái cổ Hillel, người ta cho rằng ông kẹp thịt cừu và những rau đắng (maror) vào bánh matzo (hay bánh bằng phẳng không men) để ăn mừng lễ Vượt Qua. Đồ kẹp vào giữa hai miếng matzo nhắc những người Do Thái về việc phải xây dựng những tòa nhà Ai Cập. Vì thế, người La Mã cổ gọi món ăn này là cibus Hilleli, hay bữa nhỏ của Hillel.[1]

Vào thời Trung cổ, những mảng bánh mì cũ lớn gọi là trencher được dùng làm đĩa. Sau buổi ăn, miếng bánh mì bẩn này được đưa cho chó hay người ăn xin để ăn, hay được ăn bởi người đầu tiên. Những trencher dẫn đến bánh xăng-đuých trần (open-face sandwich).[2]

Trong nhiều ngôn ngữ châu Âu, bánh mì kẹp có tên giống sandwich (tiếng Anh) hay sándwich (tiếng Tây Ban Nha). Ở Cận Đông, vùng Địa Trung Hải, và những vùng châu Âu khác, có những món ăn thịt, trái cây, phó mát, và đồ gia vị kẹp vào giữa bánh mì hay bánh ngọt trước khi tên này hiện ra lâu. Tên này xuất hiện lần đầu tiên trong nhật ký của Edward Gibbon, tác giả gọi "những miếng thịt nguội" là sandwich. Nó được đặt tên theo John Montagu, Bá tước Sandwich thứ 4, người quý tộc Anh vào thế kỷ 18, nhưng ông không phải là người sáng tạo đồ ăn này hay người làm nó phổ biến. Người ta cho rằng Ngài Sandwich thích loại đồ ăn này vì nó để ông tiếp tục đánh bài, nhất là cribbage, khi ăn, trong khi không phải làm dơ các bài vì ăn thịt bằng tay không.

Vào thế kỷ 18, bánh mì kẹp được làm phổ biến bởi Montagu và vẫn phần lớn là đồ ăn Tây Ban Nha. Tuy nó mới đầu được coi là để đàn ông ăn khi đánh bài và uống rượi ban đêm, nhưng bánh mì kẹp từ từ bắt đầu xuất hiện ở những trường hợp lịch sự là một bữa ăn trễ ban đêm của những người giàu có. Bánh mì kẹp trở thành đồ ăn rất phổ biến ở Tây Ban Nha và Anh vào thế kỷ 19, khi có công nghiệp nặng và giai cấp công nhân cần bữa ăn nhanh, rẻ, và dễ mang theo.[3]

Vào lúc này, bánh mì kẹp bắt đầu được ăn ngoài châu Âu. Ở Hoa Kỳ, bánh mì kẹp mới đầu được quảng cáo là một buổi tối phức tập. Vào thế kỷ 20, khi bánh mì trở thành nền của đồ ăn Mỹ, bánh mì kẹp trở thành bữa ăn nhanh, rẻ, và phổ biến như đã có ở vùng Địa Trung Hải.[3]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Varro Atacinus viết rằng "cibus Hilleli est illa caesna quo panis sive caseum sive carnem sepit buturoque saepe operitur."
  2. ^ “What's Cooking America”. Sandwiches, History of Sandwiches. 2 tháng 2, 2007. 
  3. ^ a ă Solomon H. Katz biên tập (2003). “Sandwich”. Encyclopedia of Food and Culture. Thành phố New York: Charles Scribner's Sons. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]