Bát chính đạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Định nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Bát chánh đạo (zh. bāzhèngdào 八正道, tiếng Ấn Độ: ariyo aṭṭhaṅgiko maggotiếng Phạn: āryāṣṭāṅgamārga་), còn gọi là Bát Thánh đạo, Bát chi Thánh đạo, Bát Thánh đạo phần, Bát trực hành, Bát đạo hành, Bát chánh, Bát đạo, Bát chi, Bát pháp, Bát lộ.[1]

Bát chánh đạo là con đường tám nhánh để giải thoát khỏi Khổ (sa. duḥkha). "Bát Thánh đạo là giáo lý căn bản của Ðạo đế (trong Tứ đế) gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Ðây là con đường độc nhất đi vào giải thoát hết thảy các lậu hoặc, đạt được quả vị Alahán.

Một trong những hình vẽ biểu tượng của Phật giáo: 1 bánh xe và 8 nan hoa, tượng trưng cho tám con đường trong bát chính đạo

Hành giả có thể đi vào giải thoát bằng ngõ Thất giác chi, Tứ niệm xứ... nhưng tất cả những ngõ đường ấy đều được bao hàm trong Bát chánh đạo. Nếu tâm của hành giả thực hành các pháp môn ngoại đạo, ở ngoài sự vận dụng tám chi phần Bát chánh đạo, thì quyết định hành giả không thể chứng đắc các quả vị của Sa-môn,không thể đi vào giải thoát toàn vẹn. Hành giả cần thực hành đúng Bát chánh đạo như lời dạy của Thế Tôn ở Sư Tử Hống Tiểu Kinh (Trung Bộ Kinh I)"[2].

Từ Bát chánh đạo xuất hiện phổ biến hơn Bát chính đạo. "Chính" hay "chánh" chỉ là cách phiên âm khác nhau của cùng một từ "正" mà thôi.

Lòng Tôn Kính Phật và các bậc Thánh giúp hành giả tu hành bền vững[sửa | sửa mã nguồn]

Điểm đầu của quá trình tu hành được tính từ thời điểm hành giả phát tâm hướng về mục tiêu giác ngộ, mục tiêu vô ngã. Điểm cuối của quá trình tu hành là thời điểm hành giả chứng đắc được Tam minh Lục thông, thành tựu đạo quả A-la-hán. Để bền vững đi qua một quá trình tu hành, hành giả cần có một tinh thần trách nhiệm, nỗ lực vượt qua khó khăn. Nhưng để có quả báo là một tinh thần bền bỉ như vậy, hành giả cần phải có nhân lành quý báu, đó là lòng Tôn Kính Phật và các bậc Thánh.

Trong các bài Kinh, khi được hỏi về nguyên nhân của một vị chứng đắc được đạo quả, Đức Phật luôn nói rằng, vì vị đó đã từng cung kính cúng dường một vị Phật, một vị Bích Chi Phật, một vị Thánh. Chính vì nhân lành là tâm cung kính cúng dường một vị Thánh như thế, nên quả báo là một nội tâm khao khát tu hành, muốn hướng về con đường giác ngộ. Một bậc Thánh giải thoát, với nội tâm an tĩnh, một ngày sống của các Ngài đem lại lợi ích cho vô số chúng sinh, nên quả báo cho những ai được cúng dường các Ngài thật lớn lao.

Thời đại hiện nay, chúng ta khó tìm kiếm được một bậc Thánh, bởi các vị Thánh luôn tu hành trong tâm thế kín đáo, khiêm tốn và thiện căn của chúng ta quá mỏng ít để nhận ra các Ngài. Nếu các Ngài có giáo hóa chúng sinh, cũng rất cẩn thận mà hướng lòng yêu kính của chúng sinh dâng lên Đức Phật chứ không vì lợi ích cho các Ngài. Bởi vậy, để có thể xây dựng được nội tâm khát khao tu hành, một công đức căn bản mà người đệ tử Phật cần xây dựng là hạnh Lễ kính Phật.

"Kính lạy Đấng Vô Thượng

Người là cành hoa sen

Nơi biển đời nhân thế

Người là nguồn thương yêu

Bao dung khắp muôn loài

Là mặt trời ban mai

Đem ánh sáng cho đời

Dựng lại niềm tin sâu

Nơi tăm tối u sầu ..."

Trích "Tôn Kính Phật" [3]


"Như biển cả âm vang dào dạt sóng

Rất nhiệm mầu con khởi những ngôn từ

Từ nghìn xưa và mãi đến nghìn sau

Ngợi ca Phật biển muôn trùng công đức"


"Phật là Đấng chí tôn chí kính

Con đời đời xin đảnh lễ Người

Từ bi trí tuệ tuyệt vời

Nhờ thần uy Phật, con rời cõi mê


Lời Phật dạy, đường về cõi giác

Là Mặt trời soi sáng thế gian

Lòng con tha thiết muôn vàn

Xin tìm theo mãi bước chân Phật Đà"

Trích " Sám cầu siêu độ chúng sinh địa ngục" [4]

Ngoài ra, chúng ta vẫn xin Đức Phật gia hộ cho mình tìm được bậc thầy chân tu, dạy đúng lời Phật, để chúng ta có thể ứng dụng được vào cuộc sống và tu hành, để chúng ta có thể đem điều thiện đến với cuộc đời. Với những lời cầu nguyện chân chính và hướng về mục tiêu lợi ích cho mình và mọi người mà chúng ta phát nguyện đều đặn, Đức Phật sẽ gia hộ chúng ta sẽ được vị thầy chân tu để học hỏi. Được cung kính cúng dường những vị thầy như thế, chúng ta sẽ có nhân lành tốt đẹp, để có thể tu hành bền vững trong vô lượng kiếp sắp tới.

Tính thực tế của Bát chính đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bát chánh đạo được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tuyên thuyết, với trình tự vừa cao siêu vừa thực tế. Nếu trước Đức Phật, có một vị Thánh giác ngộ tuyên thuyết, vị đó sẽ tuyên thuyết đúng như vậy. Nếu sau Đức Phật, có một vị Thánh giác ngộ tuyên thuyết, vị đó sẽ tuyên thuyết đúng như vậy. Bởi chân lý chỉ có một.

Tính thực tế của Bát chánh đạo nằm ở cách sắp xếp các chi phần chánh đạo.

Các chi phần đều đúng với Luật Nhân Quả(Quả báo).

Ví dụ, một người thực hành một phần nhỏ Chánh tư duy, tức là nghĩ những ngôn từ hòa nhã, thì người này mới nói ra được những lời nói dễ chịu, tức là xuất hiện một phần nhỏ Chánh ngữ. Nhân là những suy nghĩ về ngôn từ hòa nhã, quả là những lời nói dễ chịu.

Ví dụ, một người thực hành một phần nhỏ Chánh ngữ, là nói những lời động viên người xung quanh làm Từ thiện, sau một thời gian, người này dễ dàng đóng góp vật chất để làm từ thiện, tức là xuất hiện một phần nhỏ Chánh nghiệp. Nhân là những lời động viên người xung quanh làm từ thiện, quả là thực hành làm từ thiện.

Ví dụ, người thanh niên da màu Mamoudou Gassama thực hành một việc thiện là cứu em bé sắp ngã từ tầng 4(Chánh Nghiệp). Anh nhận được sự cảm kích và biết ơn của người dân Pháp. Thủ tướng Pháp Emmanuel Macron trao tặng anh quốc tịch Pháp và một công việc tại Sở cứu hỏa (Chánh mạng). Nhân là hành động cứu một em bé gặp nguy hiểm, một trong các kết quả là anh được tặng một công việc phù hợp. (Ví dụ này để độc giả dễ hình dung về luật Nhân Quả trong Bát Chánh Đạo, bởi sẽ có một số bạn đưa ra ý kiến hành động anh thanh niên là thiện nghiệp chứ không phải Chánh nghiệp.)

Năm chi phần chánh đạo đầu tiên đều dẫn đến việc làm Phước. Phước tạo ra những điều kiện hoàn cảnh thuận lợi, giúp cho hành giả tiến hành tu tập ổn định và bền vững. Đặc biệt là Chánh mạng. Chánh mạng là nghề nghiệp mưu sinh chân chính. Không có nguồn vật chất ổn định từ Chánh mạng, hành giả không thể tu hành bền vững, tiến tu và thành tựu các kết quả. Chính vì điều này mà chúng ta biết ơn trí tuệ vĩ đại của Đức Phật.

Ba chi phần chánh đạo sau chỉ được thực hiện trọn vẹn khi các chi phần đầu tiên đã sung mãn. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta chỉ thực hiện từng phần riêng rẽ. Bát chánh đạo là một khối thống nhất, để hành giả có thể tu hành chân chính.

Ví dụ, hành giả dù trong ngày làm từ thiện ( Chánh Nghiệp), tối về vẫn cần có thời khóa công phu ngồi thiền(Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định).

Ví dụ, hành giả được học phương pháp tu tập thiền định ( Chánh Kiến), nhưng phải có sự thực hành thiền định (Chánh tinh tấn), thì mới có kinh nghiệm tu hành.

Sự thực hành của các chi phần chánh đạo trước dẫn đến sự phát triển của những chi phần chánh đạo sau. Đồng thời, chi phần chánh đạo sau là bổ trợ cho các chi phần chánh đạo trước.

Sự bổ trợ làm trau dồi sự tu hành của hành giả.

Ví dụ, một người chưa thực hành bố thí, mà khuyên người khác bố thí, thì lời nói sẽ đơn giản như: "khi thực hành bố thí, thì sẽ được quả báo giàu sang". Một thời gian sau, người này có cơ hội và đã thực hành bố thí. Người này thấy sự khó khăn, xót xa khi bố thí ( cân nhắc số tiền vừa đủ để giúp đỡ mà ít tổn hại đến cuộc sống gia đình hiện tại), (người bố thí sử dụng đúng mục đích hay sai mục đích),... Sau này, khi khuyên người khác bố thí, người này sẽ nói trong sự cẩn trọng, cân nhắc, bởi lời nói có bao gồm kinh nghiệm thực hành. Ở đây, Chánh ngữ làm phát sinh Chánh nghiệp, và Chánh nghiệp bổ sung cho Chánh ngữ.

Ví dụ, một người thực hành đều đặn công phu thiền định, nhận thức được sự khó khăn, vất vả của thân và tâm (Chánh tinh tấn). Người này thực hành những biện pháp để hóa giải những chướng ngại đó, và thấy hiệu quả. Người này có kinh nghiệm thực hành, đồng thời củng cố những kiến thức đã học (Chánh kiến) bằng trải nghiệm thực tế.

Nội dung chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bát chánh đạo có 8 chánh:

1. Chánh Kiến (Sammādiṭṭhi):

Kiến là hiểu biết, trí tuệ. Vì vậy Chánh Kiến là quan điểm tu hành chân chính. Để có quan điểm tu hành chân chính, hành giả phải có kiến thức về đời sống và Đạo Phật. Bao gồm rất nhiều những kiến thức, đạo lý mọi mặt trong đời sống, trong sự tu hành, trong quá trình giáo hóa của các vị Bồ Tát.

Những nền tảng cơ bản nhất của chánh kiến căn cứ vào lời dạy của Đức Phật: Luật nhân Quả, Tứ diệu đế(Tứ thánh đế), Vô Ngã, Bát chánh đạo, Mười hai nhân duyên, Tứ chánh cần, Ngũ căn ngũ lực, Tứ niệm xứ, Thiền định, Tứ vô lượng tâm, Không chấp công,...

Giáo lý căn bản, là nền tảng cho quá trình tu hành là Luật Nhân Quả.

Mục tiêu của sự tu hành là hướng về Vô Ngã.

2. Chánh Tư Duy (Sammāsaṅkappa):

Là tư duy, suy nghĩ chân chính. Để thực hành Chánh tư duy, cần thực hành những yếu tố:

Đối với những suy nghĩ bất thiện, phải quyết chí diệt trừ, biết hối hận ăn năn, biết cẩn thận lần khác.

Đối với những suy nghĩ thiện, phải chủ động suy nghĩ, chủ động tác ý để phát triển.

- Tư duy mong muốn thoát ra khỏi ái dục, biết noi gương những bậc Thánh thanh tịnh.

- Tư duy không làm khổ mình khổ người, không làm hại mình hại người [5]

- Tư duy thương yêu tới tất cả chúng sanh, không còn tham - sân - si.

- Tâm tôn kính Tam Bảo.

...

Ngoài ra, tùy vào hoàn cảnh cuộc sống, hành giả còn có những tác ý cụ thể, đối chiếu với đạo lý để lựa chọn những tác ý phù hợp.

3. Chánh Ngữ (Sammāvācā):

Ngữ là lời nói. Như vậy Chánh Ngữ là lời nói chân chính. Cần thực hành những yếu tố:

- Không nói dối, mà nói lời chân thật.

- Không nói lời chia rẽ, mà nói lời hoà hợp,giúp đoàn kết mọi người.

- Không nói lời thô tục, mà nói lời nhã nhặn, làm người với người đều cảm thấy an lạc.

- Không nói lời vô ích (gây tốn thời gian của người khác), mà nói lời hữu ích.

...

Mội số những nội dung hành giả tu hành cần ưu tiên sử dụng trong đời sống để tạo phước:

- Hay nói về nhân quả, về nhiều kiếp luân hồi, cho người biết tin sâu, mà làm lành lánh dữ.

- Thường ngợi ca Phật Pháp, kiên nhẫn độ từng người, về với bóng từ bi, để rời xa đau khổ.

...

4. Chánh Nghiệp (Sammākammanta):

Nghiệp là hành vi, hành động. Như vậy Chánh Nghiệp chân chính là hành vi, hành động chân chính. Bao gồm:

- Tuân theo ngũ giới (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không say nghiện).

- Làm những việc lợi ích, vị tha dựa trên sự yêu thương dành cho chúng sinh để tạo nên những nghiệp tốt, tạo ra công đức lành.

- Không làm những việc gây đau khổ cho chúng sinh, nghiêm khắc ngăn kẻ xấu làm sai.

- Hành động tôn kính, lễ (lạy) Tam Bảo, sám hối những lỗi lầm của bản thân, phát nguyện sửa lỗi và thực hiện những điều công đức và đạo đức.

....

5. Chánh Mạng (Sammā-ājīva):

Mạng là sự sống, đời sống. Như vậy Chánh Mạng có nghĩa là có đời sống chân chánh:

- Sống một cách chân chánh bằng nghề nghiệp lương thiện, chính đáng không bóc lột, xâm hại đến lợi ích chung của người khác.

- Dựa trên Luật Nhân Quả, nhờ công đức tạo ra từ Chánh Nghiệp mà sẽ được nghề nghiệp tốt.

- Nghề nghiệp tốt phải gồm đù 2 yếu tố: tạo phước từng ngày và có thời gian tu tập.

6. Chánh Tinh Tấn (Sammāvāyāma): Tinh tấn chân chính là:

- Tinh-tấn ngăn ác pháp chưa sinh, không phát sinh.

- Tinh-tấn diệt ác pháp đã phát sinh.

- Tinh-tấn làm cho thiện pháp chưa sinh, được phát sinh.

- Tinh-tấn làm tăng trưởng thiện pháp đã phát sinh.

7. Chánh Niệm (Sammāsati): là niệm chân-chính có 4 pháp là pháp-hành tứ-niệm-xứ:

- Thân niệm-xứ: Thân là đối-tượng của chánh-niệm, trí-tuệ tỉnh-giác.

- Thọ niệm-xứ: Thọ là đối-tượng của chánh-niệm, trí-tuệ tỉnh-giác.

- Tâm niệm-xứ: Tâm là đối-tượng của chánh-niệm, trí-tuệ tỉnh-giác.

- Pháp niệm-xứ: Pháp là đối-tượng của chánh-niệm, trí-tuệ tỉnh-giác.

8. Chánh Định (Sammāsamādhi): Định chân-chính là định-tâm trong các bậc thiền siêu-tam-giới có Niết-bàn là đối-tượng.

Bát-chánh-đạo hợp đủ 8 chánh chỉ đồng sinh trong 8 hoặc 40 tâm siêu-tam-giới có Niết-bàn là đối-tượng mà thôi, bởi vì trong bát-chánh-đạo có ba chánh: chánh- ngữ, chánh-nghiệp và chánh-mạng là ba chế-ngự tâm-sở thuộc loại niyata-ekatocetasika: ba tâm-sở cố định chỉ đồng sinh trong 8 hoặc 40 siêu-tam-giới-tâm có Niết- bàn là đối-tượng mà thôi.

Tuy nhiên, bát-chánh-đạo có 8 chánh đó là 8 tâm-sở:

- Chánh-kiến đó là trí-tuệ tâm-sở.

- Chánh-tư-duy đó là hướng-tâm tâm-sở.

- Chánh-ngữ đó là chánh-ngữ tâm-sở.

- Chánh-nghiệp đó là chánh-nghiệp tâm-sở.

- Chánh-mạng đó là chánh-mạng tâm-sở.

- Chánh-tinh-tấn đó là tinh-tấn tâm-sở.

- Chánh-niệm đó là niệm tâm-sở.

- Chánh-định đó là nhất-tâm tâm-sở.

Tám tâm-sở này không thể đồng sinh với dục-giới-tâm, sắc-giới-tâm, vô-sắc-giới-tâm, bởi vì trong bát chánh đạocó 3 chánh: chánh-ngữ, chánh-nghiệp và chánh-mạng là 3 chế-ngự tâm-sở này thuộc về loại aniyata-yogīcetasika: bất-định tâm-sở gọi là nānākadāci: mỗi tâm-sở này sinh riêng rẽ và không nhất định trong 8 dục-giới đại-thiện-tâm, bởi vì mỗi tâm và tâm-sở này có mỗi đối-tượng khác nhau.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “佛光大辭典, mục từ tra cứu: 八正道”.
  2. ^ “Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, Chương Hai: Pháp Bảo, Tiết IX: Bát thánh đạo”. line feed character trong |title= tại ký tự số 60 (trợ giúp)
  3. ^ https://www.youtube.com/watch?v=Bj-tzjVOeCs
  4. ^ https://thientonphatquang.com/sam-hoi-cho-chung-sinh-noi-dia-nguc-tt-thich-chan-quang/
  5. ^ https://www.youtube.com/watch?v=G9T6ApSG0DE)
  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: nhà xuất bản Phật Quang, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Tam Bảo, Tỳ Khưu Hộ pháp, Nhà xuất bản 2019
  • Kinh Bát Chánh Đạo, Những Bài Kinh Tụng Hằng Ngày - TT. Thích Chân Quang, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, 2008
  • Kinh Tôn Kính Phật, Những Bài Kinh Tụng Hằng Ngày - TT. Thích Chân Quang, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo
  • Sám cầu siêu độ chúng sinh nơi địa nguc, Những Bài Kinh Tụng Hằng Ngày - TT. Thích Chân Quang, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo
  • Chánh kiến- TT. Thích Chân Quang - Youtube "Sen Hồng"

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán

Thực hành